Yahoo! 360° News | Beta Feedback
Start your own Yahoo! 360° page

Nguyen Xuan Dien

Top Page  |  Blog  |  Friends

Add

Nguyen Xuan Dien is not connected to you in Yahoo! 360°.

Last updated Wed Oct 22, 2008 Member since April 2008

Tag Cloud

NSND Cải lương Phùng Há, 99 tuổi, biệt trần gian--> Click here Reply

1 - 5 of 667 First | < Prev | Next > | Last

Nguyễn Xuân Diện blog Full Post View | List View

Vien Han Nom

Lá thư của hai bạn gái VN và TQ
Lá thư của hai bạn gái VN và TQ magnify

Thư trao đổi của hai nữ công dân Việt Nam và Trung Quốc thể hiện cái nhìn của hai người trẻ về quan hệ phức tạp giữa hai nước.

Cô Ailien Tran, Nghiên cứu sinh Fulbright 2009, có cảm xúc sau khi đọc bài viết trên BBC của Quách Tương Uy liên quan cuộc chiến biên giới 1979.

Đáp lại, nữ sinh Trung Quốc đang học ở London bày tỏ suy nghĩ của cô về chiến tranh và hòa bình.

Thư của Ailien Tran:

Khi cuộc chiến tranh biên giới bùng nổ, tôi còn là trẻ con học tiểu học. Cha tôi vẫn còn trong trại tù cải tạo, và gia đình tôi bị đuổi ra sống trước mái hiên nhà cũ của mình. Là một đứa trẻ thơ, tôi bị bối rối giữa hai lối suy nghĩ và lời nói hoàn toàn trái ngược giữa nhà trường và mọi người trong xóm.

Lúc đó còn quá sớm để người Sài Gòn quên đi những ký ức của sự phồn thịnh trước năm 1975. Người ta không quan tâm mấy đến tin tức từ biên giới phía Bắc, và họ cũng chẳng cảm động bao nhiêu về sự hy sinh của bộ đội miền Bắc. Họ vẫn còn vương vấn về sự kiện lịch sử đã thay đổi cuộc đời của họ cách đó 4 năm.

Từ sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975, đối với người miền Nam, bộ đội miền Bắc không hẳn là "anh hùng trong lòng" họ và miền Bắc không hoàn toàn là “quê hương trong trái tim” họ. Thế nhưng, càng ngày càng nhiều những câu chuyện và hình ảnh của người dân miền Bắc chạy nạn về phía Nam để tránh sự tàn sát của quân Trung Quốc, người miền Nam dần dần và thậm chí mau chóng cảm nhận tình nghĩa đồng bào cốt nhục của những sự mất mác mà người miền Bắc phải gánh chịu.

Người miền Nam bắt đầu hưởng ứng lời kêu gọi yêu nước của chính quyền mới. Thế là một lần nữa tâm hồn và ý chí Việt Nam lại thu về một mối, đó là ủng hộ và bảo vệ những gì Việt Nam, bất kể Nam hay Bắc, và chống lại những gì ngoại bang, bất kể là Trung Quốc, Pháp, hay Mỹ.

Là trẻ con tuổi tiểu học, tôi không biết lựa chọn gì hơn là nghe theo mọi người quanh mình. Tôi đã từng phẫn nộ và căm thù lính Trung Quốc dựa trên sự miêu tả của chính quyền. Và rồi tôi lớn lên, những ký ức về cuộc chiến tranh biên giới trôi vào quên lãng. Tôi cùng gia đình sang định cư ở Hoa Kỳ, và chật vật với cuộc sống mới. Tôi học hành và làm việc với rất nhiều sắc tộc khác nhau, trong đó có người đến từ Trung Quốc.

Tôi làm bạn và trở nên thân thiết với rất nhiều loại người khác nhau, ngay cả người Trung Quốc. Chưa bao giờ tôi nhớ hoặc nghĩ về cuộc chiến biên giới. Suốt ba mươi năm qua, chính quyền Việt Nam lẫn Trung Quốc đều không nhắc đến cuộc chiến này một cách chính thức hay tưởng niệm một cách long trọng nhưng gần đây, đôi khi cũng có những lời bàn tán đây đó làm tôi suy tư.

Tôi đọc “Ký ức của những người bị quên lãng” của Quách Tương Uy đăng tải bởi BBC Vietnamese, và nhận thấy một sự thay đổi trong tâm hồn.

Hình ảnh người chiến binh Trung Quốc, đã từng làm tôi căm phẫn năm nào, không còn đáng ghét như xưa. Tôi nhìn tấm ảnh chụp những chiến binh rất trẻ tuổi trong đồng phục quân đội mà xót xa trong lòng.

Họ còn quá trẻ, lẽ ra họ phải được sống sung sướng cùng gia đình, tại sao họ phải làm lính và bỏ mạng tại Việt Nam hoặc sống sót với thân thể không lành lặn và nguyên vẹn, để rồi họ mau chóng bị lãng quên sau những tiếng tung hô của trận đánh cuối cùng. Trong bức ảnh này, những chiến binh Trung Quốc có vẻ rất tự hào và ngạo nghễ trên đường tiến đánh và giết hại người Việt Nam. Lẽ ra, tôi phải căm phẫn khi nhìn bức ảnh này.

Song, tôi lại thấy thương cảm cho họ. Tại sao? Vì họ cũng là con người thôi. Họ cũng yêu đời và thèm được sống như anh trai tôi hay cháu trai tôi vậy. Tôi còn nhớ khi còn bé thơ, tôi thường căm thù hình ảnh những người lính Pháp, Mỹ và Trung Quốc cạnh bên những thường dân Việt Nam không “một tấc sắt” trong tay. Nhưng ngày nay, sau khi được sống và làm việc với họ trên đất Hoa Kỳ, tôi nhận ra rằng họ cũng chỉ là những thanh niên rất trẻ, ngây thơ, yêu đời và đầy khát vọng hạnh phúc như những thanh niên Việt Nam mà tôi từng gặp cả đời tôi.

Quách Tương Uy viết về tâm tư tình cảm của những chiến binh Trung Quốc trong cuộc chiến tranh biên giới rất hồn nhiên làm tôi rất cảm động.

Những chiến binh Trung Quốc này cũng ngây thơ và đầy tình cảm. Nếu họ không bị nhồi sọ hoặc cưỡng ép đi ra chiến trận, có lẽ họ cũng chẳng bao giờ làm hại ai, đừng nói gì đến giết hại người Việt Nam ở Lạng Sơn.

Tôi hy vọng rằng sẽ không còn chiến binh Trung Quốc bỏ mạng ở Việt Nam dù đó là “sự hy sinh anh hùng". Chẳng có người Việt Nam nào muốn chiến tranh hoặc gây hấn với Trung Quốc.

Thanh niên Trung Quốc có quyền được sống hạnh phúc và theo đuổi những ước mơ giản dị của một đời người, đó là tình yêu, gia đình và sự sung túc. Họ không cần làm anh hùng trên chiến trận Việt Nam, để rồi mang lại đau thương cho gia đình và bản thân họ, và cuối cùng là bị quên lãng một cách tàn nhẫn bởi những người đã từng hun đúc ý chí anh hùng ngắn ngủi và đáng sợ ấy.

Thư của Quách Tương Uy

Thân gửi người bạn Việt Nam,

Cảm ơn suy nghĩ của bạn. Tôi rất xúc động vì những lời bạn viết trong thư, đó cũng chính là xúc cảm của tôi về cuộc chiến và hòa bình.

Tôi hiện là sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế, thành ra chiến tranh và hòa bình là chủ đề tôi luôn quan tâm, nhất là chiến tranh. Chúng ta nói về chiến tranh thường xuyên quá đến nỗi ta gần như tin rằng hòa bình chỉ là khoảng lặng tạm thời giữa hai cuộc chiến.

Trong lớp học, chúng tôi thảo luận về tranh chấp ở Biển Đông, hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc và cán cân quyền lực ở Đông Nam Á. Chúng tôi kết luận thật dễ dàng rằng xung đột tất yếu xảy ra vì quyền lợi các nhà nước đòi hỏi phải có giao tranh.

Ngoài lớp học, tôi có trông thấy những bức hình trên mạng BBC về hạm đội Trung Quốc. Tôi hiểu nỗi lo âu sâu sắc của các nước láng giềng Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.

Nhưng tôi vẫn tin, thực lòng tin rằng, chúng ta vừa có thể là những người thực tiễn nhưng cũng tin vào hòa bình, vì hòa bình trong thực tế luôn là một lựa chọn, và một ngày kia nó sẽ là lựa chọn duy nhất.

Bạn có lý khi nói về những con người cụ thể trong chiến cuộc. Từ “quân đội” thật lạnh lùng, đáng sợ, thể hiện bộ máy nhà nước có khả năng giết người. Nhưng khi chúng ta nhìn sâu hơn, ta sẽ nhận ra mỗi người lính là một cá thể đầy ý nghĩa. Anh ta có thể là chồng, người tình, anh trai, con trai; và người lính đó cũng là cha tôi phục vụ trong quân đội Trung Quốc.

Nếu ở nơi chiến trường có ai đó ngần ngừ khi ra trận vì không muốn đánh mất vĩnh viễn người thân, thì điều đó cũng chẳng có gì là ích kỷ. Điều này không dính dáng gì đến lòng yêu nước, mà chúng ta đang bàn đến lòng nhân văn.

Khi còn bé, sống trong những câu chuyện của cha kể về những bóng ma Việt Nam xa lạ, tôi nghĩ mình sẽ đồng ý với việc giết người để bảo vệ “chúng tôi”. Nhưng sự thực không phải thế, các bạn không phải là bóng ma; những người lính Việt Nam cũng giống như cha tôi. Biên giới ngăn cách – cũng như kẻ thù - là do nhà nước tạo ra.

Vì thế, khi tôi đọc bình phẩm khiêu khích và kiêu ngạo của một số bạn Trung Quốc trên mạng, tưởng tượng các máy bay, tàu chiến khống chế Biển Đông, tôi cho rằng các bạn ấy thật ngây thơ về bạo lực và chiến tranh.

Quân đội trong tư cách bộ máy nhà nước quả có thể giết người. Nhưng chúng ta, những con người, thì không.

Trước thềm xung đột, nếu chúng ta có thể tự hỏi ai sẽ chịu đau khổ, chúng ta sẽ biết chiến tranh không phải là cách dễ dàng hơn để giải quyết.

Người bạn của tôi ạ, đó là vì sao, giống như bạn, tôi tin vào hòa bình.

Nguồn: BBC Việt ngữ.

Ảnh: Ailien Trần

.

Tags: nhậtký, bạnbè, việt-trung
Wednesday July 1, 2009 - 11:15pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments
Huỳnh Phúc Điền đã trở về cát bụi
Huỳnh Phúc Điền đã trở về cát bụi magnify

TPO - Đạo diễn Huỳnh Phúc Điền đã ra đi vào 2h45’ sáng nay, ngày 30/6/2009 tại nhà riêng trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, P.Bến Nghé, Q1, TP.HCM.

3h30’ sáng, chuông điện thoại tôi reo, nhạc sĩ Hà Quang Minh trầm lặng: “Anh Điền đi rồi em ạ. Anh vừa đi cùng anh Dũng Khùng, Nguyễn Chanh và Thanh Thảo về, về đến chung cư thì nghe mọi người nói”.

Cuộc điện thoại rơi vào câm lặng. Cả tôi và nhạc sĩ Hà Quang Minh không biết phải nói gì nữa vào lúc này.

Tôi bấm số điện thoại thân quen …6529 của anh, số mà từ những ngày anh nằm bệnh viện Chợ Rẫy đã không thể liên lạc vì anh yếu nên không nghe máy nhiều. Nhưng tự nhiên hôm nay chuông lại đổ, sau 3 – 4 lần gì đó, bỗng đầu dây bên kia có tiếng thưa máy.

Thanh Ngân, em gái đạo diễn Huỳnh Phúc Điền nói trong nước mắt: “Anh ấy vừa đi rồi chị ạ. Vừa đưa về nhà được ít phút thì anh ấy mất. Tang lễ sẽ được tổ chức tại nhà riêng. Cả nhà đang chuẩn bị làm đám tang cho anh”.

Vậy là anh đã đi. Thoát khỏi những đau đớn bởi xạ trị và những đợt truyền hoá chất, thoát khỏi những xót xa dằn vặt khi biết bao chương trình còn đang dang dở, và bỏ lại sau lưng người vợ trẻ và bé Chò, bé Mi, những đứa con còn chưa hiểu hết nỗi đau mất đi người ba thân yêu, bỏ lại sau lưng những giọt nước mắt của bạn bè và người hâm mộ. Anh đi.

Con người anh, thuần khiết và giản đơn. Lúc nào cũng cười hiền lành nhưng khi làm việc thì khó tính đến mức nếu ai chưa hiểu sẽ không thích. Anh cẩn thận đến từng tiểu tiết nhỏ nhất, bởi với anh, mọi khâu trong một show diễn đều phải hoàn hảo hết mức có thể.

Vào blog, vẫn là “Đi Mũi Né làm show”, vẫn là “Trở về”. Mọi thứ vẫn hiện hữu như anh vẫn đang hiện hữu. Dù bệnh nặng vẫn không thôi khát khao sống và sáng tạo. Những ngày cuối trên giường bệnh, tiên đoán trước được sức khoẻ của mình, anh đã viết kịch bản cho đám tang của mình.

Anh muốn Đinh Anh Dũng sẽ làm tổng đạo diễn, Nguyễn Quang Dũng đạo diễn, nhạc sĩ Lê Quang biên tập âm nhạc. Mong muốn cuối cùng của Huỳnh Phúc Điền là có một đêm nhạc thật ấm áp, mộc mạc vào đêm cuối trước khi đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Anh muốn được ra đi trong âm nhạc - thế giới mà anh đã gắn bó một cách tình cờ mà như định mệnh.

Sau thành công với tour diễn xuyên Việt của Mỹ Tâm "Sóng đa tần" năm 2008, anh từng nói, chương trình "Duyên dáng Việt Nam" (dự kiến sẽ diễn ra đầu năm 2010) sẽ lấy ý tưởng là "Trở về".

Đúng rồi, chỉ là trở về thôi mà. Anh hãy đi về bình an anh nhé. Để những cơn đau không còn có thể hành hạ anh nữa, để những mệt mỏi đời thường chìm khuất cùng cát bụi, vậy đi.

Xin mượn câu nói của một người hâm mộ anh trên blog vào 3h sáng đế kết lại bài viết khó khăn này: “Anh bay về bên ấy bình yên anh nhé”.

Ngọc Đinh

Nguồn: Tiền Phong.

Tags: báotang, nhậtký, nghệsỹ
Tuesday June 30, 2009 - 08:15am (ICT) Permanent Link | 0 Comments
Vua quan nhà Nguyễn với quần đảo Hoàng Sa
ĐỊA DANH HOÀNG SA TRONG CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN
HẢI ĐƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh

Trong Châu bản triều Nguyễn, từ năm 1830 – 1847 thuộc các triều Minh Mệnh (1820 - 1840) và Thiệu Trị (1841 - 1847) hiện còn 11 văn bản (7 tấu, 2 phúc tấu, 2 dụ) đề cập trực tiếp đến địa danh Hoàng Sa, một quần đảo lớn thuộc địa phận nước ta. Chúng tôi xin trích dịch, giới thiệu coi như tài liệu tham khảo.

1. Hai bản Tấu của Thủ ngự Đà Nẵng ngày 27.6 Minh Mệnh 11 (1830): Thuyền buôn của tài phú Pháp Ê-đoa, thuyền trưởng Đô-ô-chi-ly, phái viên Lê Quang Quỳnh cùng thuỷ thủ đoàn, ngày 20 rời cảng Đà Nẵng đi Lữ - tống (Lữ - Tống Lucon) buôn bán. Giờ dần ngày 27, Ê-đoa và 11 thuỷ thủ đi trên chiếc sam bản lớn cập cảng nói rằng: Canh 2 đêm 21, ở phía tây Hoàng Sa (xứ Cát Vàng) thuyền đụng đá ngầm bị ngập nước. Thuyền trưởng và phái viên còn đi sau. Cảng đã phái thuyền đem theo nước uống đi cứu hộ, giờ ngọ đã gặp và đưa họ về cảng. (Tập Châu bản Minh Mệnh 43, trang 57, 58).

2. Dụ ngày 18.7 Minh Mệnh 16 (1835): Chuyến đi Hoàng Sa lần này, công vụ hoàn tất. Riêng Cai đội Phạm Văn nguyên trên đường công hồi đã trì hoãn, có Chỉ giao Bộ Công trị tội. Nay phạt 80 trượng cho phục chức Cai đội. Các tên Giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ họa đồ Hoàng Sa chưa chu tất, phạt mỗi tên 80 trượng. Các tên hướng dẫn hải trình Bõ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh thưởng mỗi tên một tiểu “Phi Long ngân tiền”. Binh thợ, dân phu hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi theo thưởng mỗi tên 1 quan tiền (tập Châu bản Minh Mệnh 54. trang 92).

3. Phúc Tấu của Bộ Công ngày 12.2 Minh Mệnh 17 (1836): Châu phê (Vua phê): “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ “Năm Bính Thân (Minh Mệnh 17), họ tên Cai đội Thuỷ quân phụng mệnh đi đo đạc cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu”. Đã phái Thuỷ quân Chánh độ trưởng Phạm Hữu Nhựt giờ Mão hôm qua đi Ô - thuyền rời Thuận An vào Quảng Ngãi quản suất việc vãng thám Hoàng Sa kỳ nầy. Bộ đã cho làm đủ số cột mốc gởi gấp vào Quảng Ngãi. Châu cải (Vua sửa lại): “Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thi ngay, giao cho tên ấy nhận biện”. Châu phê: “Thuyền nào đi tới đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu”. (Tập Châu bản Minh Mệnh 55, trang 336).

4. Tấu của Bộ Công ngày 13.7 năm Minh Mệnh 18 (1837): Lần đi Hoàng Sa nầy trở về, trừ bọn Kinh phái Thuỷ sư Suất đội Phạm Văn Biện, tỉnh phải hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, đà công Lưu Đức Trực khởi hành chậm trễ đã bị xử phạt. Nên chăng chiếu lệ thưởng tặng cho binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi theo, xin đợi Chỉ. (Tập Châu bản Minh Mệnh 57, trang 244).

5. Dụ ngày 13.7 năm Minh Mệnh 18 (1837): Trước có phải Thuỷ sư, Giám thành, binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi Hoàng Sa đo đạc, cắm mốc, vẽ họa đồ, trừ bọn Phạm Văn Biện gồm 4 tên can tội đã có Chỉ phạt trượng. Còn binh dân đi theo lặn lội biển cả cực khổ, thưởng mỗi tên binh định một tháng lương, dân phu mỗi tên 2 quan tiền. (Tập Châu bản Minh Mệnh 57, trang 245).

6. Tấu của Bộ Hộ ngày 11.7 năm Minh Mệnh 17 (1837): Xin 5 ngày cứu xét tấu sách của Quảng Ngãi xin khai tiêu (thanh toán) việc chi cấp lương tiền cho dân phu công vụ Hoàng Sa (Tập Châu bản Minh Mệnh 57, tr 211).

7. Tấu của Quảng Ngãi ngày 19.7 Minh Mệnh 19 (1838): Xin chiếu lệ miễn thuế năm nay cho 2 chiếc “Bổn chinh thuyền” đã đưa binh dân đến Hoàng Sa đo đạc giáp vòng từ hạ tuần tháng 3 tới hạ tuần tháng 6, hoàn tất công vụ nay đã trở về. (Tập Châu bản Minh Mệnh 64, tr.146).

8. Tấu của Bộ Công ngày 2.4 nhuận, Minh Mệnh 19 (1838): Việc phái vãng để đo đạc giáp vòng Hoàng Sa kỳ năm nay, ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng vì gió đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được, xin tấu trình. (Tập Châu bản Minh Mệnh 68, trang 21).

9. Phúc tấu của Bộ Công ngày 26.1 Thiệu Trị 7 (1847): Tháng 6 Thiệu Trị 5 (1845) phụng Sắc về việc đình hoãn vãng thám Hoàng Sa. Nay phúc tấu đợi Chỉ có nên vãng thám Hoàng Sa kỳ này hay không? Châu phê: “Đình hoãn”. (Tập Châu bản Thiệu Trị 42, trang 83).

10. Tấu của Bộ Công ngày 28.12 Thiệu Trị 7 (1847): Hàng năm, vào mùa xuân theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà cho thành thục đường đi lối lại. Năm 1845 có Chỉ đình hoãn kỳ vãng thám 1846. Vì công vụ bận rộn, năm nay cũng xin được đình hoãn. Châu phê: “Đình hoãn”. (Tập Châu bản thiệu Trị 51, trang 125).

Mười một bản tấu dụ ở hai triều Minh Mệnh và Thiệu Trị từ 1830 đến 1847 là những tư liệu lịch sử thành văn rất quan trọng, giới thiệu trên Thông báo Hán Nôm 2000 chúng tôi muốn cung cấp thêm tư liệu trong công tác lưu trữ nghiên cứu Hán Nôm, góp phần nhỏ bé trong công cuộc bảo vệ giữ gìn hải phận lãnh thổ của dân tộc.

Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.130-133

Lời bình của Nguyễn Xuân Diện: Dưới hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị các vua tôi nhà Nguyễn luôn thể hiện trách nhiệm cao trước tổ tiên và trăm họ về chủ quyền của Đại Nam (tên nước ta lúc đó) tại quần đảo Hoàng Sa. Không chỉ nói suông, vua và quan binh nhà Nguyễn đã thể hiện rõ trách nhiệm của mình qua việc luôn có báo cáo tình hình lên cấp trên, cắm mốc lưu dấu khẳng định chủ quyền, thưởng phạt công minh, dựa vào sức dân, lòng dân để giữ biển đảo.

Bộ Công (tương đương với vài bộ ngày nay cộng lại) hàng năm vẫn phái binh thuyền (thuyền có trang bị vũ khí) đến Hoàng Sa, vì bộ này biết rõ rằng Hoàng Sa "thuộc cương hải nước nhà".

Vua Minh Mạng chính tự tay dùng bút phê vào từng tờ tấu của các bộ ngành, thể hiện sự quan tâm trực tiếp, sâu sắc, có trách nhiệm và thường xuyên của nhà lãnh đạo cao nhất nước đối với vấn đề Hoàng Sa và chủ quyền đất nước.

Trước đó, vào năm 1816, đích thân Vua Gia Long - Hoàng đế Đại Nam đã đi thuyền tới quân đảo Hoàng Sa, cắm cờ trên đảo, khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của nước Đại Nam tại đây.

Bác đơn khởi kiện Thủ tướng của ông Cù Huy Hà Vũ
Chánh án TAND TP Hà Nội vừa có quyết định không xem xét giải quyết đơn khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ đối với Quyết định phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô xít của Thủ tướng Chính phủ.
Quyết định ra ngày 19/6 do Chánh án Nguyễn Sơn ký, ghi rõ, TAND TP Hà Nội trả lại đơn khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật vì:

Thứ nhất, Tòa án không có căn cứ pháp lý để thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện này.

Thứ hai, Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt được ban hành hoàn toàn đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Khoáng sản, Luật Quốc phòng, Luật Di sản văn hóa, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quy chế làm việc của Chính phủ và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Thứ ba, quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến bô xít là chủ trương của Đảng và Nhà nước. Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg đã được ban hành trên cơ sở này.

Vì những lý do trên, TAND TP Hà Nội quyết định giữ nguyên thông báo về việc trả lại đơn khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ; Không xem xét giải quyết đơn khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ đối với Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.

Trước đó, ngày 11/6/2009, ông Cù Huy Hà Vũ có đơn kiện tại TAND TP Hà Nội đối với Quyết định trên của Thủ tướng Chính phủ.

Ngày 15/6/2009, TAND TP Hà Nội ra Thông báo số 19/TB-TA trả lại đơn khởi kiện của ông Cù Huy Hà Vũ vì đơn khởi kiện không có căn cứ pháp lý.

Ngày 17/6/2009, ông Cù Huy Hà Vũ có đơn khiếu nại gửi Chánh án TAND TP Hà Nội về Thông báo trả lại đơn khởi kiện nói trên.

Quyết định này cũng nói rõ đây là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với vụ việc này.

Theo Cổng TTĐT Chính phủ

Tags: nhậtký, thờisự, tintức, bauxite, vậnnước, cùhuyhàvũ
Tuesday June 23, 2009 - 08:56pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments
Phẩm cách quan trọng của người trí thức
Phẩm cách quan trọng của người trí thức magnify

(SVVN) Giáo sư Nguyễn Huệ Chi chia sẻ với SVVN về tư cách của trí thức, và sứ mệnh của trí thức trong sự nghiệp đưa đất nước ngày một cường thịnh.


GỌI TÊN TRÍ THỨC

Thưa GS, trong hình dung của GS, thế nào là một trí thức?

GS Nguyễn Huệ Chi: Theo tôi nghĩ, trí thức được hiểu theo hai phương diện: Một là học vấn tổng quát để hiểu về mọi phương diện của cuộc sống, chứ không chỉ bó hẹp trong chuyên môn thuần tuý. Nếu như chỉ là nhà chuyên môn sâu thuần tuý, suốt đời chỉ nhìn vào cái “khe hẹp” ấy thì không được coi là trí thức.
Mà anh có học vấn chung để nhìn cuộc đời trên tư thế của một người độc lập. Thứ hai, anh phải có một nhân cách làm chỗ tựa cho học vấn ấy phát huy, để giúp ích cho đời. Đó chính là hai phương diện quan trọng để nhận diện một trí thức.

Nhưng chưa phải ai cũng biết được rành rọt những đóng góp và vai trò của anh trí thức trong một xã hội?

GS Nguyễn Huệ Chi: Vốn trong thiên bẩm – người được gọi là trí thức đã có chức năng là phản biện xã hội. Cho nên ở cơ chế của một xã hội dân chủ, giới trí thức có thể làm được nhiều việc. Nguyên lý của xã hội là tạo cho người dân được quyền phát ngôn, được tự do suy nghĩ, góp phần làm cho xã hội năng động...
Anh trí thức phải là người đầu đàn để làm những việc đó một cách tốt nhất. Nhưng trong những xã hội độc tài xưa kia, thì người trí thức đứng ở một cự ly nhất định với trung tâm quyền lực. Khoảng cách ấy đủ để cho anh có được cái nhìn tương đối tỉnh táo, nhìn vào thế giới quyền lực, dõi mắt theo thế giới ấy, và lên tiếng khi nó “có vấn đề” ảnh hưởng đến xã hội, đến sự dân chủ.


Và với sự hiểu biết sau khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, GS thấy tiếng nói của giới trí thức trong những xã hội xưa thế nào?

GS Nguyễn Huệ Chi: Ở xã hội phong kiến ngày xưa, giới trí thức Nho học được răn dạy rằng: Khi mình không làm được những thứ theo ý mình với mục đích làm xã hội tốt đẹp hơn, thì mình phải làm một việc để thể hiện khí phách và phẩm tiết của người trí thức là rút lui.
Mặc dù vẫn được trọng dụng, nhưng đề xuất chém lộng thần không được nghe, thì Chu Văn An cáo quan, treo mũ, từ biệt kinh thành về núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương) ở ẩn.
Xin nhắc lại, đấy là người trí thức trong những cơ chế xã hội xưa kia. Đó là một xã hội độc tài, độc tôn, lấy ông vua làm trung tâm. Hễ ông vua tốt thì xã hội thịnh, ông vua xấu thì xã hội suy. Còn trí thức ngày nay, khi xã hội chúng ta đã phát triển theo mô hình mới rồi, không phải là xã hội cũ nữa, thì rõ ràng vai trò của giới trí thức hiện nay phải tích cực hơn so với những trí thức trong xã hội cũ.

KHÔNG "MŨ NI CHE TAI"

Hiểu thế nào về sự “tích cực hơn”, thưa GS?

GS Nguyễn Huệ Chi: Tích cực hơn có nghĩa là anh không được làm những điều nhũng thoái. Anh đóng vai trò phản biện xã hội, lên tiếng khi có những vấn đề khẩn bách ảnh hưởng đến sinh mệnh của cả dân tộc, của cả đất nước, hoặc là của cả một bộ phận nào đấy ở trong dân tộc này.


Hoặc có nguy cơ làm cho con đường đi của đất nước có thể rơi vào một khó khăn nào đấy. Người trí thức phải biết hy sinh lợi ích của bản thân mình, kiên trì với những chính kiến của mình để đóng góp những điều có ích cho đất nước, cho dân tộc.


Người trí thức chân chính phải vì lợi ích lớn của dân tộc, của đất nước, hay của một bộ phận dân chúng nào đấy. Trong một thời đại được gọi là dân chủ, một bộ phận dân chúng nào đấy mà đang có nguy cơ mất sự sống an ổn thì người trí thức cũng không được thờ ơ.

Là một nhà nghiên cứu, theo GS, trí thức ngày xưa và trí thức ngày nay, có gì khác nhau?

GS Nguyễn Huệ Chi: Trí thức ngày xưa có thể lui về vườn để trở thành một người sống ẩn dật, hái củi, làm thơ. Nhưng người trí thức ngày nay, với trách nhiệm xã hội giao phó, không cho phép như thế. Vấn đề yếu kém của nền giáo dục hiện nay chẳng hạn, đó là một vấn đề, theo tôi, đang ở tình thế ngàn cân treo sợi tóc với dân tộc ta.
Nếu người trí thức không lên tiếng thì đã vô tình trùm “mũ ni che tai”, và đó là thái độ không phải của một trí thức. Anh phải biết kiên trì theo đuổi chính kiến hy sinh lợi ích cá nhân. Đó là điểm khác biệt giữa trí thức ngày xưa và trí thức ngày nay.

Trí thức là tầng lớp tinh hoa của một dân tộc, vậy đóng góp của họ phải thể hiện như thê nào?

GS Nguyễn Huệ Chi: Đương nhiên, anh giỏi về chuyên môn, cắm cúi trong chuyên môn thì đó là một đóng góp rất tốt về mặt tri thức trong một ngành nào đấy. Nhưng những người đó không được hiểu theo kiểu những trí thức có trách nhiệm dẫn đạo xã hội, hay là bộ phận tinh hoa của xã hội.
Nhóm tinh hoa ấy bao giờ cũng tạo ra những định hướng có tầm để xã hội phát triển. Xã hội mà thiếu những định hướng tầm xa như thế thì sẽ khó có hướng để phát triển. Xã hội chỉ được tạo nên bởi những nhóm quyền lực, hoặc nhóm lợi ích thì luôn luôn bị chi phối bởi những lợi ích và quyền lợi khác nhau.
Phải là người đứng ở cự ly phía ngoài để nhìn vào quyền lực, nhìn vào các nhóm lợi ích và tìm ra hướng đi cho xã hội, thì lúc đó xã hội mới phát triển đúng hướng được. Vai trò, sự đóng góp của người trí thức thể hiện ở chỗ đó.

PHẨM CÁCH QUAN TRỌNG CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC

Trong các phẩm cách của người trí thức, theo GS, phẩm cách nào là quan trọng nhất?

GS Nguyễn Huệ Chi: Người trí thức bao giờ cũng có mấy phẩm cách sau:

Thứ nhất , phải có sự tự do trong tư tưởng – đó là một phẩm cách hàng đầu. Bởi vì nếu anh để tư tưởng bị khuất phục bởi một thứ giáo điều nào đấy, thì không bao giờ anh có sự sáng tạo được, và cách nghĩ của anh sẽ méo mó, thiên lệch, thậm chí là thấp hèn.

Thứ hai, là sự độc lập đối với quyền lực. Quyền lực đương nhiên là chúng ta phải tôn trọng, vì quyền lực là đại diện cho chỗ đứng cao nhất của một bộ phận đang điều khiển đất nước. Nhưng phải luôn luôn có một sự độc lập để tỉnh táo nhận biết đâu là chỗ đúng, chỗ sai, để nhận thấy những khiếm khuyết, chỗ nào không khiếm khuyết của xã hội.

Một xã hội không bao giờ có những con người tuyệt đối tốt, tuyệt đối hoàn hảo, mà họ dù ở cương vị nào cũng chỉ là những con người thôi. Mà đã là người thì bao giờ cũng có những mặt được, mặt hạn chế, nhất là trong xã hội hôm nay người ta luôn bị chi phối bởi nhiều nhóm lợi ích, sau mỗi con người là những nhóm lợi ích khác nhau.

Do vậy, con người thường không hoàn hảo, do đó càng đòi hỏi người trí thức phải có sự độc lập suy nghĩ để tìm ra cái hay, cái đúng, cái sai, cái xấu... Và việc tìm ra cái hay, cái đúng, cái sai, cái xấu... này để phục vụ lợi ích tối thượng của đất nước, chứ không phải là của những nhóm quyền lực khác. Tóm lại, người trí thức phải đứng ở chỗ đứng khách quan nhất.

Như tinh thần trao đổi trên đây của GS, thì chưa hẳn người có học hàm học vị đã được gọi là Trí Thức?

GS Nguyễn Huệ Chi: (Cười lớn) Theo tôi, xã hội ngày nay nhất thiết phải có những chức danh, học vị cho người trí thức. Chẳng biết có phải vì lý do đó mà có nhiều GS, TS, thậm chí có cả những ông đi mua bằng ở nước ngoài về để trở thành Viện sĩ, mà thực chất đó cái bằng Viện sĩ đó chỉ có mấy trăm USD thôi (Cười buồn).

Nhưng không phải cứ gắn vào một cái mác là GS, TS, hay Viện sĩ thì đã được gọi là trí thức, mà trí thức là phải xét ở phương diện anh có thực hiện được chức năng và phẩm cách của một trí thức hay không. Và trong những bước ngoặt, bước gấp khúc của đất nước thì anh đứng ở chỗ nào, anh bỏ quên lợi ích của cá nhân anh vì đất nước hay chỉ là vì “vinh thân phì gia” của bản thân.

Tôi không bao giờ xét trí thức ở mấy chữ phía ngoài. Tôi thấy những người không gắn học vị gì cả nhưng tư cách trí thức hết sức đàng hoàng, như nhà văn Nguyên Ngọc chẳng hạn, anh ấy không có học vị học hàm nào cả, nhưng anh ấy là trí thức 100%, xứng đáng là trí thức ưu tú; hay như nhà văn Phạm Toàn có học vấn cực kỳ cao, nhưng anh ấy không gắn với bất cứ cái danh vị nào cả.

GS thấy thế nào khi mà hiện nay, có những người có chức danh GS, học vị tiến sĩ... nhưng lại mang danh đó để đi quảng bá các sản phẩm như đồ uống, dược phẩm..., và xem đó như là một việc mưu sinh? Như thế họ đã thể hiện đúng vai trò của một trí thức chưa?

GS Nguyễn Huệ Chi: Xã hội hiện nay đang theo hướng kinh tế thị trường, phải bán sản phẩm, phải kinh doanh để sống... Do vậy, anh trí thức cố nhiên cũng phải bị chi phối bởi quy luật ấy. Cho nên có những người mang danh là GS, TS nhưng đi quảng cáo cho những món hàng nào đó.

Tôi nghĩ, chúng ta nên thông cảm cho họ, vì thực chất họ cũng đang đi mưu sinh, việc này cũng chẳng khác là mấy so với mấy cô gái xinh đẹp đứng ra làm PG(promotion girl) vậy thôi. Những người ấy đáng thông cảm hơn là đáng chê bai, nhưng tuy nhiên, đấy không phải là hành vi của người thuộc tầng lớp trí thức, mà đó chỉ là hành vi của người đang mưu sinh mà thôi.

Xin cảm ơn GS!

Lê Ngọc Sơn (Thực hiện)

“Có những người rất trẻ nhưng đã có tư cách vững vàng của một trí thức, nhờ được đào tạo, dạy dỗ trong truyền thống của gia đình, có học vấn rất cao. Còn những người đã già, nhưng đầu óc vẫn sáng láng, vẫn giữ được phẩm cách và phát huy được học vấn của mình thì vẫn xứng đáng là một trí thức sáng láng. Trí thức không phụ thuộc vào tuổi tác. Chỉ khi nào người ta đánh mất các phẩm cách của người trí thức thì lúc đấy mới không còn được gọi là trí thức nữa”.

Nguồn: Sinh Viên Việt Nam.

Tags: nhậtký, nguyễnhuệchi, tríthức, thưngỏ, bauxite
Tuesday June 23, 2009 - 07:57am (ICT) Permanent Link | 0 Comments

Add Nguyễn Xuân Diện blog to your personalized My Yahoo! page:

Add to My Yahoo!RSS About My Yahoo! & RSS
1 - 5 of 667 First | < Prev | Next > | Last

HIGHLIGHTED POSTS