Yahoo! 360° News | Beta Feedback
Start your own Yahoo! 360° page

Thế này đủ hấp dẫn chưa:D

Top Page  |  Blog  |  Friends

Add

Thế này đủ hấp dẫn chưa:D is not connected to you in Yahoo! 360°.

Last updated Mon May 18, 2009 Member since December 2005

9 weekend!

1 - 5 of 122 First | < Prev | Next > | Last

Tôi tên là Kì Vũ Full Post View | List View

Thế giới không đàn bà!

Tiểu thuyết Kim Dung!

tiểu thuyết võ hiệp kim dung
nhìn qua lăng kính
triết học truyền thống đông phương

Tại phương Đông, triết học hoàn toàn không phải là những khái niệm xa lạ với cuộc sống, nó không tự đóng khung trong những tháp ngà để mọi người phải "kính nhi viễn chi" (1) mà trái lại nó hòa nhập vào tận từng hơi thở của cuộc sống thường ngày. Người phương Tây thường nói: Ắn trước rồi mới triết lí sau, người phương Đông cho rằng trong công việc ăn uống, sinh họat đời thường tự nó đã mang tính triết lí rồi. Trong lịch sử phát triển văn hóa phương Đông, đã có nhiều giai đoạn người ta khó lòng chứng kiến được sự nở rộ đến kì diệu của các trào lưu trà đạo, hoa đạo, kiếm đạo, hội họa thi ca ... nếu như chúng không được gợi hứng trực tiếp ít nhiều từ Lão giáo và Phật giáo Thiền tông. Thế nhưng hoa đạo, trà đạo hay hội họa ... dẫu cao diệu đến đâu chăng nữa cũng chỉ là sự biểu hiện của tâm dưới ánh sáng của các tâm hồn giác ngộ; chỉ trong Kiếm đạo, sinh mệnh mới thực sự treo lơ lửng trên đường tơ kẻ tóc. Vấn đề sinh tử không còn được nêu lên để trầm tư suy tưởng như một công án nữa, mà biên giới giữa tử và sinh giờ đây có khi chỉ cách nhau trong một sát na(2). Từ đó triết học cũng hóa thân vào các kiếm pháp thượng thừa.

Kim Dung là một trong những người đầu tiên bước ra khỏi con đường sáo mòn của tiểu thuyết kiếm hiệp cổ điển, vốn mang nặng phong cách của loại tiểu thuyết chương hồi về hình thức lẫn mô-típ sáng tạo, trong đó các nhân vật chính diện lẫn phản diện thường na ná theo một khuôn khổ ước lệ như nhau. Kim Dung là người tiền phong trong việc soi sáng các tư tưởng triết học truyền thống phương Đông dưới một khía cạnh hòan tòan mới lạ: võ thuật. Ngay từ các tác phẩm đầu tiên như Thư kiếm ân cừu lục cho đến Ỷ thiên Đồ long kí, Hiệp khách hành, Tiếu ngạo giang hồ , Kim Dung đã không ngừng nổ lực triển khai tư tưởng này. Thế nhưng trong các tác phẩm đó, nhất là trong Thư kiếm ân cừu lục, ông đã quá chú trọng đến lí luận nên tư tưởng được triển khai hơi nặng nề. Ngòi bút nhà tư tưởng truyền thống đã lấn át phong cách hào hoa của nhà nghệ sĩ, người đọc có cảm tưởng đang nghe giảng đạo. Chỉ đến Tiếu ngạo giang hồ, thì tư tưởng đó mới thực sự được khai mở một cách phiêu bồng bằng đường kiếm vô chiêu của gã tửu đồ Lệnh Hồ Xung.

Kim Dung đã triển khai những nếp gấp ẩn mật trong tư tưởng phương Đông qua phong cách riêng biệt của tiểu thuyết võ hiệp. Theo truyền thống phương Đông, phàm những gì có thành thì phải có hoại (3), bởi vì vạn vật đều được cấu tạo từ chỗ bất toàn của nó (4). Do đó, mọi chiêu kiếm dù cao thâm đén đâu, hễ đã thành chiêu thức thì ắt phải có chỗ sơ hở để địch nhân phản kích. "Nếu ta đánh không theo chiêu thức nào cả thì địch nhân phá vào đâu ? ". Câu hỏi đơn giản của Phong Thanh Dương như một tiếng hét của Lâm Tế, như cây gậy của Đức Sơn (5) khai ngộ ngay cho anh chàng lãng tử Lệnh Hồ Xung. Từ bước ngoặt đó, y đã đánh bại ngay Điền Bá Quang , người mà chỉ vài giờ trước đó đã đánh cho y thua liểng xiểng.

Từ chỗ được khai tâm điểm nhãn, đường kiếm vô chiêu tuyệt diệu của Độc Cô Cầu Bại cứ theo gã tửu đồ Lệnh Hồ Xung phiêu bồng khắp giang hồ, mà không hề bại trận. Ngay dưới chân núi Võ Đương, khi vô tình so gươm với tay đệ nhất kiếm thuật đương thời là Xung Hư đạo trưởng -chưởng môn phái Võ Đương-, lúc bị khốn trong những vòng kiếm quang liên miên bất tận, Lệnh Hồ Xung vẫn nhớ đến nguyên lí "có thành phải có họai", nên đã đánh ngay vào làn kiếm quang dày đặc và đã thủ thắng bằng một chiêu tối hậu. Một lần nữa tư tưởng Vô thắng Hữu lại được khẳng định qua đường kiếm thượng thừa. Ở đây ta thấy thấp thóang tư tưởng "Vô danh thiên địa chi thủy" (6) của Đạo đức kinh.

Kiếm pháp vô chiêu của Độc Cô Cầu Bại vốn không có khuôn khổ nhất định, nó cứ linh động tùy cảm mà ứng, nên nó có thể thâu hóa tất cả kíếm pháp trong thiên hạ vào một mối để biến thành kiếm pháp của chính nó, thế thì thử hỏi có kiếm pháp nào trong đời địch lại nỗi ? Ngày xưa khi Độc Cô Cầu Bại hành hiệp, ông chỉ ước được bại trận một lần mà không được ! Kiếm pháp đó sẽ cực kì phức tạp, khó hiểu đối với những kẻ uyên bác đầy ắp kiến thức, nhưng lại dễ dàng tiếp cận với những trái tim thuần phác hồn nhiên, không câu nệ cố chấp, những đầu óc không mang sẵn những định kiến cứng nhắc, những tâm hồn đã đạt mức "hư kì tâm" (giữ lòng trống rỗng) của Lão Tử. Kiếm pháp vô chiêu cũng là một bức tranh minh họa sinh động về tư tưởng "Nhất dĩ quán chi" (7) của Khổng Tử.

Một số người không quen nếp suy tư phương Đông sẽ cho rằng nếu như thế thì hóa ra kẻ không biết gì về võ công, đánh không theo một chiêu thức qui củ nào, lại hơn cả những tay cao thủ ! Đây là một kiểu ngộ nhận khá phổ biến. Vô ở đây không phải là không biết gì theo suy tư thông thường mà là cái Vô đã vượt trên cái Hữu. Vô được ví như cái hang rỗng chứa được tất cả nhưng vẫn trống không. Trong truyền thống Phật giáo Tiểu thừa, người đạt quả vị tối cao là A la hán còn được gọi là bậc "Vô học". Từ "Vô" trong "vô chiêu" nên được hiểu theo nghiã đó, hoặc hiểu theo nghĩa tính Không (sunyata) trong hệ thống tư tưởng Bát Nhã Phật giáo.

Triết học Đông phương, đặc biệt là Phật giáo, vẫn thường tỏ ra dè dặt với sự lãnh hội của lí trí. Người ta không tin rằng lí trí có thể thấu hiểu được mọi vấn đề bằng khả năng, phân tich tổng hợp của nó. Chưa bao giờ, trong tác phẩm Kim Dung, kẻ uyên bác khổ luyện lại là người đạt đến trình độ tối cao trong võ học. Hình ảnh những đại cao thủ như Tô Tinh Hà, Cưu Ma Trí, Tiêu Viễn Sơn, Mộ Dung Bác ... là những biểu tượng thất bại của tham vọng bách khoa, của lí trí trước thềm võ học. Bởi vì sự tích lũy không thâu hóa sáng tạo chỉ đưa đến tổng số thay vì tổng hòa. Họ chỉ "đăng đường" chứ không thể nào "nhập thất" (8). Chỗ tận diệu của võ thuật vẫn như một huyền án lơ lững thách đố trí thông minh của con người. Càng thông minh, càng tích chứa kiến thức mà không có được một đầu mối nhất dĩ quán thấu suốt tất cả, để dung hòa thành một mối thì dễ dàng rơi vào trạng thái "tẩu hỏa nhập ma" (9) tinh thần. Trái lại, những tâm hồn thuần phác và tĩnh lặng như vị sư vô danh quét rác trong Tàng kinh các chùa Thiếu Lâm mới đạt đến chỗ tận diệu đó. Đó là những triết gia phương Đông chân chính và vô danh đang hiển thị chữ đạo trong võ thuật, giữa các công việc bình nhật thường ngày. Trong Hiệp khách hành , tất cả đại cao thủ đệ nhất đương thời đều điên đầu không thể lĩnh hội nổi võ công đề trên bức vách tại Long Mộc đảo, kể cả Long Mộc đảo chủ, hai nhân vật mà võ công đã đi vào huyền thọai, ấy thế mà gã ăn xin đôn hậu Thạch Phá Thiên vốn dốt đặc cán mai lại thấu trịệt hoàn toàn. Ở đây, dường như Kim Dung muốn nhắc ta nhớ lại hình ảnh thiền sư Huệ Năng, Tổ thứ sáu của lịch sử Thiền tông Trung Quốc, người đốn củi không học hành lại được sư phụ truyền y bát để kế tiếp tông phái thay vì truyền cho Thần Tú, là một vị cao tăng uyên bác (10) . Cái diệu lí của võ thuật, của đạo đã vuợt quá ngôn ngữ văn tự mà đi thẳng vào tâm hồn những ngưòi đồng điệu theo lẽ "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" (Kinh Dịch, quẻ Kiền)

Theo kinh Dịch, tất cả thiên sai vạn biệt trong vũ trụ này đều phát sinh từ cái một đơn nhất : đó là Thái cực (11). Cho nên đỉnh cao của võ thuật cũng tiến dần đến chỗ đơn nhất. Trên con đường trở về nguồn cội, tức là quay về cái lẽ đơn nhất đó, trong truyền thống phương Đông, tự thân võ học mất đi những cái rườm rà. Những chi tiết tan biến đi và chỉ còn lại nguyên lí "Vạn vật qui ư nhất" . Tất cả vạn sự đều quay về cái một. Rồi chính cái Một đó tự nó cũng tiêu dung lặng lẽ, hòa nhập với Tâm. Trong Ỷ thiên Đồ long kí, khi Trương Tam Phong dạy Thái cực kiếm pháp cho Trương Vô Kị, mỗi lần tập luyện là Vô Kị quên đi một nửa, đến lúc quên cả mới thực sự tựu thành. Kiếm pháp lúc đó đã hợp nhất với thân tâm, kiếm chiêu thu hay phát đều theo tâm niệm như nước chảy mây bay, không bị ngăn ngại. Từ cái Một đó mà biến hoá ra thiên sai vạn biệt . Cái Một đó là cái nền cho mọi thay đổi, nó trở thành cái trục giúp cho mọi biến dịch xoay quay đó theo đủ thể cách mà vẫn không bị rơi vào sự hỗn độn (Chaos). Lão Tử bảo :

Thiên đắc nhất dĩ thanh
Địa đắc nhất dĩ ninh
Thần đắc nhất dĩ linh

...............................

Thiên vô dĩ thanh tương khủng liệt
Địa vô dĩ ninh tương khủng phế

Thần vô dĩ linh tương khủng hiệt
(12)

Triết học cổ đại phương Đông vốn từ lâu đã bị vây khổn trong màng lưới lí luận của triết học phương Tây, nên những thiên tài như Kim Dung phải khai phá một thông lộ khác để đưa người đọc tiếp cận với nguồn suối uyên nguyên đó. Đọc tiểu thuyết Kim Dung, qua lăng kính triết học phương Đông, ta sẽ còn khám phá ra nhiều điều thú vị khác. Không chỉ có võ thuật, mà rải rác trong tác phẩm ông, ta còn gặp nhiều trang tuyệt bút bàn về trà, về hoa, về hội họa, về thơ ca , về cờ .... tái hiện các tư tưởng trong triết học phương Đông một cách cực kì sinh động. Không lí luận nhiều, chỉ cảm nhận mà thôi. Những câu nói của các bậc hiền triết xưa vốn đã bị ngộ giải qua các cuốn sách khảo cứu, giờ đây nhiều khi tái hiện lại chân dung nguyên thủy dưới một làn ánh sáng lung linh khác.

Nếu như Lão Tử học kiếm, ngài sẽ viết lại Đạo đức kinh, thay vì nói :

Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn
Tổn nhi hựu tổn, dĩ chí ư vô vi
(13)

mà sẽ nói rằng :

Vi học nhật ích, vi kiếm nhật tổn

Tổn nhi hựu tổn, dĩ chí ư vô chiêu

Huỳnh Ngọc Chiến

Tuesday July 15, 2008 - 07:34am (PDT) Permanent Link | 1 Comment
Thập Tự Chinh!
CÁC CUỘC THẬP TỰ CHINH CỦA CÔNG GIÁO LAMÃ CHỐNG HỒI GIÁO


Tiếng La Tinh CRUX có nghĩa là Thánh Giá hoặc Chữ Thập, biểu tượng của đạo Ki Tô. Từ chữ Crux phát sinh ra danh từ CRUSADE có nghĩa là cuộc viễn chinh của đoàn quân Công Giáo từ Âu Châu kéo qua các nước lân cận để tấn công những người Hồi Giáo trong thời Trung Cổ. Những người lính trong đoàn quân viễn chinh Công Giáo này đều mang huy hiệu chữ thập ở phía trước ngực và phía sau lưng nên được gọi là Thập Tự Quân (Crusaders). Suốt trong hai thế kỷ từ 11 đến 13 (1096-1291) những đoàn quân thập tự này đã gieo rắc biết bao kinh hoàng tang tóc cho những người Hồi Giáo Ả Rập. Hình ảnh tàn bạo man rợ của đoàn quân Công Giáo Âu Châu đã in sâu vào tim óc của thế giới Hồi Giáo nói chung và của những người Hồi Giáo Ả Rập nói riêng. Đến nỗi ngày nay, người Hồi Giáo đã đồng hóa Công Giáo với chủ nghĩa thực dân đế quốc. Mỗi khi lên án hành động bành trướng bá quyền của Tây Phương, họ thường tố cáo hành vi đó là "Tân chiến tranh thập tự". (Neo-Crusade).


Cổ nhân thường nói "ôn cố tri tân", chúng ta hãy coi lại lịch sử của hai thế kỷ chiến tranh đẫm máu do những đoàn viễn chinh chữ thập Công Giáo La Mã phát động chống những người Hồi Giáo ở Trung Đông trong hai thế kỷ từ 11 đến 13. Những bài học lịch sử sẽ soi sáng cho chúng ta trong nhiều vấn đề của thời cuộc hôm nay và cũng để hiểu thêm thực chất của một tôn giáo thường hay vỗ ngực tự xưng là đạo của Công bằng bác ái!

Để trình bày về đề tài này, chúng tôi tham khảo các tài liệu sau đây:

1. The CRUSADES, by Brenda Staleup, Green Haven Press xuất bản 2000.

2. The Oxford Illustrated History of Medieval Europe, by George Holmes, Oxford University Press 1986.

3. The Cross and the Crescent, by Malcoms Billing, Sterling Publication 1988.


NGUYÊN NHÂN CHIẾN TRANH


Có hai nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thảm khốc giữa hai tôn giáo anh em (fraternal faiths) kéo dài 195 năm là: sự xung đột như nước với lửa về giáo lý và sự tranh chấp lãnh thổ giữa hai tôn giáo (nhưng thực chất cả hai đều là đế quốc).


1. Sự xung đột về giáo lý

Mặc dầu kinh Koran là Kinh Thánh của đạo Hồi (Koran: The Muslim Gospel) công nhận Jesus là vị tiên tri đứng hàng thứ hai sau Muhammad, nhưng Koran phủ nhận tính cách thiêng liêng của Jessus. Koran gọi các phép lạ của Jesus là những trò ảo thuật học mót ở Babylon (Magic and such things as come down at Babylon - Koran 2:102).

Kinh Koran hoàn toàn phủ nhận tội tổ tông, hoàn toàn phủ nhận cái chết của Jesus trên thập giá. Koran khẳng định người Do Thái không giết và không đóng đinh Jesus (The Jews killed him not, nor cruxified him - Koran 4:157)

Muhammad thù ghét Công Giáo vì đạo này thờ ảnh tượng, vi phạm điều răn thứ hai của Maisen. Một điều nữa mà Muhammad ghét cay ghét đắng là thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi của đạo Ki Tô. Đối với Muhammad, đạo Ki Tô là Đa Thần Giáo, đi ngược lại chủ thuyết độc thần của tổ phụ Abraham. Hồi Giáo và đạo Do Thái là hai đạo Độc Thần đúng nghĩa vì chỉ thờ một Thiên Chúa Duy Nhất (Monotheist Religion = Only-One-God Religion). Công Giáo La Mã thờ ảnh tượng, thờ ba Thiên Chúa, quá tôn sùng bà Maria và các thánh do họ tự phong... do đó Công Giáo là một tà đạo đa thần chứ không phải là đạo Thiên Chúa đúng nghĩa.

Muhammad cũng ghét đạo Do Thái vì Do Thái gọi Thiên Chúa bằng số nhiều Elohim (số nhiều của El). Đạo Hồi gọi Thiên Chúa bằng số ít. Danh từ El trong tiếng Ả Rập là Il. Đi liền với Il có chữ "ah" là một mạo tự (article) trong ngôn ngữ Ả Rập. Vì thế Il thành Il-ah. Khi chuyển sang Anh Ngữ, các chữ I đổi thành A, vì thế Il - ah thành ALLAH (cũng như Ibrahim trong tiếng Ả Rập đổi thành Abraham trong tiếng Anh).

Muhammad gọi chung những người theo đạo Do Thái và Ki Tô Giáo là "Những tín đồ của các sách thánh kinh" (The People/The followers of the Books) hoặc gọi chung là "Những kẻ không tin Thiên Chúa Allah" (The Unbelievers). Riêng đối với các tín đồ Công Giáo, Muhammad gọi là "Những kẻ thờ thần tượng". (The Idolers).

Trong kinh Koran, Muhammad công khai kêu gọi các tín đồ đạo Hồi Giáo phải chiến đấu chống lại những kẻ theo Do Thái, đạo Ki Tô và tất cả những ai không tin theo đạo Hồi. Trong vùng kiểm soát của Hồi Giáo, bất cứ một ai ngoại đạo đều phải nộp thuế thân và phải chấp nhận một địa vị thấp kém trong xã hội. (Fight those who do not believe God and His Messenger, those who among the People of the Books, fight them until they personnally pay tax on non - Muslims adknowledging their inferiority - Koran, sura 9).

Những người Công Giáo thờ ảnh tượng bị coi là hạng người dơ bẩn và bị cấm vào các đền thờ Hồi Giáo (The idolers are nothing but unclean, so they shall not approach the sacred mosques - Koran 9:28).

Các người Do Thái và Ki Tô bị cấm không được xây nhà thờ mới hay sửa chữa nhà thờ cũ, cấm đeo thánh giá trước ngực, không được đọc kinh to tiếng và cấm ngặt rước kiệu trên đường phố. Người Ki Tô Giáo bị coi là đa thần giáo có thể bị sát hại bất cứ lúc nào. Kinh Koran chương 9 câu 5 đã qui định: "Khi những tháng thánh qua đi, các ngươi hãy giết những kẻ đa thần bất cứ nơi nào bắt gặp chúng, hãy phục kích để bắt chúng" (When the sacred months have passed away then kill the polytheists wherever you saw them, take them captives and wait for them in every ambush - Koran Sura 9: verse 5).

Người Tây Phương gọi những câu thơ nói trên là "Những câu thơ của đao binh" (The verses of the swords). Trong thực tế, những câu thơ của kinh Koran đã tạo nên sự dũng mãnh của những đoàn quân Hồi Giáo trong công cuộc mở mang nước Chúa Allah (The Kingdom of Allah). Chỉ trong một thế kỷ, đoàn quân Hồi Giáo đã chiếm hết Bắc Phi, Trung Đông, một phần Âu Châu và tràn tới Trung Á, tới tận biên giới Trung Quốc. Nhưng đồng thời những câu thơ nói trên cũng đã gây hận thù sâu sắc giữa các tôn giáo anh em và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc thánh chiến.



2. Sự tranh chấp lãnh thổ giữa hai tôn giáo

Từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ 6, toàn vùng Bắc Phi và Trung Đông thuộc về lãnh thổ của các giáo phái Ki Tô. Nhưng đến đầu thế kỷ thứ 7, đạo Hồi xuất hiện và bành trướng với tốc độ vũ bão chưa từng thấy khiến cả thế giới phải ngạc nhiên.

Chỉ trong 10 năm kể từ khi Mohammad qua đời, quân Hồi chiếm trọn bán đảo Ả Rập bao la (bằng 4 lần tiểu bang Texas hoặc 8 lần Việt Nam) chiếm các nước Iraq, Syria, Palestine, Ai Cập và phía tây của nước Iran. Hai năm sau, quân Hồi chiếm Bắc Phi, Carthage và Hy Lạp.

Qua đầu thế kỷ 8 (711 - 716) quân Hồi dám đánh chiếm một nước Âu Châu nổi tiếng sùng đạo Công Giáo, đó là nước Tây Ban Nha. Trong thời gian đó, kỵ binh Hồi Giáo chiếm trọn Ba Tư (Iran) và từ đây xuất quân chiếm hết các nước Trung Á ở phía Nam nước Nga, chiếm trọn vùng Bắc Ấn (tức Pakistan và Afganistan ngày nay) đánh qua biên giới Trung Quốc và đụng trận với quân nhà Đường trên sông Talas năm 751.)

Ki Tô giáo bị mất rất nhiều đất và đồng thời cũng mất rất nhiều tín đồ. Tuy nhiên, trong thời gian đó đế quốc La Mã và Ki Tô bị lâm vào tình trạng chia rẽ và suy yếu nên không dám thực hiện một hành vi trả đũa nào cả!

Đến đầu thế kỷ 11, Ki Tô giáo chia thành hai giáo phái với hai giáo đô thù nghịch nhau. Đó là Công Giáo La Mã (Roman Catholic) đóng đô tại Vatican và Giáo Hội Chính Thống Giáo Đông Phương (The Eastern Orthodox Church) đóng đô tại Byzantine, còn được gọi là Constantinople tức Istambul, thủ đô của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.

Năm 1091, quân Hồi tấn công Byzantine. Hoàng đế Alexius Comnenus đứng đầu Giáo Hội Chính Thống Giáo tuy không ưa Công Giáo nhưng cũng đành phải gửi văn thư chính thức yêu cầu giáo hoàng La Mã đem quân đến cứu giúp. Vatican lúc đó muốn giúp Byzantine thì ít nhưng điều quan tâm hàng đầu là tái chiếm thánh địa Jerusalem để giáo dân toàn Âu Châu được tự do đến đó hành hương. Mối thù lớn nhất của dân Công Giáo Âu Châu đối với đạo Hồi là trong thời gian chiếm đóng Jerusalem, quân Hồi đã triệt phá Nhà Thờ Kính Mộ Chúa (Church of the Holy Sepulchre). Tội triệt phá nhà thờ Mộ Chúa trở thành lý do chính cho cuộc thánh chiến trả thù của Công Giáo. Lý do thứ hai được nêu lên là vụ người Hồi Giáo hành hạ những người Công Giáo Âu Châu đi hành hương ở Jerusalem năm 1076. Những người hành hương sống sót trở về Âu Châu đã kể nhiều chuyện về sự ngược đãi của người Hồi khiến cho dân Âu Châu rất phẫn nộ.

Tu sĩ Peter Hermit là người hết sức cuồng nhiệt vận động quần chúng tín đồ Công Giáo ở các nước Âu Châu tham gia cuộc thánh chiến chống Hồi Giáo. Các giáo dân Âu Châu vào thời đó đa số là những nông dân thất học và cuồng tín, nhất là giới thanh thiếu niên, trong số đó có rất nhiều trẻ vị thành niên đã mù quáng ghi tên tham gia vào đoàn quân chữ thập. Lịch sử Âu Châu đã gọi đoàn quân chữ thập này là "Đoàn quân Nông Dân" hoặc "Đoàn quân con nít" (Popular Crusade - The Children's Crusade).

Vào thời đó, Âu Châu đang ở trong thời đại bóng tối tinh thần (The Dark Age) nên từ vua tới dân, từ các tu sĩ đến các bổn đạo, tất cả đều không có một chút hiểu biết nào về Hồi Giáo, không có một chút kiến thức nào về tình hình chính trị xã hội và địa thế của các nước phương Đông. Sự thiển cận về kiến thức và tinh thần cuồng tín tôn giáo đã mau chóng biến việc tái chiếm Jerusalem khỏi tay quân Hồi thành một khát vọng thiêng liêng vô cùng cuồng nhiệt. Chẳng mấy chốc đã có hàng trăm ngàn nông dân ghi tên, trong số đó có ít nhất là 60.000 trẻ vị thành niên!


CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ NHẤT

(1096-1099)

Như trên đã trình bày, sự vận động cho cuộc viễn chinh đầu tiên của đoàn quân Thập Tự khởi đầu từ năm 1091 do sự cầu viện của hoàng đế Byzantine, nhưng mãi tới năm 1096, tức 5 năm sau, mới thực hiện được.

Đoàn quân thập tự gồm hàng trăm ngàn người được điều khiển bởi các hiệp sĩ chuyên nghiệp, xuất phát từ hai nước Ý và Pháp. Đoàn quân của Pháp chia làm hai nhánh: nhánh quân ở miền Bắc tập trung tại Normandie, nhánh quân ở miền Nam tập trung tại Toulouse. Cả hai nhánh này tiến quân thẳng tới Constantinople.

Trên đường hành quân, khi đi ngang qua đồng bằng sông Rhin, đoàn quân thập tự của Pháp đã lùng bắt những người Do Thái rồi đưa họ ra những bãi hoang chém giết tập thể. Hiện nay tại vùng đồng bằng sông Rhin thuôc nước Đức có nhiều nơi vẫn còn ghi dấu bằng những bia đá ghi tên những người Do Thái bị sát hại trong dịp này.

Vào mùa thu năm 1096, một đạo quân thứ ba của Pháp tập trung tại Clairmont đi thẳng đến Rome để kết hợp với 50.000 quân Ý. Sau đó liên quân Pháp-Ý cùng kéo đến Constantinople. Vua và triều đình Byzantine vô cùng ngạc nhiên khi thấy đoàn quân thập tự chỉ là một đám nông dân rách rưới bẩn thỉu và có quá nhiều trẻ vị thành niên ngơ ngác. Vua Byzantine lập tức ra lịnh cho quân đội ngăn chặn không cho đoàn quân ô hợp này vào thành phố. Tuy nhiên, nhà vua cung cấp cho đoàn quân này một số lương thực,thực phẩm và cho quân đội áp tống đám thập tự quân này đến Boporus thuộc miền nam Thổ Nhĩ Kỳ.

Trong lúc đoàn quân thập tự trú đóng tại Boporus thì bị quân Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ bất thần tấn công giết chết rất nhiều. Đoàn quân còn lại tiếp tục đi tới Anatolia, một thành phố thuộc phần đất Á Châu của Thổ Nhĩ Kỳ rồi đến bao vây thành phố Hồi Giáo Antioch ở phía cực nam nước Thổ.

Trong lúc đang bao vây thành Antioch, đoàn thập-tự-quân bất ngờ bị quân Hồi Giáo Iraq kéo đến bao vây vòng ngoài từ ngày 21-10-1097 đến ngày 3-6-1098. Đoàn thập tự quân bị kẹt ở giữa vì thành Antioch quá kiên cố không thể xâm nhập, trong khi đó đoàn quân Iraq lại quá hùng hậu nên thập tự quân không thể phá được vòng vây. Sau hơn 5 tháng bị vây hãm quá chặt, thập tự quân cạn hết lương thực nên bị chết đói rất nhiều. Cuối cùng, ngày 3-6-1098, đoàn quân thập tự buộc lòng phải chấp nhận một trận quyết tử để mở đường máu phá vỡ vòng vây của quân Hồi Giáo Iraq.

Đoàn quân chữ thập tiếp tục lên đường trong hơn một năm mới tới được Jerusalem. Tại thành phố thánh địa này lúc đó có rất ít quân Hồi phòng thủ nên đoàn thập tự quân đã chiếm thành phố thánh địa một cách dễ dàng vào ngày 15-7-1099. Sau khi chiếm Jerusalem, thập tự quân ra lịnh cấm người Hồi Giáo không được leo lên tháp cao ở đền thờ để kêu gọi mọi người đọc kinh, không được ăn chay trong tháng Ramadan, không được xây đền thờ mới, cấm sửa chữa đền thờ cũ. Tất cả những tín đồ Công Giáo cải sang đạo Hồi đều bị tử hình.

Chỉ trong vòng vài tuần lễ đầu chiếm đóng Jerusalem, đoàn thập tự quân tàn sát những người đàn ông Do Thái và người Hồi Giáo Ả Rập tổng cộng lên đến 30.000 người. Thánh địa của cả ba tôn giáo độc thần biến thành một nhà xác khổng lồ. Lý do là vì số người chết nhiều hơn quân số của thập tự quân tại Jerusalem và không có ai lo chuyện chôn người chết cả. Cho tới năm tháng sau, các cống rãnh và các thung lũng ở Jerusalem vẫn còn sặc mùi hôi thối của các xác chết.

Cuộc chiến tranh thứ nhất của Thập Tự Quân Công Giáo La Mã (The First Crusade) là một ấn tượng ghê tởm nhất đối với người Hồi Giáo và Do Thái Giáo, và là một bài học kinh nghiệm nhớ đời cho toàn thế giới Hồi Giáo về sự man rợ khủng khiếp của bọn tín đồ Công Giáo cuồng tín.

Tuy nhiên, cũng do cuộc chiến tranh này mà người Âu Châu đã có cơ hội hiểu biết về thế giới Ả Rập và Hồi Giáo. Họ không ngờ thế giới Hồi Giáo quá rộng lớn, bao trùm một vùng lãnh thổ từ Bắc Phi qua Âu Châu tới tận Viễn Đông. Họ không ngờ Hồi Giáo cũng là một nền văn minh, trong đó có nhiều bộ môn khoa học, toán học, triết học tiến bộ vượt xa Âu Châu. Cũng từ đó, người Âu Châu đã dần dần tự giác ngộ để tự giải thoát ra khỏi thời đại đen tối (The Dark Age).

Về thành tích giết người tàn bạo của thập tự quân tại Jerusalem trong những ngày đầu của cuộc thánh chiến hiện nay vẫn còn một chứng tích lịch sử độc đáo. Đó là bức thư của vị tướng tổng-chỉ-huy thập tự quân gửi từ Jerusalem về Vatican để báo cáo tin mừng chiến thắng lên Giáo Hoàng Urban II. Bức thư này hiện được lưu trữ tại Văn khố của Tòa Thánh. Trong thư có đoạn viết như sau: "Đức Thánh Cha có biết chúng con đã đối xử với kẻ thù của chúng ta ở Jerusalem ra sao không? Tại cổng thành Solomon và trong Đền Thánh, đoàn kỵ binh của chúng con phải đi qua những vũng máu dơ bẩn của quân Hồi Giáo Saracenes ngập cao đến đầu gối của những con ngựa". (If You would know how we treated our enemies at Jerusalem know that in the portico of Solomon and in the Temple, our men rode through the unclean blood of Saracenes which came up to the knees of the horses - Deceptions and Myths of the Bible, by Lloyd Graham, p. 462)

Kết quả lớn nhất của cuộc viễn chinh đầu tiên của đoàn quân chữ thập là sự hình thành một vương quốc trực thuộc Vatican. Vương quốc này trãi dài 800 km dọc theo bờ biển Địa Trung Hải mang tên "Vương Quốc La Tinh Jerusalem" (Latin Kingdom of Jerusalem) bao gồm: Hai tỉnh Antioch và Edessa ở phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, nước Syria, nước Liban, xứ Judia và xứ Gallilee, trong đó có thành phố thánh địa Jerusalem.

Tòa thánh Vatican trực tiếp cai trị bằng cách phong vương cho người đứng đầu vương quốc này. Nhưng thay vì gọi là "vua" của vương quốc, tòa thánh gọi là "Người Bảo Vệ Mộ Chúa" (Protector of the Holy Sepulchre). Vương quốc La Tinh Jerusalem tồn tại được 88 năm (từ 1099 đến 1187) qua 7 đời vua do Vatican chọn lựa và tấn phong. Trong 88 năm cai trị vương quốc Jerusalem, quân thập tự đã tàn sát rất nhiều người Hồi Giáo và Do Thái Giáo, bất kể họ là người già, phụ nữ hay trẻ em. Quân thập tự cũng xây cất rất nhiều pháo đài và lâu đài phòng thủ kiên cố để bảo vệ vương quốc, đến nay vẫn còn những di tích lịch sử để lại tại các nước Trung Đông dọc theo bờ biển Địa Trung Hải.


CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ HAI

(1147-1149)

Nguyên nhân dẫn đến cuộc Thập Tự Chinh thứ hai (The Second Crusade) là do biến cố quân Hồi Giáo thuộc giáo phái Sunni từ các nước Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ tấn công tái chiếm tỉnh Edessa thuộc Vương Quốc La Tinh Jerusalem.

Để thực hiện quyết tâm phục thù, Vatican ra lệnh cho vua Pháp là Louis VII và vua Ý là Courad III phối hợp với nhau tổ chức cuộc Thập Tự Chinh thứ hai. Năm 1147, liên quân Pháp Ý trong đoàn quân chữ thập lên đường đến Thổ Nhĩ Kỳ để chiếm lại Edessa nhưng đã hoàn toàn bị thất bại. Tàn quân rút chạy về phía nam thuộc lãnh thổ Liban và Syria. Đến năm 1949, toàn bộ đám tàn quân nầy bị quân Hồi tiêu diệt tại Damacus (thủ đô Syria ngày nay).


CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ BA

(1190-1192)

Đối với Do Thái Giáo và Ki Tô Giáo thì Jerusalem là thánh địa duy nhất của họ. Đối với Hồi Giáo thì thánh địa quan trọng nhất là Mecca (thủ đô của nước Ả Rập Saudi). Thánh địa thứ hai là Medina, một thành phố cách thủ đô Mecca 250 dặm về phía Bắc. Và Jerusalem là thánh địa thứ ba của Hồi Giáo vì tương truyền rằng Muhammad đã lên trời từ thành phố này.

Quân Thập Tự của Vatican chiếm Jerusalem năm 1096 là một kỷ niệm ô nhục và đau đớn cho thế giới Hồi Giáo. Người Hồi Giáo đã phải nuốt hận chịu đựng trong gần một thế kỷ mới có cơ hội phục thù. Cái nhân của cơ hội phục thù là sự xuất hiện của một nhân vật lừng danh thế giới, đó là vị tướng bách chiến bách thắng Saladin (1137-1193) gốc người Kurd theo giáo phái Sunni. Ông được dân Ai Cập và Syria tôn lên làm vua (Sultan). Nhân vật Saladin trở nên một nhân vật huyền thoại trong nhiều tác phẩm văn chương của các nước Âu Châu thời đó. Quả thật, Saladin đã thu phục được nhân tâm của nhiều dân tộc theo đạo Hồi. Dưới sự lãnh đạo của ông, quân Hồi đã tái chiếm Jerusalem và nhiều phần đất khác của vương quốc La Tinh vào năm 1187. Toàn thế giới Hồi Giáo Ả Rập vui mừng vì thánh địa thứ ba đã được tái chiếm và danh dự của Hồi Giáo đã được phục hồi.

Nỗi vui mừng chiến thắng của Hồi Giáo càng lớn bao nhiêu thì nỗi đau của Vatican và Giáo Hội Công Giáo càng thấm thía ê chề bấy nhiêu. Do rút tỉa kinh nghiệm của những thất bại trước đây, lần này Vatican chuẩn bị chu đáo hơn với sự hội ý của ba ông vua đầy quyền lực tại Âu Châu là vua Pháp, vua Đức và đặc biệt là vua Anh Richard I - người được mệnh danh là "Richard Trái Tim Sư Tử" (Richard The Lion - Hearted).

Cũng xin nói thêm ở đây là Giáo Hội Công Giáo Anh tách rời khỏi giáo quyền của Vatican do vua Henri VIII chủ xướng vào năm 1534. Trước đó, các vua Anh đều thần phục giáo quyền Vatican như hầu hết các vua khác ở Âu Châu. Cuộc thập tự chinh thứ ba có tới 3 hoàng đế Âu Châu điều khiển nên các sử gia thường gọi cuộc thập tự chinh này là "Cuộc Thập Tự Chinh của các vua" (The Crusade of the kings).

Vua Anh Richard I đích thân điều khiển cuộc viễn chinh từ 1190 cho đến khi chiến dịch kết thúc vào năm 1192. Trong hai năm chinh chiến, đoàn quân chữ thập tái chiếm hầu hết lãnh thổ của Vương Quốc La Tinh Jerusalem. Nhưng thành phố quan trọng nhất là thánh địa Jerusalem thì lại không chiếm được. Quân Hồi chặn đứng đoàn quân chữ thập của Richard I tại thành phố Acre ở phía bắc Jerusalem. Trong thời gian trú đóng tại Acre (1191-1192) vua Anh Richard The Lion - Hearted đã ra lệnh chém đầu tập thể trên 3000 người Hồi Giáo Ả Rập. Vụ này đã đi vào lịch sử Hồi Giáo như một bằng chứng về tội ác diệt chủng của Giáo Hội Công Giáo La Mã. (The Cross and The Crescent by Malcom Billing - page 116). Hiện nay, tại Thư Viện Quốc Gia của Pháp (Bibliotheque Nationale) có lưu trữ một bức họa thời Trung Cổ vẽ cảnh Vua Richard The Lion-Hearted ngồi trên khán đài chứng kiến đoàn quân thập tự chém đầu tập thể những người Hồi Giáo.

CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ TƯ

(1201-1204)

Giáo Hội Công Giáo La Mã rất thù ghét Giáo Hội Chính Thống là một giáo hội Ki Tô tách rời khỏi giáo quyền Vatican vào giữa thế kỷ 11. Trong thời gian thập tự quân chiếm đóng Jerusalem, các tín đồ đạo Chính Thống ở Âu Châu bị cấm không được đến hành hương thánh địa. Các giáo dân và tu sĩ đạo Chính Thống tại Jerusalem đều bị ngược đãi tàn tệ. Đó là những lý do khiến cho hoàng đế Byzantine và giáo hội Chính Thống không thể ngồi yên trước sự lộng hành của Vatican. Để tránh bị lâm vào cái thế "lưỡng đầu thọ địch", hoàng đế Byzantine và giáo hội Chính Thống thương thuyết với vua Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả hai bên đạt tới việc ký hòa ước cam kết không gây chiến tranh xâm chiếm lẫn nhau.

Hòa ước Byzantine - Thổ Nhĩ Kỳ làm cho mối bất hòa giữa Vatican và Chính Thống Giáo càng trở nên sâu sắc. Bọn diều hâu ở Âu Châu lúc đó là các hiệp sĩ (Knights) trong những nước Công Giáo cuồng tín đã lập những kiến nghị yêu cầu tòa thánh Vatican phát động cuộc Thập Tự Chinh Thứ Tư để tiêu diệt đế quốc Byzantine và Chính Thống Giáo. Vatican lợi dụng dịp này ban hành những thông điệp phổ biến cho giáo dân khắp Châu Âu về sự phản bội của Byzantine và Chính Thống Giáo. Cuộc viễn chinh lần này được Vatican ủy nhiệm cho các thủ lãnh hiệp sĩ Ý và Đức thực hiện.

Trên danh nghĩa, cuộc Thập Tự Chinh thứ tư nhằm trừng phạt Byzantine và Chính Thống Giáo nhưng mục tiêu chính là để tiêu diệt một đồng minh tương lai của Hồi Giáo. Cuộc chiến kéo dài trong 3 năm từ 1201 đến 1204, đoàn quân Thập Tự chiếm trọn lãnh thổ đế quốc Byzantine. Vatican đặt tên cho lãnh thổ này là "Đế Quốc La Tinh Constantinople" (The Latin Empire of Constantinople). Vatican chia đế quốc này thành nhiều thái ấp (feuds) và phong chức lãnh chúa cho các hiệp sĩ có công để cai trị các thái ấp đó. Vatican đã biến toàn vùng đế quốc Byzantine xưa kia thành một xã hội phong kiến. Các lãnh chúa thu thuế của dân và trích ra một phần để nộp cho Vatican. Đế quốc La Tinh Constantinople tồn tại được 57 năm (1204-1261).



CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ NĂM

(1217-1221)

Cuộc thập tự chinh thứ năm không có một nguyên nhân chính trị hay tôn giáo nào mà hoàn toàn do sự bốc đồng của vua Andrew nước Hungary. Hungary chỉ là một nước nhỏ nằm ở giữa Châu Âu. Vua Andrew là người cuồng tín và có quá nhiều ảo vọng quyền lực. Ông ta đã không luờng sức của mình, tự ý thành lập một đạo quân thập tự rồi kéo quân đến tấn công một nước xa xôi là Ai Cập. Ông ta may mắn thành công trong việc chiếm thành phố Dannietta của Ai Cập. Người Ai Cập nhân danh Hồi Giáo thương thuyết với Andrew là nếu nhà vua chịu trả lại thành phố Dannietta cho Ai Cập thì Hồi Giáo sẽ trả lại Jerusalem cho Giáo Hội Công Giáo. Vua Andrew đã kiêu hãnh bác bỏ đề nghị này và kéo quân tiến đánh thủ đô Cairo của Ai Cập. Quân Hồi Giáo Ai Cập hết sức phẫn nộ đã mãnh liệt phản công tiêu diệt hoàn toàn quân xâm lược của Andrew vào năm 1221.



CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ SÁU

(1228-1229)

Cuộc thập tự chinh lần này do Vatican giao cho vua Đức Frederic II thực hiện để trả thù cho Andrew. Vatican đã cấp cho vua Frederic một ngân khoản rất lớn để võ trang thật hùng hậu cho đoàn quân thập tự. Tuy nhiên, vua Frederic là một nhà quân sự bất tài, đã phạm phải những lỗi lầm nghiêm trọng về chiến thuật nên toàn bộ đoàn quân chữ thập mới đặt chân lên đất Ai Cập đã bị tiêu diệt. Riêng bản thân vua Frederic II bị quân Hồi Giáo Ai Cập bắt sống. Vatican đã phải trả một số tiền rất lớn để chuộc mạng cho Frederic, y được quân Hồi phóng thích cho về nước an toàn.



CUỘC THẬP TỰ CHINH CUỐI CÙNG

(1248-1254)

Lý do dẫn đến cuộc Thập Tự Chinh thứ 7 là vụ quân Hồi đánh chiếm thánh địa Jerusalem vào năm 1244. Vatican trao nhiệm vụ tổ chức cuộc thánh chiến cho vua Pháp Louis IX. Nhà vua tuân lệnh và nhận tiền của Vatican chuẩn bị tổ chức cuộc viễn chinh thập tự lần thứ 7 trong vòng 4 năm.

Năm 1248, vua Louis IX đích thân chỉ huy cuộc viễn chinh, kéo quân qua các nước Syria, Liban, Palestine... Đi tới đâu đều bị quân Hồi phục kích tấn công đến đó. Cuôc chiến dai dẳng không phân thắng bại khiến cho binh sĩ vô cùng chán nản. Sáu năm sau, đoàn quân thập tự vẫn không tới được Jerusalem. Đến năm 1254, quân Hồi tổng phản công Louis IX phải bỏ chạy, những kẻ sống sót tìm đường trở lại Âu Châu.

Đến năm 1291, quân Hồi chiếm lại tất cả những phần đất đã mất về tay đoàn quân chữ thập trước đây, chấm dứt hoàn toàn Vương Quốc La Tinh Jerusalem sau 195 năm tồn tại.

Cũng xin nói thêm ở đây là trong lịch sử các cuộc viễn chinh thập tự có hai vua Pháp mang tên Louis tham dự. Vua Louis VII bị thất bại nhục nhã trong cuộc thập tự chinh lần thứ hai (1147-1149) và vua Louis IX bị thất bại trong cuộc thập tự chinh cuối cùng (1248-1254). Tuy nhiên, Louis IX đã được lòng Vatican nên ông này đã được Vatican phong thánh. Vì thế, người Pháp không còn gọi Louis IX là vua nữa mà gọi là Saint Louis. Tên của ông đã được dùng để đặt tên cho một thành phố lớn tại Hoa Kỳ vì thành phố này có nhiều người Mỹ gốc Pháp.


NHỮNG ĐIỀU ĐÁNG GHI VỀ CÁC CUỘC THẬP TỰ CHINH



1. Vấn đề: có bao nhiêu cuộc thập tự chinh?

Khi nghiên cứu về những cuộc viễn chinh của đoàn quân chữ thập thời Trung Cổ, chúng ta sẽ gặp nhiều tài liệu sử học đưa ra những con số khác nhau về những cuộc chiến tranh của thập tự quân. Có tài liệu nói là 6 trận, có tài liệu nói 7, 8 hoặc nhiều hơn. Lý do chính yếu làm cho các sử gia bối rối không thể nêu lên con số chính xác vì cuộc chiến của thập tự quân kéo dài gần 2 thế kỷ (195 năm). Trong thời gian dài dằng dặc đó đã xảy ra nhiều cuộc chuyển quân của thập tự quân giả dạng làm những đoàn người đi hành hương hoặc đoàn người đi buôn bán... nhưng sau đó họ vẫn có thể thực hiện được những cuộc tấn công vào quân Hồi Giáo.

Một điều phức tạp hơn nữa là sau thế kỷ 11, nhiều giáo hội Công Giáo Âu Châu tách rời khỏi giáo quyền Vatican như Chính Thống, Anh Giáo và Tin Lành. Vatican tổ chức những đoàn quân cũng mang danh là Thập Tự Quân đi đàn áp những kẻ ly khai đó. Trường hợp rõ nét nhất là cuộc Thập Tự Chinh lần thứ tư (1201-1204) Vatican đánh chiếm hoàn toàn lãnh thổ đế quốc Byzantine của Chính Thống Giáo. Vậy có nên coi cuộc thập tự chinh này là một trong những cuộc Thập Tự Chinh chống Hồi Giáo hay không? Nhiều sử gia trả lời là có vì mục tiêu chính của Vatican là triệt hạ một đồng minh mới của Hồi Giáo.



2. Nhiều con cháu của thập tự quân trở thành Hồi Giáo

Những thập tự quân Âu Châu đến Jerusalem trong cuộc viễn chinh đầu tiên năm 1096, sau mấy chục năm định cư tại đây, họ dần dần hiểu được thực tại và tỉnh ngộ chứ không còn cuồng tín như trước. Vì tại Jerusalem không có phụ nữ Âu Châu nên lính thập tự đều lấy vợ Ả Rập Hồi Giáo. Từ thế hệ thứ hai, thứ ba trở đi, hầu hết con cháu của thập tự quân đều thành người Hồi Giáo. Do đó, khi xảy ra cuộc thập tự chinh thứ hai (1147 tức sau 51 năm) và thập tự chinh thứ ba (1190, tức sau lần thứ nhất gần một thế kỷ) những con cháu của thập tự quân đợt đầu đều rất thù ghét những người Âu đến sau. Họ là những chiến sĩ Hồi Giáo chống đối mãnh liệt nhất những đợt thập tự chinh 2 và 3.



3. Nạn buôn nô lệ:

Các cuộc chiến tranh của thập tự quân tại Trung Đông đã làm cho tệ nạn buôn bán nô lệ trở thành một kỹ nghệ phát đạt. Cả hai phe Hồi Giáo cũng như thập tự quân đều chú tâm bắt sống tù binh và bắt thường dân ở các vùng chiếm đóng để đem bán tại các chợ ở khắp miền Trung Đông. Các thiếu nữ đẹp luôn luôn là một món hàng đắt giá nhất được các nhà giàu hoặc các quan quyền mua về làm tì thiếp hay nô lệ tình dục.



4. Giá máu quá đắt cho một chuyện hoang đường.

Trong suốt năm 1095, Giáo Hoàng Urban II đi khắp các nước Công Giáo Âu Châu kích động quần chúng tín đồ đầu quân tham gia đoàn quân thập tự hoặc đóng góp tiền bạc để tài trợ cho cuộc chiến thần thánh nhằm bảo vệ ngôi mộ của Chúa. Nhưng ngôi mộ của Chúa (The Holy Sepulchre) chỉ là chuyện hão huyền vì nó chẳng bao giờ có. Nếu Chúa đã sống lại và lên trời thì làm gì có mộ của Chúa? Còn nếu Chúa đã bị quân La Mã đóng đinh trên thập giá thì theo luật của La Mã là mọi tử tội đã chết trên thập giá phải bị vứt xác ra bãi hoang cho kên kên và chó hoang ăn thịt. Trong lịch sử La Mã tuyệt đối không có chuyện xác tử tội được trao cho người nhà đem về chôn cất tử tế ở trong mồ. Jesus bị quân La Mã xếp vào loại tử tội nguy hiểm chẳng lẽ lại được La Mã dành cho một đặc ân ngoại lệ duy nhất là trao cho người nhà đem về chôn trong mồ hay sao? Chuyện ngôi mộ của Jesus là một chuyện hão huyền của bọn đại bịp. Nhưng câu chuyện hão huyền ấy đã làm đổ máu của ba triệu người, trong số đó có ít nhất là 60.000 trẻ em.

Sử gia Lloyd M. Graham đã viết về vấn đề này như sau: "Chúng ta hãy quan tâm đến những cuộc chiến tranh của Thập Tự Quân, đó là những cuộc chiến tranh khủng khiếp nhằm bảo vệ "ngôi mộ của thánh Chúa mà nó chẳng bao giờ có, thế mà ba triệu người đã bị giết một cách vô ích, trong số đó có sáu mươi ngàn trẻ em".

(Consider the Crusades, those hellish wars for a "holy sepulchre" that never existed, three million people neeedlessly butchered, among them sixty thousand children - Deception and Myths of the Bible, page 350).

Ba triệu sinh mạng là giá máu quá đắt mà nhân loại đã phải trả cho một chuyện hoang đường của tà đạo đa thần Công Giáo La Mã. Ba triệu người đã tức tưởi chui xuống những nấm mồ có thật chỉ vì một nấm mồ không có thật của một người được mệnh danh là Chúa Cứu Thế!


Charlie Nguyễn
Monday July 7, 2008 - 08:30am (PDT) Permanent Link | 0 Comments
Bà Bầu Thi Hoa Hậu
Bà bầu đi thi hoa hậu
Phụ nữ luôn luôn là phái đẹp, ngay cả lúc họ nặng nề nhất- mang bầu. Ngày xưa thi sĩ Bulgari Dimitrova gọi người phụ nữ Hà Nội trong chiến tranh mang bầu như mang cả trái đất trong bụng. Và quả thật, ngoài ý nghĩa tinh thần, thể chất của họ vẫn toát lên một vẻ đẹp đặc biệt. Không tin bạn oi loạt ảnh dưới đây thì biết.v
Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog

Image for Nguyen Viet Hoai Nam's blog
Sunday July 6, 2008 - 08:32am (PDT) Permanent Link | 2 Comments
10 CÁCH RÈN LUYỆN CHO NÃO KHỎE, 10 CÁCH RÈN LUYỆN CHO NÃO KHỎE

Rèn luyện thân thể không thể bỏ qua việc rèn luyện não, bảo đảm cơ quan điều khiển cơ thể luôn có sức khoẻ để hoàn thành tốt nhiệm vụ tham mưu cho hoạt động của con người. Có những cách tập sau đây:

1. Quan sát:

Chú ý quan sát sự vật xung quanh và luôn ghi nhớ trong óc những điều cần thiết, tất nhiên, quan sát phải kèm phân tích động não.

2. Nghe:

Luôn nghe nhạc mình ưa thích để giúp tăng cường trao đổi chất trong tế bào não, rèn luyện nâng cao khả năng điều khiển việc nghe của thần kinh, giúp trí óc thông minh hơn.

3. Nghĩ:

Luôn suy nghĩ là cách tốt nhất rèn luyện não. Ai muốn thông minh đều cần hoạt động não nhanh nhẹn và biết suy nghĩ. Ngược lại, người không chịu suy nghĩ não thường lão hoá nhanh, giảm khả năng hoạt động rõ.

4. Đọc:

Cần đọc sách báo nhiều vì đó là nguồn cung cấp thông tin quan trọng, giúp cho kho dữ liệu cơ sở của óc - nền tảng của sự thông minh, đầy đủ tiềm lực. Cần đọc sách để tiếp thu kiến thức. Tránh đọc quá nhiều sách tiêu khiển, hoạt hình, truyện vui…

5. Động:

Thực hiện các hoạt động tinh tế khéo léo như vẽ, kẻ chữ, đánh đàn…cũng như luyện tập thể dục thể thao khéo léo linh hoạt, có độ khó cao để nâng cao hoạt động trí lực.

6. Nói:

Não điều khiển việc nói, qua nói giúp cho khả năng tổng hợp logic, thể hiện…của não. Tất nhiên, không chỉ nói nhiều, nói vui pha trò…mà cần thể hiện triết lý tổng hợp sâu sắc, nội dung phong phú, sáng tạo, hấp dẫn.

7. Oxy:

Não cần nhiều ôxy hơn bất cứ bộ phận nào trong cơ thể. Não đủ ôxy sẽ hoạt động với hiệu suất cao hơn. Khi não hoạt động, nhất thiết phải có không khí trong lành sạch sẽ, không hút nhiều thuốc lá.

8. Vui vẻ:

Vui vẻ thoải mái, luôn tươi cười làm não phát huy hết công suất hoạt động. Cần giao thiệp rộng, biết vui cùng bạn bè, gia đình. Tâm hồn thoải mái hưng phấn, vui tươi nhẹ nhàng, không cô độc, trầm lặng, thiếu sinh khí…tạo điều kiện tốt cho não làm việc suy nghĩ.

9. Ăn uống:

Bảo đảm cho não hoạt động tốt, ăn uống cần ổn định, cân bằng, hợp lý. Cần nhiều vitamin C, thức ăn giàu đạm, rau quả tươi, đậu, các loại thịt nạc, cá…

10. Ngủ:

Để não nghỉ ngơi thư giãn, quan trọng nhất là ngủ đủ, không ngủ quá dài để tránh não chìm đắm trong mê mệt, tiêu cực, não già, ít năng động

Sunday July 6, 2008 - 07:36am (PDT) Permanent Link | 0 Comments
Những mẫu đàn ông làm phụ nữ chết "đứ đừ"
Đã bao giờ bạn nghĩ rằng bạn chẳng có bất cứ một yếu tố nào để có thể cuốn hút được phái nữ? Đã bao giờ bạn tự ti vô cùng vì không thể có được những năng khiếu cưa cẩm thiên tài khiến các cô say bạn như điếu đổ hay sự hài hước "chết người" có thể chiếm lĩnh trái tim của mọi cô gái như Jon Stewart? Đừng căng thẳng quá thế. Phụ nữ đôi khi bị "chết đứ đừ" vì những thứ giản đơn hơn thế nhiều.

Nghiên cứu được thực hiện với các chuyên gia tư vấn tâm lý và phụ nữ trên toàn cầu đã cho thấy một kết luận khá thú vị về những gì làm cho phụ nữ ấn tượng. Và thật ngạc nhiên là hầu như ai cũng sở hữu ít nhất... một trong những yếu tố lôi cuốn ấy. Vấn đề là làm cách nào sử dụng và phát huy những điểm mạnh ấy. Dưới đây là 6 mẫu đàn ông dễ làm cho phụ nữ "tan chảy" nhất.

Phụ nữ yêu những anh chàng... kiệm lời

Không nghi ngờ gì về việc phụ nữ bao giờ cũng thích được nói chuyện nhiều với người đàn ông đối diện về cuộc sống của anh ấy. "Phụ nữ thích được trò chuyện và khi giao tiếp say sưa, họ gần như bị tan chảy", Giáo sư Emerson E. Eggerichs, tác giả cuốn sách Love and Respect (Tạm dịch: Tình yêu và sự Tôn trọng) khẳng định.

Tất nhiên, khi nghe thấy điều này, đàn ông sẽ nghĩ mình cần phải nói thật nhiều, nói thao thao bất tuyệt về mọi cảm giác mà bạn có, thậm chí cả về những thứ mà bạn không cảm thấy. Sai! Theo Eggerichs, phụ nữ không cần sự lắm lời của bạn. Sự thật là cô ấy có thể "đọc" được tất cả những điều ấy qua đôi mắt bạn, "đọc" mà không cần bất cứ một lời giải thích dài dòng nào.

Vì vậy cách đơn giản nhất để làm hài lòng cô ấy là ngồi đối diện mặt đối mặt, nhìn thật sâu vào mắt và hành động bằng những cử chỉ yêu thương nhất như nắm tay hoặc... vuốt ve khuôn mặt của cô ấy. "Một cách rất bản năng, phụ nữ luôn thích người đàn ông ngắm nhìn họ", Eggerichs giải thích: "Trong khi các bé gái thường giao tiếp bằng mắt với người lớn đang vây xung quanh bé thì các bé trai lại thường bị phân tán bởi bất cứ thứ gì như chiếc điện thoại, chiếc quạt trần hay bất cứ thứ gì trong tầm mắt".

Nhớ, kiệm lời khi cần thiết và học cách giao tiếp thành công bằng mắt, đó mới chính là con đường nhanh nhất đến với trái tim của cô ấy.

Phụ nữ yêu một cơ thể... hơi lông lá

Nghe có vẻ hơi điên rồ nhưng đó là sự thật. Một nghiên cứu ở Mỹ đã phát hiện ra rằng, phụ nữ bị cuốn hút hơn bình thường bởi những người đàn ông có... lông trên cơ thể. Theo kết quả nghiên cứu, những đàn ông có một lông ở ngực và phần bụng bao giờ cũng cho thấy một sức khoẻ tốt, hóc môn năng động và quan trọng là một dấu hiệu tốt cho thấy khả năng của anh ta trong "chuyện ấy".

Bạn cần một bằng chứng ư, hãy nghe lời tâm sự của một cô gái: "Tôi luôn bị cuốn hút bởi những chàng trai sáng sủa, có một chút lông ngực thấp thoáng sau áo sơ mi. Nó giống như một lời chỉ dẫn về anh chàng rằng: Tôi có thể có một công việc hơi tẻ nhạt, nhưng trong tôi là một gã hoang dại, tràn đầy sức sống".

Phụ nữ yêu những người đàn ông biết thể hiện cảm xúc

Hầu hết đàn ông đều có kinh nghiệm đau thương, thậm chí ám ảnh trong những trận đấu thể thao chuyên nghiệp trước mặt phái nữ. Nhưng theo David Wygant, tác giả cuốn sách Always Talk to Strangers thì những cảm xúc bạn thể hiện một cách tự nhiên với đồng đội của mình sẽ không làm cho bạn bị yếu đuối trước nàng mà còn làm cho nàng cảm thấy gần gũi với bạn hơn.

"Đàn ông thường cố gắng che dấu những cảm xúc thật của mình, những giọt nước mắt cay đắng của mình trước phụ nữ hoặc với ngay cả những đồng đội ở ngoài sân, nhưng sau một thời gian bao giờ bạn cũng cần giải phóng cảm xúc ấy". Sự thật là, sự yếu đuối, thậm chí là cả những giọt nước mắt mà bạn rơi xuống vì những xúc cảm của thể thao, của đồng đội, của trận đấu không làm cho bạn uỷ mị trước nàng. Ngược lại nó cho thấy một người đàn ông nhạy cảm ở trong bạn. Hãy ôm chặt và chia sẻ cảm xúc thật của mình với đồng đội sau khi đội chiến thắng hay thua cuộc. Đó sẽ là điểm thưởng của nàng cho bạn đó.

Phụ nữ yêu người đàn ông... không hoàn hảo

Đừng nghĩ rằng phụ nữ chỉ thích những anh chàng hoàn hảo không tỳ vết. Thực tế cho thấy bên cạnh những điểm không thể không yêu thích ở bất cứ người đàn ông nào thì bạn cũng nên sở hữu một chút... sự thiếu hoàn hảo để cân bằng. "Hầu hết phụ nữ thích người đàn ông có chút tính cách hoang dã một chút, thiếu hoàn hảo một chút để họ không phải lúc nào cũng căng mình ra cư xử vẹn toàn mọi lúc mọi nơi", Nancy Slotnick, tác giả cuốn Get Your Dream Man in 6 Months or Less, nói. Nếu như người phụ nữ luôn phải chịu áp lực căng mình ra để đáp ứng yêu cầu hoàn hảo tương xứng với bạn thì có nghĩa là mối quan hệ của hai bạn đã thất bại. Một cô gái kể lại: "Anh ấy nói anh ấy muốn được ở bên cạnh tôi, bảo vệ tôi khi có chuyện gì xảy ra. Điều đó khiến cho tôi có cảm giác mình như một cô gái nhỏ đang được chăm sóc. Điều đó thực sự rất cuốn hút".

Không tuân theo chuẩn mực chung cũng là một cách tạo sự hấp dẫn. Bạn có thể sáng tạo những cuộc hẹn hơi có chút phiêu lưu mạo hiểm hoặc đơn giản chỉ là một cuộc hẹn bất ngờ không báo trước với cô ấy. Tất nhiên cũng đừng nên lạm dụng quá, đừng làm điều gì quá thiếu tôn trọng hoặc gây nguy hiểm với cô ấy.

Phụ nữ thường bị mê hoặc bởi những người đàn ông có tâm hồn nghệ sỹ...

Phụ nữ yêu những tâm hồn nghệ sỹ

Những nghiên cứu gần đây cho thấy một điều thú vị, những người đàn ông có tâm hồn nghệ sỹ như nhà thơ hay hoạ sỹ thì thường bao giờ cũng có từ 4 tới 10 người tình trong khi đó những người làm những nghề ít sáng tạo hơn bao giờ cũng chỉ có khoảng 3 người tình. Theo tác giả của nghiên cứu trên, Giáo sư Daniel Nettle, giảng viên tâm lý ở Đại học Newcastle, những người sáng tạo bao giờ cũng có khuynh hướng sáng tạo và có sức lôi cuốn. Bản thân công việc sáng tạo của họ cũng là một công việc rất hấp dẫn sự tò mò của người khác.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, số lượng phụ nữ "đi qua" cuộc đời của một nghệ sỹ cũng tăng khi anh ta dành nhiều thời gian cho công việc sáng tạo và dùng não phải nhiều hơn.

Đương nhiên như thế không có nghĩa bạn chỉ có thể quyến rũ phái nữ khi bạn là một nghệ sỹ. Ngay cả khi bạn là một nhà phân tích đầu tư tài chính thì bạn vẫn có thể chơi saxophone cơ mà. Chỉ cần nhớ điều này: Phụ nữ luôn bị thôi thúc bởi những người đàn ông sáng tạo.

Phụ nữ yêu những anh chàng... mê máy móc

Tường của bạn giăng đầy dây điện, loa đài. Phòng của bạn ngập bởi những đĩa game... Đừng nghĩ rằng những điều đó sẽ làm cho phụ nữ sợ hãi và tránh xa bạn. Ngược lại, những thứ ấy đôi khi lại làm cho phụ nữ cảm thấy bị kích thích hơn.

"Khi một chàng trai chỉ cho bạn gái sử dụng một số thiết bị mới, điều đó cho thấy sự thông minh của anh ấy", Andrea Miller, người sáng lập và CEO của Tango, một tạp chí về tình yêu thừa nhận. "Đôi khi tôi nhìn thấy bạn trai của tôi đang nhìn chằm chằm vào máy tính và say sưa như thể quên cả đất trời. Đó thực sự là điều cuốn hút không thể diễn tả nổi".

Tất nhiên, sự am hiểu và thông thạo các loại máy móc đến mức say mê của bạn cũng là một nét quyến rũ, đôi khi làm nàng "chết đứ đừ" nhưng như thế không có nghĩa là bạn có thể lợi dụng nó. Đừng ngại chia sẻ sự thích thú của bạn với nàng về những điều thú vị bạn thấy về ổ cứng máy tính. Nhưng như thế không đồng nghĩa với việc nàng có thể thức cả đêm với bạn để nghe về những điều thú vị ấy!
Saturday July 5, 2008 - 09:45pm (PDT) Permanent Link | 0 Comments

Add Tôi tên là Kì Vũ to your personalized My Yahoo! page:

Add to My Yahoo!RSS About My Yahoo! & RSS
1 - 5 of 122 First | < Prev | Next > | Last