"Everything is dust in the wind"
Đầu tiên, người ta đặt tên cho các tháng bằng các tính từ chỉ thứ tự:
- Tính từ đơn giản kết thúc bằng "ilis" như aprilis, tức là thứ 2 (đây là chỉ thứ tự chứ không phải là ngày thứ hai)
- Tính từ được gộp lại kết thúc bằng "ber" như september là rút ngắn của septem ab imbre, tức là thứ 7 sau tuyết. Tương tự như thế october (thứ 8), november (thứ 9), december (thứ 10).
Sau đó, người ta dành các tháng còn lại cho những vị thần:
- Tháng đầu tiên của năm là martius, tháng của thần chiến tranh Mars.
- Tháng thứ ba là tháng của Maïus (hoặc Maïa), vị thần thời tiền La Mã.
- Tháng thứ tư là junius, tháng của thần Junon, vợ của thần Jupiter, chúa tể của các vị thần.
Sau khi hết 10 tháng trong năm thì người La Mã đưa thêm số ngày cần thiết vào để cho đủ một năm, tức là 354 ngày. Những ngày thêm vào này ban đầu không có tên, nhưng về sau người La Mã chia nó ra làm 2 tháng nữa sau tháng december. Đó là junuarius, tháng của vị thần có hai bộ mặt thời tiền La Mã Janus, và februarius, tháng cho sự tẩy uế (trong tôn giáo). Tháng cuối cùng của năm này theo quan niệm là một tháng xấu, người La Mã nghĩ rằng tháng đó đem lại những điều bất hạnh, đến mức người ta phải tiến hành các buổi lễ để tẩy rửa những lỗi lầm đã phạm phải.
Tại sao februarius lại là một tháng bất hạnh? Cần phải biết rằng người La Mã cổ đại tin rằng số lẻ sẽ mang lại may mắn và hạnh phúc. Đó là lí do tại sao họ cho số ngày lẻ cho tất cả các tháng, và tháng cuối cùng có 27 ngày. Nhưng như thế thì một năm lại có 354 ngày, một con số chẵn. Để có một con số lẻ, 355 ngày, thì họ lại phải thêm vào một ngày cho tháng cuối cùng, 28 ngày, một con số chẵn và nó làm cho februarius trở thành một tháng của những điều bất hạnh.
Người cổ đại thường xây dựng lịch dựa trên sự vận hành của mặt trăng vì một số lí do như:
- Dễ dàng nhìn mặt trăng vào ban đêm vì ánh sáng của nó không nóng và gay gắt như mặt trời.
- Mặt trăng thay đổi hình dạng thường xuyên, từ tròn thành khuyết rồi lại tròn. Còn mặt trời thì khó có thể nhận thấy sự thay đổi của nó.
Ngoài ra còn có yếu tố về địa lí ảnh hưởng đến nên thời đó chỉ có duy nhất người Ai Cập đã tìm ra gần đúng số ngày trong năm là 365 ngày (thay vì 355 như lịch mặt trăng). Vì Ai Cập nằm gần như ngay trên đường Phân cực Hoàng đạo (Tropic of Cancer), 23°26′22″ từ xích đạo, cho nên người Ai Cập cổ đã nhận ra hiện tượng mặt trời chiếu thẳng trên đỉnh đầu. Tức là vào quãng mùa hè, nếu cắm một cái cọc thẳng đứng thì vào giữa trưa sẽ nhận thấy bóng của cây cọc trùng với gốc của nó trong vòng vài ngày. Ngày nay ta gọi ngày có hiện tượng đó là ngày Hạ chí và chỉ những nước ở Bắc bán cầu nằm từ xích đạo đến vĩ tuyến 23°26′22″ mới nhận thấy điều đó. Ngược lại ở Nam bán cầu thì hiện tượng đó quan sát được vào ngày Đông chí. Chính nhờ những quan sát đó mà người Ai Cập đã tìm ra gần chính xác số ngày trong một năm và xây dựng lịch dựa trên sự di chuyển của mặt trời. Dương lịch bắt đầu ra đời từ đó.
Năm 48 trước Công Nguyên, sau khi chiếm được Ai Cập Julius Ceasar đã tham khảo ý kiến nhà chiêm tinh học Sosigenes để xây dựng một bộ lịch mới. Năm 46 trước Công Nguyên, J.Ceasar đã cho bắt đầu một năm mới bằng ngày mồng 1 tháng 1 (ngày 1 junuarius) thay vì ngày mồng 1 tháng 3 (ngày 1 mars), và từ bỏ việc dùng lịch mặt trăng để thay sang dùng lịch mặt trời.
Từ đó mỗi năm có 365 ngày, hay 366 ngày vào những năm nhuận (4 năm có một năm nhuận). Một ngày được thêm vào của năm nhuận được đặt sau ngày 24 của tháng 2 (ngày 24 februarius) và được gọi là bis sexto ante calendas martii (6 ngày lần thứ hai trước khi vào tháng 3 = ngày 24 tháng hai lần thứ hai). Khi chuyển từ một năm 355 ngày sang một năm có 365 ngày thì có 10 ngày thừa ra. Số ngày này được chia cho các tháng trong năm và các tháng lần lượt có 30 hoặc 31 ngày, trừ tháng 2 (februarius) có 29 ngày.
Năm 38 trước Công Nguyên, tháng quintilis (ban đầu là tháng thứ 5, lúc đó đã trở thành tháng thứ 7) được đổi tên là julius (hiện nay tiếng Anh là July, tiếng Pháp là Juillet) để tỏ lòng kính trọng đối với Ceasar. Năm thứ 8 trước Công Nguyên, Nghị viện La Mã quyết định đổi tên tháng sextilis (ban đầu là tháng 6, lúc đó đã trở thành tháng 8) thành augustus (hiện nay tiếng Anh là August, tiếng Pháp là Août) để vinh danh cháu trai và là người thừa kế của Ceasar, Octave Auguste, người đã trở thành Hoàng đế đầu tiên của đế chế La Mã.
Để chứng tỏ rằng Hoàng đế Auguste vĩ đại không kém gì Ceasar, thì tháng augustus cũng phải có 31 ngày như tháng julius. Vì thế họ đã lấy của tháng 2 đen đủi (februarius) đi một ngày để đưa vào tháng 8 (augustus). Để tránh có 3 tháng liên tiếp có 31 ngày thì họ đã chuyển 31 ngày từ tháng 9 sang tháng 10 và từ tháng 11 sang tháng 12.
Bên cạnh đó tên gọi các ngày trong tuần cũng được đặt theo tên của 7 thiên thể được biết đến của thế giới cổ đại:
- Mặt trăng (tiếng Pháp mặt trăng là Lune) cho thứ hai: tiếng Latinh là Lunae dies (tiếng Pháp thứ hai là Lundi).
- Sao Hoả (Mars) cho thứ ba: tiếng Latinh là Martis dies (mardi).
- Sao Thuỷ (Mercure) cho thứ tư: tiếng Latinh là Mercurii dies (mercredi).
- Sao Mộc (Jupiter) cho thứ năm: tiếng Latinh là Jovis dies (jeudi).
- Sao Kim (Vénus) cho thứ sáu: tiếng Latinh là Veneris dies (vendredi).
- Sao Thổ (Saturne) cho thứ bẩy: tiếng Latinh là Saturni dies (samedi).
- Mặt trời (Soleil) cho chủ nhật: tiếng Latinh là Solis dies (dimanche).
Có sự thay đổi khá xa trong cách gọi ngày thứ bẩy và ngày chủ nhật của người Pháp từ gốc Latinh là vì:
- Ngày thứ bẩy: ngày của Saturne về sau bị gọi thành Sabbati dies, tức là ngày Sabbat. Đó là ngày nghỉ ngơi hàng tuần của người Do Thái.
- Ngày chủ nhật sau đó được gọi thành dies dominicus, tức là ngày dành cho Chúa, ngày mà các tin đồ Thiên chúa làm lễ ca ngợi sự Phục sinh của Chúa.
Về căn bản lịch mặt trời mà J.Ceasar đưa ra đã phù hợp với sự thay đổi thời tiết và các mùa trong năm vì thế nó được chấp nhận và phổ biến đi khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên vẫn có một chút nhỏ sai lệch về độ dài trung bình của một năm, do đó sau 1500 năm, lễ Phục sinh đã gần như trượt xuống vào mùa hè. Điều này gây nhiều phiền phức cho Nhà thờ La Mã nên sau khi lên ngôi, Giáo Hoàng Gregory XIII đã cho cải cách lại Dương lịch, bớt đi 10 ngày khỏi lịch, đặt lại cách tính năm nhuận. Và đó chính là bộ lịch mà chúng ta vẫn dùng cho tới ngày nay.
(sưu tầm và tổng hợp)
Để giải quyết vấn đề này thì Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần VI (1986) đã tạo tiền đề cho sự đổi mới. Sự đổi mới về kinh tế ở đây là xoá bỏ nền kinh tế bao cấp, thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Về mặt cơ chế thì đó là một nền kinh tế thị trường nằm dưới sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Năm 1988 với Nghị quyết 10/NQ của Bộ Chính trị về đổi mới quản lí kinh tế nông nghiệp (còn được gọi là Khoán 10) chính thức đánh dấu bước chuyển mình của kinh tế Việt Nam.
Kể từ năm 1988, khi các hợp tác xã nông nghiệp bị giải thể, cho đến nay, khi các tập đoàn kinh tế đã hình thành và vươn chiếc vòi bạch tuộc của nó vào mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, thì Việt Nam đang ở đâu ?
1. Kinh tế :
* Sau khi bắt đầu mở cửa, thực thi nền kinh tế thị trường thì Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc. Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức xấp xỉ 7% đến 8% trong suốt một thập kỉ qua (GDP tăng trung bình 6,8% từ 1997 đến 2004. GDP năm 2007 đạt 8,5%). Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn nhận là nước ta có xuất phát điểm thấp nên mới có các con số tăng trưởng ấn tượng như vậy.
Về kinh tế thì mức tăng trưởng ngoạn mục năm 2007 đã nâng mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam lên 829$, xếp thứ 140 trên thế giới (theo số liệu của IMF). Vào năm 2008 thì chính phủ Việt Nam đã thông báo mức thu nhập bình quân đầu người đã đạt 1000$, sớm 2 năm so với chỉ tiêu đề ra. Theo như lộ trình của các nhà lãnh đạo Việt Nam thì trong vòng 12 năm tới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam sẽ đạt mức 2000$ để lọt vào nhóm các nước có nền kinh tế trung bình trên thế giới. Cùng với tăng trưởng kinh tế thì đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Thành tích trong xoá đói giảm nghèo của Việt Nam được thế giới đem ra như một ví dụ điển hình để các nước nghèo học tập.
* Những thành tựu về kinh tế mà Việt Nam đạt được trong những năm qua là điều không thể phủ nhận, như thế giới đang phải nhắc đến một Việt Nam đang trỗi dậy. Nhưng bên cạnh đó nền kinh tế thị trường cũng như đường lối phát triển dập khuôn theo Trung Quốc cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết mà Việt Nam chưa thể giải quyết được. Việc sử dụng lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng đã làm cho lạm phát tăng không kìm hãm được vào năm 2008. Lạm phát là một dao hai lưỡi, việc dùng lạm phát kích thích kinh tế tăng trưởng đã được các nước như Mỹ, Trung Quốc… sử dụng, nhưng để phát huy mặt tích cực của lạm phát thì cần phải có một đội ngũ quản lí có trình độ và phối hợp nhịp nhàng. Còn như ở nước ta, khi các ban ngành vẫn còn tình trạng « trống đánh xuôi, kèn thổi ngược » thì lạm phát vượt ra khỏi mức kiểm soát là điều không có gì đáng phải ngạc nhiên.
* Nhiều chuyên gia kinh tế nước ngoài cũng chỉ trích Việt Nam chỉ tập trung vào tăng GDP. Nhằm vào mục tiêu này, Việt Nam đã huy động một nguồn vốn lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài, vốn ODA, kiều hối và các nguồn trong nước. Tuy vậy khi tính GDP thì Việt Nam lại cộng cả những dự án phá sản, những dự án không hiệu quả vào. Trong khi đó GDP chỉ phản ánh được kích cỡ của một nền kinh tế mà không đánh giá được chính xác mức sống của người dân. Ngoài một số nước như Trung Quốc, Việt Nam…chỉ chú trọng vào tăng mức GDP thì các nước phát triển khác, khi đặt ra đường lối phát triển họ quan tâm nhiều hơn đến thuế, hỗ trợ công nghiệp – nông nghiệp, chính sách xã hội, đầu tư giáo dục…
* Vài nhược điểm khi sử dụng chỉ số GDP :
+ GDP không tính đến sự hài hoà khi phát triển, như tăng trưởng GDP cao nhờ khái thác tài nguyên quá mức.
+ GDP tính cả đến những việc không đem lại lợi ích và không tính đến những hiệu ứng tiêu cực. Như việc Vedan làm ô nhiễm sông Thị Vải thì việc đầu tư cải tạo lại môi trường cũng làm tăng GDP.
+ GDP không phản ánh trung thực sự phân chia lợi ích trong một nước. GDP cao có thể do một nhóm người giàu có đem lại cho nền kinh tế, còn đa số dân chúng sống dưới mức nghèo khổ.…
Nền kinh tế thị trường đem lại một bộ mặt mới cho Việt Nam nhưng nó đào sâu sự phân cách giàu nghèo trong xã hội. Đây là điều tất yếu sẽ xảy ra khi đi theo hướng kinh tế mở. Các nước phương Tây cũng đã trải qua thời kì này và hiện nay họ đã có những chính sách về thuế, hỗ trợ xã hôi… để giảm thiểu sự ngăn cách đó. Còn Việt Nam thì vẫn đang loay hoay tìm cách đi cho riêng mình.
* Việc hình thành các tập đoàn tư bản nhà nước đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của đông đảo quần chúng nhân dân. Trong một môi trường cạnh tranh không lành mạnh, khi các tập đoàn liên tục được nhà nước bơm tiền thì các công ty tư nhân khó có thể đứng vững nổi. Sự độc quyền cũng khiến cho người tiêu thụ sản phẩm bị ép về giá cả với một chất lượng phục vụ không tương xứng. Điều đáng lo ngại hơn nữa là các tập đoàn tư bản nhà nước đang có xu hướng thoát dần ra khỏi tầm kiểm soát của nhà nước. Hiện nay, các tập đoàn tư bản đang chuyển sang đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Một khi họ nắm trọn được nền kinh tế thì tức là họ có thể thao túng được cả xã hội. Vừa rồi báo chí có đả phá một thứ văn hoá FTP không giống ai, nhưng nếu 10 năm nữa, FTP nắm trọn các phương tiện truyền thông đại chúng thì ai sẽ phê phán họ đây ?
* Việt Nam qua bảng thống kê của GS/TS Trần Văn Hiển :
"Năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm là sự tích hợp của nhiều yếu tố. Theo quan niệm của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào 9 tiêu chí chủ yếu là: thể chế kinh tế; hệ thống cơ sở hạ tầng; năng lực kinh tế vĩ mô; hệ thống giáo dục và y tế phổ thông; trình độ giáo dục đại học; hiệu quả vận hành của cơ chế thị trường; mức độ sẵn sàng về công nghệ; mức độ hài lòng doanh nghiệp và mức độ sáng tạo.
Với hệ thống tiêu chí nói trên, năm 2006, Việt Nam được WEF xếp hạng 77/125 quốc gia, tụt 3 bậc so với năm 2005.
Xét theo từng tiêu chí, tình hình cụ thể như sau: thể chế kinh tế xếp thứ 74; cơ sở hạ tầng xếp thứ 83; kinh tế vĩ mô xếp thứ 53; hệ thống giáo dục và y tế phổ thông xếp thứ 56; giáo dục đại học xếp thứ 90; hiệu quả của cơ chế thị trường xếp thứ 73; mức độ sẵn sàng về công nghệ xếp thứ 85; mức độ hài lòng doanh nghiệp xếp thứ 86 và mức độ sáng tạo xếp thứ 75.
So sánh năng lực cạnh tranh của Việt Nam với một số nước trong khối ASEAN mà WEF có xếp hạng cho thấy: Singapore xếp thứ 23; Malaysia xếp thứ 26; Thái Lan xếp thứ 35; Indonesia xếp thứ 50; Philippines xếp thứ 71; Campuchia xếp thứ 103.
Như vậy Singapore giữ vị trí dẫn đầu, Việt Nam chỉ xếp trên Campuchia. Còn đối với các nước Lào, Brunei, Myanmar. WEF không xếp hạng về năng lực cạnh tranh.
Đánh giá về mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh năm 2006, Ngân hàng thế giới (WB) và Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) xếp Việt Nam thứ 104 trên 175 nền kinh tế được đánh giá, tụt thêm 6 bậc so với năm 2005.
So sánh môi trường kinh doanh của Việt Nam với 23 nền kinh tế khu vực châu Á- Thái Bình Dương, WB và IFC xếp hạng như sau: Singapore xếp thứ 1/23; Thái Lan xếp thứ 3/23; Malaysia xếp thứ 4/23. Việt Nam tụt lại rất xa, xếp thứ 17/23."
Trích http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/keugoidautu/2007/02/660251/
Hai năm sau.
Trận cãi nhau kịch liệt bắt đầu khi bố gã đi làm về. Nó chỉ kết thúc khi bố gã xếp đồ đạc vào vali rồi gọi taxi bỏ đi. Mẹ gã sau một hồi chửi rủa, đập phá thì cũng bỏ đi khi có người đến gọi. Gã mở cửa phòng, đi xuống dưới nhà. Cả phòng khách tan hoang như sau một trận bão. Gã nhặt tấm ảnh bố mẹ gã lồng trong khung kính đã vỡ nát để lên trên bàn rồi đi vào nhà tắm. Từ ngày bố mẹ gã đưa nhau ra toà, gã tự thu mình lại sống lặng lẽ trong căn phòng của gã.
Với tay bật công tắc điện, gã thờ ơ nhìn cái bóng của gã trong gương như một sinh vật xa lạ. Gã không hiểu tại sao chỉ trong vòng vài tháng, mọi người lần lượt rời bỏ gã ra đi. Gã vặn vòi cho nước chảy tràn trong lavabo rồi giương cặp mắt vô hồn nhìn theo dòng nước trôi đi và biến mất nơi chiếc lỗ tròn tối tăm. Hùng, người bạn thân nhất của gã đã mất sau vụ tai nạn xe máy. Còn gã, người lái chiếc xe đó thì lại lành lặn hoàn toàn. Tiếng nước vẫn rơi xuống róc rách khi gã với tay lấy chiếc dao cạo thường vẫn đặt trên giá.
Bố mẹ gã quyết định chia tay nhau, ai cũng cố lôi kéo gã về với họ nhưng đáp lại thì gã chỉ im lặng. Gã khẽ miết lưỡi dao ngọt sắc lên cổ tay trái, nơi hồi bé mỗi lần gã dùng ngón tay cái ấn vào để thấy thành mạch máu nẩy lên theo nhịp của tim. Một giọt máu trào ra, lăn vòng theo cổ tay và rơi xuống dòng nước đang chảy. Nó vỡ tan ra hoà vào dòng nước thành những tia đỏ li ti. Mắt hắn như ngây dại nhìn dòng nước trong vắt chảy trên nền trắng, xen vào đó là những tia màu hồng ngọc huyền ảo như trong những ly rượu vang thượng hạng.
Gã nhớ tới người con gái ngắm sao băng ngày nào. Điều gã ước trong đêm đó là dành cho gia đình gã. Nhưng ngay đến cuộc đời ngắn ngủi của nó chỉ để in lên nền trời một vạch sáng, thì làm sao sao băng có thể biến điều gã ước thành hiện thực được. Những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời kia, trông thì thật gần nhưng khoảng cách giữa chúng là hàng nghìn năm ánh sáng. Hỏi đã có được mấy ngôi sao đến được bên nhau. Gã ấn sâu lưỡi dao vào cổ tay. Máu tràn ra xối xả,máu hoà đỏ làn nước trong vắt chảy ra từ vòi. Trông như có một lớp lụa mỏng mảnh bị gió thổi lướt trên nền men trắng.
Gã cứ ngây dại nhìn theo dải lụa đỏ đó phấp phới rồi biến mất. Mắt gã hoa lên, rồi gã thấy mình lạc vào một bầu trời đầy sao. Phía trước gã là Mặt trời chói loà, sau lưng gã là hàng ngàn ngôi sao sáng rực lên. Gã nghe thấy tiếng cười của mẹ gã, rồi tiếng bố gã gọi gã trong trò trốn tìm thuở thơ ấu. Gã lao đi tìm và lạc lối giữa những vì sao.
---
Cô gái vừa cất tiếng hát vừa xỏ tay vào chiếc áo khoác mới được tặng. Cuối cùng cô cũng tìm được chàng hoàng tử trong mơ của cô. Mỗi lần chiếc xe thể thao màu nhũ bạc dừng lại trước cổng trường đón cô là cô lại thấy trong mắt bạn bè ánh lên sự ghen tỵ. Còn anh, người đã chỉ cho cô thấy những ngôi sao băng, người đã ở bên và giúp đỡ cô trong hai năm qua đã trôi ra khỏi cuộc sống hàng ngày của cô. Từ hai tháng nay cô ẩn nick với anh mỗi khi online. Trong những lần chat cuối cùng, cô tỏ ra khó chịu và bực bội khi anh gọi cô và hình như anh cũng hiểu. Cô cũng đã cố gán ghép anh với một cô bạn thân của cô nhưng anh không để ý. Sáng nay, một người bạn nhắn tin offline cho cô cái link về sao băng trên mạng. Cô định tối nay đi ngắm sao băng và sẽ ước một điều ước cho anh, cho những gì mà anh đã làm cho cô.
Thấy cô chuẩn bị đi khỏi nhà, mẹ cô gọi giật lại hỏi đi đâu vào cái thời tiết này. Cô giật mình chạy ra mở cửa. Mây đen đang kéo tới tràn ngập cả bầu trời. Ở đâu đó giữa hai đám mây thấy le lói ra một ánh sao rồi chìm vào phía sau những đám mây. Một cơn gió thổi ào tới hắt vào má cô những giọt nước lành lạnh.