Đú +)Ơn~ Eñ†êr†ainmen†♥ - Mr. K[a]i™ Gi4m' +)Ốc
| Xe tăng quân giải phóng trên đường phố Sài Gòn ngày 30-4-1975- Ảnh tư liệu |
>> Kỳ 1: Bắt đầu của kết thúc
>> Kỳ 2: “Thổi tung”
>> Kỳ 3: Cuộc rút lui cuối cùng
>> Kỳ 4: Ở lại để viết
Đã kết thúc rồi
Ngay sau đó, người phiên dịch thét lên từ phòng vô tuyến: tổng thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Esper đánh máy bản tin và nhanh chóng đưa nó cho người đánh máy in telex. Câu chuyện là bằng chứng cụ thể với thế giới rằng chiến tranh đã kết thúc. Trụ sở AP nhanh chóng gửi cho chúng tôi thông điệp rằng bản tin đầu hàng của chúng tôi đến trước năm phút so với của Hãng thông tấn UPI, cho thấy trong khi các cuộc chiến có thể bắt đầu và kết thúc và những người lãnh đạo dựng lên hoặc sụp đổ thì người quyết định quan trọng duy nhất trong kinh doanh tin tức chính là người đầu tiên có câu chuyện.
Esper rất vui với chiến công của mình, đứng dậy, dang tay và tuyên bố anh ta sẽ đi xuống đường xem chuyện gì đang diễn ra. Anh ta ngồi tại bàn đã bốn ngày liên tục và tôi chúc anh ta may mắn, nhưng anh ta chạy trở lại máy đánh chữ chỉ trong vòng năm phút, mặt xám ngắt.
Trong khi băng qua quảng trường Lam Sơn, một trung tá cảnh sát người Việt trong bộ quân phục trang trọng bắt chuyện anh ta và lắp bắp với vốn tiếng Anh lắp ráp “Đã kết thúc rồi” trước khi bước khoảng mười bước, thể hiện khuôn mặt sắc lạnh, nói tạm biệt, sau đó giơ khẩu súng lục 4.5 li bắn vào đầu mình. Trong một khoảnh khắc Esper đã nghĩ viên đạn đó dành cho mình và anh ta viết câu chuyện xảy ra với đôi tay vẫn còn run sợ.
Matt Franjola bước vào phòng và tuyên bố đơn giản: “Dù sao họ đã ở đây”. Tôi nhìn lên và hỏi anh ta: “Ai ở đây?”, anh ta đáp lại: “Việt cộng. Tôi đang lái xe ra phía sau Đại sứ quán Anh thì một chiếc xe jeep màu đen đi tới cùng một người ngồi trên nóc mặc sơmi trắng, quần đen và đi giày. Anh ta mang theo khẩu AK-47 và thét với tôi bằng tiếng Anh: “Mọi người về nhà”. Họ đang vẫy cờ Việt cộng”. Tôi xem đồng hồ của mình: 11 giờ 25 trưa. Tôi đi ra ngoài xem xét tình hình.
Băngrôn Việt cộng màu xanh da trời và xanh lá cây lớn bất ngờ được kéo lên ở cột cờ của khách sạn Caravelle. Nhân viên ở đó chắc đã bí mật khâu nó trong một tuần. Về lại văn phòng, tôi ra hiệu lấy giấy và đánh bản tin bắt đầu bằng: “Sài Gòn, 30-4. Quân giải phóng chiếm đóng Sài Gòn một cách thanh bình ngày hôm nay, họ hành quân trên những đại lộ đầy cây bên đường trên những xe tải của Nga cùng cờ bay phấp phới. Người dân Sài Gòn đứng chứng kiến hai bên đường. Không một tiếng súng nổ”.
Tôi lảo đảo về phía phòng máy in telex, nhét trang giấy cho người điều hành máy telex. Anh ta đọc bản tin, há hốc mồm và cố gắng trốn khỏi căn phòng. Sau đó anh ta biến mất khỏi cửa văn phòng và ra đi trong nhiều ngày.
| “Ngày 30-4-1975, hai người lính Bắc Việt vào văn phòng AP nơi Matt Franjola (bìa trái), George Esper (người thứ hai từ bên phải) và tôi đang làm tin. Họ chỉ cho chúng tôi con đường mà họ tiến vào thành phố và chia sẻ đồ uống, bánh với chúng tôi”-Ảnh tư liệu |
Về nhà
Franjola và tôi xuống đường một lần nữa, nhìn thấy những xe tải của Nga trên đường Tự Do với số lượng lớn. Mọi người đổ ra bên đường, nỗi sợ hãi về một thảm kịch tức thời đã biến mất. Tay quay phim người Úc Neil Davis tiến lại phía tôi ở đường Pasteur từ dinh tổng thống. Anh ta ở đó một phút trước khi một xe tăng quân giải phóng đâm qua cửa chính bằng sắt. Anh ta nói đội quân nhảy xuống và đi lên ban công tầng trên, nơi họ giương một băngrôn lớn của Việt cộng.
Tôi trở lại văn phòng nói cho Esper biết điều này thì tiếng súng dữ dội nổ ra ngay ngoài cửa sổ của chúng tôi. Một nhóm quân giải phóng bò qua những bụi cây trong công viên ở phía dưới chúng tôi tiến về phía tòa thị chính, nơi một số lính phòng thủ đang yếu ớt chống trả. Quân giải phóng đang yểm trợ nhau khi họ di chuyển nhanh về phía trước gần tới tòa nhà và sau đó tiến nhanh.
Chiếc máy telex vẫn kêu chiều đó khi tôi trở lại văn phòng, Esper nói rằng tôi nên viết một câu chuyện trình bày cảm nghĩ của tôi. Tôi bắt đầu: “Trong 13 năm viết về chiến tranh VN, tôi chưa bao giờ nghĩ nó kết thúc theo cách như buổi chiều hôm nay. Tôi nghĩ rằng nó có thể kết thúc bằng một cuộc thanh toán chính trị giống như ở Lào. Thậm chí một trận đánh sinh tử với thành phố còn lại trong tàn phá”.
Tôi gõ chiếc máy chuyển tin, nó cuộn vào máy nên tôi đánh lại nhưng chiếc máy kẹt đôi lần và ngừng hẳn. Tôi thử lại các phím một lần nữa nhưng không có tín hiệu gì. Chỉ vài phút sau 7 giờ tối, chế độ mới đã cắt thông tin liên lạc của chúng tôi với thế giới, hệ thống cung cấp tin từ Sài Gòn bị vô hiệu hóa. Esper, Franjola và tôi rời văn phòng, đi bộ về khách sạn Caravelle. Một số lượng lớn nhà báo châu Âu ở lại. Hằng đêm nhiều người trong chúng tôi tụ tập ở phòng ăn khách sạn Caravelle để trao đổi thông tin, bây giờ thì không còn cạnh tranh nữa vì mọi liên lạc đã bị cắt.
Hầu hết chúng tôi được dành hai ngày để khởi hành. Sau 25 ngày sống dưới chế độ mới, chúng tôi lên xe buýt cho chuyến đi cuối cùng tới sân bay Tân Sơn Nhất và bay tới Vientiane (Lào), sau đó về nhà. Những người lính trẻ VN lục soát hành lý của chúng tôi một cách lịch sự. Có 82 người chúng tôi leo lên chiếc máy bay của Nga có cờ đỏ sao vàng sơn ở đuôi máy bay. Chúng tôi ra khỏi đường băng đi qua những tàn tích của trực thăng vận và máy bay chiến đấu. Khi máy bay cất cánh, lời reo vang ở khoang hành khách. Tôi chuyền cho mọi người cùng uống chai Johnnie Walker đen mà tôi đã kiếm được từ văn phòng của đại sứ New Zealand.
PETER ARNETT
(PHẠM HẢI CHUNG dịch)






| Niềm hân hoan của bộ đội đặc công trên đường tiến vào Sài Gòn -Ảnh tư liệu |
>> Kỳ 1: Bắt đầu của kết thúc
>> Kỳ 2: “Thổi tung”
>> Kỳ 3: Cuộc rút lui cuối cùng
Viết theo cách của mình
Mọi thứ tôi viết về VN đã hiện ra vào ngày hôm nay và tôi cảm thấy mình buộc phải chứng kiến lời từ biệt cuối cùng. Franjola và tôi leo lên xe jeep theo sau những xe buýt tới nhà của đại sứ Mỹ. Khi chúng tôi đỗ xe ở điểm dừng, một sĩ quan quân đội cộng hòa mặc quân phục chạy tới và năn nỉ chúng tôi đưa ra sân bay. Tôi nhận ra anh ta là nhân viên bộ thông tin. Tôi nói anh ta sẽ không bao giờ qua nổi cửa sân bay vì những người gác sẽ đẩy lính trở lại.
Anh ta thay quần áo trên đường, ném bộ đồng phục ra phía sau cây và mặc chiếc quần bình thường cùng áo thể thao. Anh ta giới thiệu một đứa trẻ là con trai của anh ta và nói với tôi rằng họ sẽ rời đi, còn vợ anh ta cùng con gái sẽ ở lại. Trên đường phố Sài Gòn tôi cũng gặp nhiều người như thế.
Từ mái tòa nhà Eden, tôi chứng kiến bóng những chiếc trực thăng biến mất vào đêm. Phía dưới ánh đèn đường, một số người đang nhìn lên bầu trời và ra dấu hiệu, với một số túi hành lý nhỏ trên tay. Buổi tối đó trực thăng đã đi hết, tôi leo xuống văn phòng AP ở tầng 4 nơi phiên dịch của chúng tôi, ông Hương, và gia đình đang nằm trên sàn nhà. Phóng viên George Esper cố gắng đưa họ tới địa điểm di tản tại đại sứ quán vào buổi sáng nhưng đám đông quá thô bạo tiến sát gần hàng rào. Esper gọi điện tới đại sứ quán, thậm chí nhân viên còn không trả lời. Ở văn phòng của AP, George đã ở đó hàng thập niên viết ra những bài báo trên chiếc máy đánh chữ Underwood cổ lỗ.
Vào lúc 3 giờ sáng trong một TP chuẩn bị đón chờ cái chết, anh ta đang cố gắng gọi điện để chuyển tin, bài. Anh ta gầy, hốc hác và đôi mắt đầy mệt mỏi. Tôi nói với anh ta: “George, chúng ta cần ngủ một chút”. Anh ta lẩm bẩm một mình và trở lại máy telex. Tôi nói: “Giờ chúng ta là những người duy nhất còn lại đây, không có người phát ngôn của chính phủ, không nhân viên báo chí với những dự đoán cho câu chuyện của chúng ta, không nhân viên đại sứ quán nào vui vẻ vẫy tay từ chối những gì chúng ta đã viết. Lần này chúng ta viết theo cách của chúng ta, George”.
| Bộ đội đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất -Ảnh tư liệu |
Những nhân viên Mỹ cuối cùng
Sáng sớm 30-4, George quyết định chống lại cơn buồn ngủ và đánh máy những ghi chú khó chịu gửi về trụ sở AP ở New York kêu ca về việc ùn tắc thông tin và tôi hi vọng anh ta đã gửi được nó. Tôi không đợi để xem. Tôi đi xuống bằng chiếc cầu thang tối, băng qua quảng trường Lam Sơn ẩm ướt tới khách sạn Caravelle. Tôi vừa chạm vào chiếc giường thì tỉnh lại bởi tiếng thét phía dưới cửa sổ. Tôi kéo rèm sang bên, mặt trời làm lóa mắt tôi một lúc. Tôi có thể nhìn thấy “cuộc khởi nghĩa” ở quảng trường. Tình trạng hôi của bắt đầu.
Tôi cạo râu, tắm nước lạnh và chọn chiếc áo sơmi giản dị màu xám. Tôi tới phòng ăn, nghi ngờ rằng bữa sáng sẽ không được phục vụ. Nhưng tôi đã nhầm, những người phục vụ mặc đồng phục vẫn làm việc bình thường. Phía dưới, đường phố nhộn nhịp hướng về phía bến sông Sài Gòn, nơi những con thuyền thương mại và hải quân neo đậu. Biển là địa điểm trốn thoát cuối cùng. Tôi nhìn thấy những nhóm người chờ đợi trên mái những tòa nhà cao ở trung tâm TP. Họ nhìn lên bầu trời. Họ không biết nó đã kết thúc.
Sau đó là tiếng ồn quen thuộc của trực thăng lính thủy đánh bộ Mỹ bay vòng quanh tháp đôi nhà thờ lớn ở quảng trường John F.Kennedy và đậu trên mái nhà Đại sứ quán Mỹ. Một người phục vụ đưa tôi chiếc ống nhòm và tôi nhìn thấy một nhóm lính thủy đánh bộ vận quần áo chiến đấu chạy ra từ phía sau bức tường chắn bằng bao cát trên mái đại sứ quán và bước lên trực thăng. Chưa đầy một phút họ đã đi. Những nhân viên Mỹ cuối cùng rời khỏi Sài Gòn.
Tôi gọi điện cho Esper ở văn phòng kể lại câu chuyện đó. Chiếc trực thăng cuối cùng biến mất khỏi biển, tin tức này đã được truyền đi và có mặt trong văn phòng những tổ chức thông tin lớn trên thế giới. Franjola cùng tôi ăn sáng. Chúng tôi xuống đường, có những xe jeep chở lính cộng hòa cầm súng giơ lên lái như điên trong TP. Bây giờ họ không còn phép tắc gì nữa, sĩ quan cấp trên của họ đã rời đi hết. Không có âm thanh của trận chiến. Chúng tôi đi qua ba trạm xăng góc phố, những cột bơm xăng đã bị nhổ lên và những người lái xe hút bằng xiphông xăng trực tiếp vào ôtô của họ.
PETER ARNETT
(PHẠM HẢI CHUNG dịch)
Theo Tuổi Trẻ
_____________________________
“Sài Gòn, 30-4. Quân giải phóng chiếm đóng Sài Gòn một cách thanh bình ngày hôm nay, họ hành quân trên những đại lộ đầy cây bên đường trên những xe tải của Nga cùng cờ bay phấp phới. Người dân Sài Gòn đứng chứng kiến hai bên đường. Không một tiếng súng nổ”.
Kỳ tới: Bản tin 30-4
Những hình ảnh ít biết của phóng viên nước ngoài về giai đoạn KCCM



| Peter Arnett cùng vợ Nina Nguyễn và hai con tại Sài Gòn -Ảnh tư liệu |
>> Kỳ 1: Bắt đầu của kết thúc
>> Kỳ 2: “Thổi tung”
Hồi chuông cảnh báo
Tôi sắp xếp cho Nina Nguyễn - vợ tôi - và gia đình cô ấy bay tới Wellington (New Zealand) trong một chuyến bay đặc biệt được thuê để di tản nhân viên ngoại giao New Zealand và tôi lái xe đưa họ tới đại sứ quán vào buổi sáng họ khởi hành. Họ chỉ được phép mang một túi nhỏ hành lý. Đây là lần thứ ba họ mất gần hết mọi thứ. Dưới sự sắp xếp đặc biệt với Đại sứ quán Mỹ, chúng tôi có thể di tản toàn bộ nhân viên VN của văn phòng AP tại Sài Gòn và gia đình của họ. Tôi có thể đưa chị và em của Nina cùng chồng của họ tới Philippines trên chuyến bay C-130 của lực lượng không quân Mỹ.
Đến lúc đó rồi mà có những nhân viên ở Đại sứ quán Mỹ, Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế vẫn bám lấy niềm tin sẽ có một kết thúc chiến tranh trong thương lượng và một giải pháp vẫn giữ được Sài Gòn như một chính phủ trung lập. Tôi hoài nghi khi lần đầu tiên nghe những bản tin này vì tôi tận mắt chứng kiến sự sụp đổ bất ngờ của Huế, Đà Nẵng và những thất bại của mỗi TP ven biển và vùng cao nguyên.
Tôi chạm trán phóng viên Mal Browne của AP và vợ của ông ta ở quán cà phê Givral. Tôi hỏi tại sao bà không rời khỏi đất nước cùng với những người khác, nhưng Mal tự tin cười với tôi nói: “Peter, sẽ không có trận chiến cuối cùng đâu, tin tôi đi. Tôi là người đã ngấm tốt hơn với tất cả các mặt trong đời”. Mal là một phóng viên mà tôi kính trọng và là người bạn mà tôi ngưỡng mộ, nhưng tôi nghĩ ông ta đã sai về chuyện này. “Mal - tôi nói - anh đã dạy tôi chỉ viết những gì nhìn thấy chứ không phải những gì nghe thấy, và những gì tôi nhìn thấy là cuộc chiến quyết liệt cuối cùng ở ngay trong TP”.
Trụ sở AP tại New York ngày càng lo lắng về sự an toàn của chúng tôi khi hồi chuông cảnh báo đã gióng lên quanh Sài Gòn. Chúng tôi được nhắc nhở các tổ chức thông tin Mỹ sẽ đóng cửa khi đại sứ Graham Martin đưa ra mệnh lệnh trên chuyến di tản trực thăng cuối cùng. Chúng tôi được nghe nói hầu hết nhân viên AP phải rút và chỉ một số ở lại. Chúng tôi bắt đầu lập kế hoạch đưa mọi người rời khỏi VN.
| Cảnh tháo chạy hỗn loạn khỏi Sài Gòn - Ảnh tư liệu |
Đã quá muộn
Trong vòng buổi trưa thứ hai 27-4, tướng Dương Văn Minh gọi điện cho tôi với lời mời tới thăm nhà ông ở gần dinh tổng thống. Chúng tôi nhâm nhi tách trà nóng và ông ta giải thích kết thúc đã tới gần, lực lượng cộng sản tới gần Biên Hòa ở hướng đông và Củ Chi ở hướng tây, tất cả chuẩn bị dồn vào từ mọi hướng theo hình cánh quạt. Có cả pháo hạng nặng dàn hàng để “thổi tung” Sài Gòn thành từng mảnh. Đội hình chỉ huy và lãnh đạo của chính quyền Sài Gòn đã mệt mỏi, tan rã và khởi hành trên những trực thăng dành cho chỉ huy chạy trốn.
Tôi nói rằng mình vẫn đang cố gắng tìm kiếm tọa độ yêu cầu cho hành trình của ông ta, nhưng ông ta vẫy tay gạt đi và nói đã biết vị trí chung của hạm đội, khi thời gian đến sẽ bay ra để tìm. Ông ta chỉ cho tôi xem ngôi nhà được trang hoàng như cung điện với những bức tranh sơn mài lớn về phong cảnh VN truyền thống, có những người phụ nữ vấn tóc ngồi bên bể nước và những con ngựa đang phi nước đại. Ông ta lắc đầu buồn bã: “Giờ đã quá muộn để tôi mang được chúng đi - và quay sang tuyên bố - Những thứ này là của cậu, tất cả cho cậu. Tôi biết cậu đánh giá cao nghệ thuật và đây là bức đẹp nhất của VN”.
Tôi khẳng định với ông ta rằng mình cũng không thể mang những bức tranh ra khỏi VN, nhưng ông ta cố nài nỉ và khi tôi ra đến vườn thì hai tay lính đã buộc những bức tranh lên nóc một chiếc xe jeep. Tôi nói với tướng Minh rằng tôi có mấy việc lặt vặt phải làm và sẽ trở về muộn. Sau đó, tôi lái xe đi và biết rằng mình sẽ không thể gặp lại tướng Minh hay những bức tranh đó nữa.
Vào sáng sớm ngày thứ ba, đường băng và những nhà ga tại sân bay Tân Sơn Nhất đầy súng pháo binh do lính miền Bắc kéo vào. Đạn bắn phá thức tỉnh TP. Tôi nhảy ra khỏi giường tại khách sạn Caravelle khi những viên đạn đầu tiên chạm đất lúc 4 giờ sáng, và chạy lên nóc khách sạn nơi có vài đồng nghiệp đã tập trung.
Máy bay và các tòa nhà bốc cháy. Một bình minh đầy lửa tỏa lên những mái nhà Sài Gòn, chúng tôi nhìn thấy rất nhiều người dân đang chứng kiến như chúng tôi, một vài chiếc trực thăng chiến đấu với những tay súng dưới mặt đất, những khẩu súng nhỏ nhả đạn khi những chiếc tên lửa bay về phía họ. Tôi nhìn thấy hai máy bay rơi xuống. Tôi điện thoại cho George Esper từ quầy bar khách sạn Caravelle. Chúng tôi đồng ý rằng trận bắn phá có thể kết thúc việc di tản ở sân bay và thực hiện phương án 4: sự rút lui cuối cùng.
Khi việc vận chuyển hàng không bị hủy bỏ, quyết định di tản nhân sự cần thiết bằng trực thăng được đưa ra. Đó là cơ hội cuối cùng rời đi. Esper cộc lốc thông báo tình hình về New York và ba chúng tôi sẽ ở lại: Esper, tôi và Matt Franjola. Chủ tịch AP Wes Gallagher phản đối việc để Franjola ở lại, vì ông ta lo điều đó tăng thêm nguy hiểm cho tất cả chúng tôi nhưng sau đó ông ta đồng ý khi Esper khuyên nhủ: “Franjola quyết tâm ở lại và nếu chúng ta buộc anh ta rời đi, anh ta sẽ ở lại cho người khác.
Yêu cầu ông xem xét lại và hãy để tôi làm câu chuyện này một cách tích cực nhất”. Tôi biết nên đưa ra lời giải thích đầy đủ hơn cho quyết định ở lại của chính mình vì với nhiều người, điều đó dường như là điên rồ, đặc biệt là với Nina. Tôi hứa sẽ rời đi khi tới lúc. Tôi gửi một thông điệp cho Gallagher nói rằng tôi đã ở VN từ đầu, tôi cảm thấy đáng mạo hiểm ở đó để viết về những giờ khắc cuối cùng khi kết thúc. Tôi không nói cho ông ta biết ý định nhỡ chuyến bay cuối cùng nếu ông ta nài nỉ tôi rời đi.
PETER ARNETT
(PHẠM HẢI CHUNG dịch)
Theo Tuổi Trẻ
________________________
Peter Arnett là một trong số ít các nhà báo nước ngoài ở lại cho tới khi Sài Gòn giải phóng. “Giờ chúng ta là những người duy nhất còn lại đây, lần này chúng ta viết theo cách của chúng ta”.
Kỳ tới: Ở lại để viết
Những hình ảnh chưa biết về chiến tranh Việt Nam


Tự thiêu trên đường “Tự Do”!!!
(Horst Faas tại vụ nổ ĐSQ Mỹ (đường Hàm Nghi) 1963).

TQLC VNCH 1964


(Trung Lập: có thể ở Củ Chi).


Thung lũng Sóng Ngầm? 18/7/1966
Bảo Trại? 04/01/1966


Khi chúng tôi hạ cánh tới đó nó dường như yên lặng. Bức tranh trên mặt đất thật không dễ chịu. Tôi nhìn thấy một thành phố gần như sụp đổ. Những đám đông xung quanh các đoạn đường đứng cãi nhau, những người lính đi không mục đích trên đường, vũ khí của họ thả lỏng trên vai, không giống như vị trí của lực lượng phòng thủ đang chuẩn bị chiến đấu sinh tử.
| Peter Arnett: “Công việc làm tin chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng tới 35 năm nghề phóng viên quốc tế sau này của tôi” - Ảnh tư liệu |
>> Kỳ 1: Bắt đầu của kết thúc
Tiếng súng ở Đà Nẵng
Viên chức lãnh sự Mỹ Al Francis hi vọng vận chuyển hàng không như đã định sẽ nhanh chóng di chuyển hàng chục nghìn người di tản. Nhưng buổi sáng hôm sau bức tranh bất ngờ đen tối. Sà lan và thuyền chở người di tản quân sự nhếch nhác từ Huế đổ vào cảng. Những con đường chính gần cảng nhanh chóng tràn ngập những người lính bị tước hoặc mất vũ khí, những đôi vai rũ xuống mệt mỏi. Những người sống sót là con số còn lại của hai sư đoàn bộ binh tốt nhất miền Nam. Những người mà tôi nói chuyện kể tôi nghe về sự sụp đổ hoàn toàn của lực lượng phòng thủ ở cố đô Huế và sự di cư lộn xộn từ các bãi biển dưới làn đạn dữ dội. Điều đó nhắc tôi nhớ tới các câu chuyện đã nghe về cuộc di tản tại Dunkirk trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Cuối buổi chiều, lời đồn đại lan khắp Đà Nẵng rằng những người cộng sản đã tiến vào cửa ngõ thành phố. Tiếng súng vang dội trên đường phố thuyết phục tôi tìm kiếm sự an toàn trong khách sạn, nơi các phóng viên khác đang ở đó. Khoảng nửa đêm, một nhân viên trẻ người Mỹ triệu tập chúng tôi tới lãnh sự. Al Francis vẽ ra một bức tranh tăm tối nhất về tình hình an ninh, ông ta tuyên bố không còn chịu trách nhiệm về sự an toàn của chúng tôi nữa và nói chúng tôi nên rời khỏi thành phố vào buổi sáng. Điều đó tốt cho chúng tôi vì chúng tôi cũng đã chứng kiến đủ.
Tiếng rocket nổ đánh thức tôi, những viên đạn đầu tiên do những người cộng sản bắn trong cuộc tấn công Đà Nẵng. Tôi tự hỏi tốc độ tấn công của Việt cộng. Huế cách 100km về phía bắc sụp đổ ngày 26-3 và bây giờ các đơn vị pháo binh di chuyển qua núi. Chúng tôi tới sân bay trong xe tải của lãnh sự. Có các nhóm người vội vã cùng hướng và tập trung ở cổng sân bay. Giữa buổi sáng, sân bay tắc nghẽn bởi đàn ông, phụ nữ và trẻ em đang muốn rời đi. Đám đông dường như bị kích động và tấn công chuyến bay đầu tiên, chiếc 727 hàng không quốc tế mà chúng tôi đã được đặt chỗ. Cảnh sát an ninh sân bay bắt đầu thét lên và bắn chỉ thiên đẩy đám đông lùi lại, cuối cùng bằng cách nào đó việc khởi hành cũng được thực hiện. Tôi chỉ kịp biết ơn vì đã rời đi an toàn.
Không một cuộc giao tranh
Ba ngày sau, George Esper sử dụng nguồn tin Sài Gòn của anh ta là người đầu tiên viết rằng Đà Nẵng đã rơi vào tay cộng sản. Nhưng chúng tôi nhanh chóng biết rằng “rơi” là từ chưa chuẩn mà phải dùng từ “thổi tung” mới miêu tả chính xác hơn. Một cộng tác viên ảnh người Việt tới văn phòng AP chúng tôi tại Sài Gòn vào cuối tuần đó cùng những bức hình từ biển Đông và Ngũ Hành Sơn nói lên sự thật. Những khẩu pháo và xe tăng đã được chuyển tới Việt Nam từ các kho tiếp viện quân đội Mỹ để bảo vệ Đà Nẵng bị bỏ lại trên các bãi cát vàng, nòng súng không hướng về phía các thung lũng núi.
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từng huênh hoang tuyên bố một tuần trước đó rằng vùng đó sẽ được bảo vệ tới người cuối cùng. Nhưng lính của ông ta đã từ bỏ một trong những căn cứ quân sự hùng mạnh nhất ở Thái Bình Dương mà không có một cuộc giao tranh nào.
Đó không chỉ là sự sụp đổ của Đà Nẵng. Điều đó còn thuyết phục tôi rằng Sài Gòn cũng sẽ bị sụp đổ. Vào đầu tháng 4, tôi viết một bài phân tích cuộc tấn công của cộng sản ở thành phố là điều hoàn toàn không thể tránh khỏi. Câu chuyện đó được in ở tờ báo tiếng Anh Saigon Post. Chính phủ đáp lại rằng việc rút lui ở chiến trường là kết quả không tránh khỏi khi tập hợp lực lượng quân đội bảo vệ Sài Gòn và khu vực đông dân cư quanh đó. Sau đó chúng tôi biết vịnh Cam Ranh thất thủ cùng với khu vực dọc bờ biển Nha Trang.
Chủ tịch AP Wes Gallagher gọi tôi trở lại Mỹ để tham gia cuộc họp thành viên hằng năm của AP ở New Orleans. Các nhà xuất bản ở New Orleans hỏi tôi bao lâu thì Sài Gòn sụp đổ. Tôi đoán thành phố sẽ sụp đổ trong tháng. Họ dường như hoảng sợ. Nina Nguyễn - vợ tôi - cũng vậy. Cô ấy nài nỉ được trở lại Sài Gòn cùng tôi, nơi bố mẹ và chị em cô ấy mắc kẹt cùng những người còn lại. Tôi nói với một người bạn rằng tôi sẽ cố gắng hết sức để tiếp cận gia đình Nina. Anh ta nói: “Peter, cậu không đủ nặng ký để làm điều đó”.
|
Tôi thường xuyên bay ra Đà Nẵng trên chiếc C-130 của không quân Hoa Kỳ, ở tại văn phòng cảng không quân 12, một tòa nhà bằng gỗ mới được dựng lên, là nơi dừng chân của binh lính từ Hoa Kỳ tới bắt đầu nhiệm vụ tại Việt Nam và đó cũng là nơi họ được khởi hành về lại quê nhà một năm sau nếu sống sót trong cuộc chiến. Nếu may mắn tôi sẽ được một xe jeep chờ ở trung tâm báo chí do một lính thủy đánh bộ lái hướng ra khỏi cổng chính để ngắm quang cảnh Đà Nẵng, trong khi anh ta phải bấm còi inh ỏi để luồn lách qua những con phố ồn ào, đông đúc và xe ba gác bán rong, xe khách chở quá tải có nguy cơ đâm vào nhau. Chúng tôi đi dọc dòng sông trong thành phố và thường rẽ quanh Bảo tàng Chăm, một công trình kiến trúc đẹp trưng bày nhiều tác phẩm điêu khắc khéo léo trên đá. Bên kia bờ sông là bóng dáng đồ sộ của những tòa nhà trụ sở chỉ huy của lính thủy đánh bộ, phía xa nữa là biển Đông và những bãi cát hiện ra, màu nước trong xanh ấm áp. |
PETER ARNETT (PHẠM HẢI CHUNG dịch) Theo Tuổi Trẻ
_________________________________
Trụ sở AP càng ngày càng lo lắng về sự an toàn của chúng tôi khi hồi chuông cảnh báo đã gióng lên quanh Sài Gòn. Chúng tôi được nhắc nhở rằng các tổ chức thông tin Mỹ sẽ đóng cửa, chúng tôi bắt đầu lập kế hoạch đưa mọi người rời khỏi VN.
Kỳ tới: Cuộc rút lui cuối cùng
Một số hình ảnh chưa biết về chiến tranh Việt Nam

Lính Mỹ trong Toà Đại sứ Mỹ, Mậu Thân 1968

Lĩnh Mỹ trong Thành cổ Huế

Thuỷ quân lục chiến Mỹ








TT- Trong hơn 13 năm gắn bó với miền Nam VN (1962-1975), Peter Arnett - phóng viên chiến trường nổi tiếng của Hãng thông tấn AP (Mỹ) - đã tận mắt chứng kiến nhiều sự kiện lớn, có những tin tức, phóng sự nóng hổi gây chấn động dư luận Mỹ và thế giới và giải thưởng báo chí Pulitzer năm 1966.
Từ số này, Tuổi Trẻ trích đăng một phần cuốn sách Từ chiến trường khốc liệt (Live from the battlefield) của Peter Arnett do Nhà xuất bản Thông Tấn xuất bản tháng 4-2009.
Kỳ 1: Bắt đầu của kết thúc
Tất cả các đơn vị hỗ trợ quân đội Mỹ đều rút khỏi miền Nam VN vào tháng 3-1973. Tôi đang ổn định trong một căn hộ mới thuê phía đông Manhattan (New York) và cố gắng từ bỏ những kinh nghiệm ở VN, tiếp tục với các chủ đề khác. Nhưng tôi vẫn còn mềm yếu với những bài hát quyến rũ của VN. Khi các biên tập viên của AP yêu cầu tôi trở lại Sài Gòn vào mùa hè năm 1973, tôi đã không từ chối. Nhiệm vụ của tôi là tìm hiểu xem miền Nam VN có thể tồn tại được không nếu không có sự tài trợ của Quốc hội hay binh lính Mỹ.
| Peter Arnett trong thời gian tác nghiệp tại Sài Gòn - Ảnh tư liệu |
Băng trên sông
Tôi có linh tính rằng thời điểm chính trị căng thẳng đã tới. Tôi thuê một xe tải Chevy và người lái xe đi từ Sài Gòn ra phía bắc càng xa càng tốt cùng Andrew - đứa con 9 tuổi của tôi. Sau hơn một thập kỷ theo đuổi tin bài trong thành phố và nông thôn dọc các con đường, tôi muốn Andrew chứng kiến để nhớ điều đó trong tương lai khi vùng đất nơi nó sinh ra sẽ có đổi thay.
Trở lại Sài Gòn, tôi phỏng vấn một người quen ở Đại sứ quán Mỹ, một người quan sát hiểu biết sâu sắc tình hình VN tên Frank Scotton, người đưa ra đánh giá thẳng thừng về sự khủng hoảng. Anh ta nói Hoa Kỳ không còn cố gắng trong cuộc chiến nữa cũng như không ngăn chặn nổi việc tiếp quản không thể tránh được của cộng sản.
“Miền Nam VN ngày nay giống như băng trên sông. Bạn có thể bước qua trên băng ngay bây giờ, bạn có thể lăn những viên đá qua nó nhưng con sông bên dưới đang chảy rất nhanh và băng đang tan”. Những trích dẫn từ anh ta làm thành một chuỗi những bài viết ở AP của tôi xuất hiện trên các tờ báo của Mỹ ngày 15-7-1973.
Ngày hôm sau, 16-7, nhân viên báo chí của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Hoàng Đức Nhã, đọc bài báo của tôi trên tờ Pacific Stars And Stripes, gọi tôi tới văn phòng anh ta để quở trách. Lần đầu tiên một nhân viên người Việt thách thức việc tác nghiệp của tôi. Nhã là cháu trai của tổng thống Thiệu, nổi tiếng vì từng thét vào mặt Henry Kissinger trong buổi bàn thảo cuối cùng cho thỏa thuận hòa bình. Bây giờ anh ta thét vào tôi: “Làm sao anh có thể viết những thứ như thế này, đồ rác rưởi, đó không thể là sự thật, chính phủ của tôi muốn trục xuất anh”.
Tôi nói với Nhã bối cảnh chính trị của Mỹ và học thuyết Kissinger, mà tôi hiểu Mỹ có những người bạn không thường niên nhưng có những sở thích thường niên và bây giờ VN không phải là một trong những mối quan tâm hàng đầu của họ. Sự đề cập của tôi tới Kissinger đã làm giảm thái độ của Nhã. Sau một giờ, chúng tôi nói lời tạm biệt thân ái và anh ta không đề cập tới việc trục xuất tôi nữa.
Tảng băng đã vỡ
| Peter Arnett (bìa trái) bên ngoài Đại sứ quán Mỹ trong Tết Mậu Thân 1968 - Ảnh tư liệu |
Vào cuối tuần thứ ba tháng 3-1975, tảng băng đã vỡ. Tôi đọc tin đó ở tờ New York Times. Nhan đề nói rằng vùng Tây nguyên rơi vào tay cộng sản, các khu đô thị của Kontum, Pleiku và Buôn Ma Thuột cũng đang như vậy. Tôi muốn hét to lên rằng chiến tranh cuối cùng đang kết thúc.
Tôi tới trụ sở AP, nơi biên tập viên Nate Polowetzky đang gập lưng trên máy telex từ Sài Gòn gửi về. “Hãy nhìn này, toàn bộ hỗn độn”, anh ta giật bản mới nhất từ phóng viên George Esper, một câu chuyện về di cư không có tổ chức rộng lớn từ vùng cao nguyên tới ven biển miền Trung. Hàng nghìn người chạy qua những con đường ít được sử dụng. Tôi nói với Nate rằng tôi cảm thấy điều này đang kết thúc và tôi muốn đi tới VN ngay.
Anh ta nói tôi báo cáo với sếp. Chủ tịch AP Wes Gallagher không hoàn toàn bị thuyết phục với niềm tin của tôi. Ông ta còn một năm nữa về hưu và đã dành rất nhiều thẩm quyền của mình cho câu chuyện VN. Nhưng ông ta nắm lấy tay tôi và nói: “Tới đó đi, và chúng ta sẽ cần rất nhiều người chết tiệt hơn tham gia với cậu nếu cậu đúng”. Tôi đã lên đường vào ngày hôm sau.
Sài Gòn choáng váng và tức giận. Người dân thích lờ đi hơn là ủng hộ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã không quan tâm tới số phận chiến trường. Esper gặp tôi ở sân bay nói rằng chính quyền Sài Gòn vừa để mất Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế. Vùng Tây nguyên đã ra đi. Miền Nam VN bị thu nhỏ một nửa trong vòng một tuần.
Tôi đã nghe về một cuộc đảo chính có thể lật đổ tổng thống, rằng lãnh đạo người Việt bị đổ lỗi về các cuộc rút quân chiến trường. Những người bạn cũ hỏi tôi người Mỹ và những chiếc máy bay B-52 đã cứu họ trước đây giờ ở đâu? Tôi cố gắng giải thích với họ rằng chính sách VN của Mỹ đã hết lòng tin. Vì những lý do hoàn toàn không liên quan tới VN, Nixon rời Nhà Trắng. Tổng thống mới Gerald Ford bị quốc hội hạn chế sử dụng ngân quỹ cho các hoạt động chiến trường ở Đông Nam Á.
Mỗi ngày, những tin bài miêu tả một vùng đất hoàn toàn sụp đổ không ngừng tuôn chảy. Gallagher yêu cầu tăng nhân lực, và một số trưởng phân xã khu vực của AP bay tới Sài Gòn. Trong một cuộc chiến như tại VN, nơi các nhân viên của ông ta đã từng giành được năm giải thưởng Pulitzer, Gallagher quyết tâm duy trì điều thuận lợi có tính chất cạnh tranh tới cùng. Các tổ chức thông tin khác cũng cho thấy sự quan tâm mới trở lại trong câu chuyện.
Trên các con đường tràn ngập lo lắng của Sài Gòn và trong các nhà hàng Pháp, tôi gặp đồng nghiệp báo chí trước đây đã lâu không gặp trong nhiều năm. Tất cả chúng tôi ở đó ghi lại khoảnh khắc cái chết đang đến gần của miền Nam VN, tất cả chúng tôi cùng đặt mức độ biểu cảm trong câu chuyện nhưng cố gắng để nó đi theo cách vốn có.
PETER ARNETT (PHẠM HẢI TRUNG dịch) Theo Tuổi Trẻ
________________________
George Esper sử dụng nguồn tin Sài Gòn của anh ta là người đầu tiên viết rằng Đà Nẵng đã rơi vào tay cộng sản. Nhưng chúng tôi nhanh chóng biết rằng “rơi” là từ chưa chuẩn.
Kỳ tới: “Thổi tung”
Một vài hình ảnh về chiến tranh Việt Nam


