Yahoo! 360° News | Beta Feedback
Start your own Yahoo! 360° page

Son Thanh T < Y! ID: my_countr... >

Top Page  |  Blog  |  Friends  |  Lists

Add

Son Thanh T is not connected to you in Yahoo! 360°.

Last updated Fri Mar 14, 2008 Member since September 2006

Total Page Views

4,901

Nhân loại tiến triển qua các thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt. Chúng ta còn có thời kỳ đồ đểu\. Nước mình đang ở thời kỳ đồ đểu\... Tags: | Edit Tags--> Click here Reply

1 - 5 of 35 First | < Prev | Next > | Last

Son Thanh T's Blog Full Post View | List View

Hello everyone.

SOS Bao Lam-Thi Tran Bo Xit Tai Lam Dong Entry for March 15, 2009
SOS Bảo Lâm - Thị Trấn Bô Xít Tại Lâm Đồng

Lý Nam Bình

Lý Nam Bình
Ký sự đặc biệt cho Đài Chân Trời Mới - www.radiochantroimoi.com

(Slide Show - Bấm Vào Để Xem)

Theo quốc lộ 20, từ Sài Gòn về Đà Lạt đến Bảo Lộc ngay tại ngã 3 Lộc Sơn quẹo trái 15 cây số nữa sẽ đến thị trấn Bảo Lâm. Nơi đây là tổng hành dinh điều hành khai thác Bô Xít ở Lâm Đồng. Đến trung tâm thị trấn, ngay chỗ chợ Bảo Lâm, theo mũi tên chỉ dẫn quẹo trái vào 200m sẽ đến khu điều hành khai thác Bô Xít. Nơi đây bao gồm nhà ở của các chuyên gia Trung Quốc và các quan chức của tập Đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam. Còn mỏ Bô Xít thì cách đó chừng 5 km. Cả một vùng trên 100 mẫu đã được san bằng nằm giữa 3 khu vực: Thị trấn Lộc Thắng- xã Lộc Phú và xã B’Lá. Hai xã này đều thuộc huyện Bảo Lâm

Khác với sự dè dặt trên ĐăkNông, tại Bảo Lâm người ta thoải mái nói về Bô Xít hơn. Từ quốc lộ 20 có bảng chỉ dẫn đường vào vùng khai thác mỏ và nơi điều hành khai thác. Và an ninh cũng có phần lỏng lẻo hơn ĐăkNông nhiều.

Host unlimited photos at slide.com for FREE!

Cửa ngỏ vào Bảo Lâm. Từ Bảo Lộc đi vào 15 cây số
Host unlimited photos at slide.com for FREE!

Bảng chỉ đường vào tổng hành dinh của Công ty khai thác Bô Xít tại Bảo Lâm

Người Trung Quốc bao gồm các chuyên gia và công nhân tràn ngập thị trấn Lộc Thắng. Các hàng quán phục vụ người Trung Quốc mọc lên rất nhiều bằng các bảng hiệu song ngữ Việt - Tàu. Theo một cán bộ phòng Lao Động thương binh tại thị xã Bảo Lộc thì hiện nay có khoảng 500 người Trung Quốc gồm các chuyên gia và công nhân đang phục vụ mỏ và cho biết khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ có hơn 6000 người Trung Quốc phục vụ tại đây.

Các chuyên gia Trung Quốc thì ở ngoài thị trấn Lộc Thắng trong khu cao cấp biệt lập nằm ven thị trấn trên một hồ nước thơ mộng. Cuối tuần khu này vắng vẻ do họ về Sài Gòn hay lên Đà Lạt ăn chơi. Họ đi lại bằng xe biển số xanh 49B do tỉnh Lâm Đồng cung cấp. Còn công nhân Trung Quốc thì ở ngay tại khu mỏ. Từ thị trấn Lộc Thắng đi 5 Cây số về hướng ĐăkNông đến ngã 3 Cát Quế, họ sống trong những ngôi nhà thấp lè tè lợp tôn màu xanh. Hiện có khoảng 8 dãy nhà dành cho công nhân ở. Chúng tôi gặp chị Hương đang lo nấu ăn cho 1 dãy nhà gồm 45 công nhân Trung Quốc cho biết: “ Hiện có khoảng 300 công nhân Trung Quốc ở đây, mỗi dãy nhà họ thuê 2 người nấu ăn, lương mỗi người là 150 000 VND. Theo chị Hương thì cách ăn uống của công nhân Trung Quốc khác lạ, buổi sáng ăn cháo trắng với cá khô kho mặn và họ sống rất hà tiện. Họ giao 700 ngàn đồng (cỡ 40 Mỹ Kim) cho chị Hương bảo phải đi chợ nấu ăn cho 45 người. Không riêng gì nhóm chị Hương mà người nấu cho các nhóm khác đều kêu ca. Người dân thị trấn Lộc Thắng cho hay mỗi sáng sớm và chiều tối hàng tốp công nhân Trung Quốc kéo nhau đi dạo và vào các hàng quán. Một điều dễ nhận là họ mua cái gì cũng trả giá từ cục xà phòng, hộp kem dù giá bán lẻ in ngay ngoài vỏ hộp nhưng họ cũng trả thấp hơn một phân nữa.

Host unlimited photos at slide.com for FREE!

Những dãy nhà bên trong hàng rào là nơi ở của chuyên gia Trung Quốc
Host unlimited photos at slide.com for FREE!

Những dãy nhà ở của công nhân Trung Quốc
Host unlimited photos at slide.com for FREE!

Hai công nhân Trung Quốc trên đường từ khu vực mỏ bô xít đến chỗ hàng quán phục vụ
Host unlimited photos at slide.com for FREE!

Những cửa hàng phục vụ chuyên gia và công nhân Trung Quốc tại Bảo Lâm

Anh Hoàng Văn Xướng, một công nhân lao động phổ thông, 20 tuổi ở ngay thị trấn Lộc Thắng cho hay hiện có rất nhiều người dân địa phương và người miền Bắc vào làm công nhân tại mỏ. Giá tiền công là 90 ngàn cho một ngày làm việc. Đó là công giá sau khi qua các tay cò trung gian, nếu làm trực tiếp cho các người thầu Trung Quốc thì giá được trả là 150 ngàn VND . Công việc chính của các công nhân Việt Nam là đào móng và các việc lặt vặt khác. Mỗi ngày có khoảng 300 người Việt nam làm việc nơi đây.

Anh Nguyễn Văn Quốc, 25 tuổi, người Đà Nẵng, kỹ sư tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng làm việc tại đây được 3 tháng cho biết anh đang làm việc chung với nhóm chuyên gia Trung Quốc và có 4,5 thông dịch viên. Công việc của anh là hướng dẫn công nhân Việt nam đào các móng. Mỗi trụ móng 1mét vuông nhưng chiều sâu đến 13,5 mét. Khu nhà máy rộng đến 60 hecta, chỉ làm đúng kích cỡ do các chuyên gia Trung Quốc chỉ dẫn, sau đó họ đem nhà máy của họ qua đây lắp vào các trụ móng đào sẵn. Anh Quốc cũng cho biết lương kỹ sư của anh là 6 triệu đồng 1 tháng thấp hơn lương công nhân Trung Quốc là 10 triệu đồng. Công nhân Trung Quốc họ đến từ các vùng miền núi, nông thôn không có học hành gì. Anh Quốc dẫn chúng tôi vào sâu trong vùng mỏ. Đi đâu cũng thấy bảng chỉ dẫn bằng 2 thứ tiếng: Việt- Hoa.

Một cán bộ làm việc tại văn phòng UBND huyện Bảo Lâm cho biết nhà máy đã khởi công gần 1 năm nay rồi, nhưng công tác đào tạo đã chuẩn bị trước đây 4 năm. Học Đại Học 4 năm thì học ở Trung Quốc, các sinh viên là con em địa phương, thi đại học Bách Khoa Sài Gòn hay Bách Khoa Đà Nẵng bị rớt mà trên 10 điểm cho 3 môn thì được gởi đi học 4 năm ở Trung Quốc. Toàn bộ chi phí do phía Trung Quốc đài thọ. Khóa đầu tiên hơn 50 em đã học được 3 năm rồi. Còn học hệ Cao Đẳng thì học tại Hải Phòng, công nhân học hệ Trung cấp thì học ở Bảo Lộc

Anh Nguyễn Tín, người dân thị trấn Lộc Thắng cho biết thêm, toàn bộ đợt đầu đi học là con của cán bộ huyện Bảo Lâm và thị xã Bảo Lộc, còn dân thường muốn gởi con đi học thì phải tốn 25 triệu đồng lo lót. Các đợt sau thì rẻ hơn chỉ 20 triệu thôi, anh cũng muốn gởi con anh đi học xuất ngoại cho biết nhưng con anh không chịu do sợ tốn kém gia đình.

Người dân Lộc Thắng thì đi đâu cũng bàn tán xôn xao về mỏ Bô Xít. Họ kể về những gia đình được nhận đền bù tiền giải tỏa để giao mặt bằng nhận trên 1 tỷ đồng nhưng ra thị trấn hay xuống thị xã mua nhà vẫn không đủ. Có người không chịu đi bị cưỡng chế, sau đó tiền đền bù mất hơn 400 triệu trừ vào chi phí cưỡng chế. Có người tiếc vườn cà phê, vườn chè quyết ôm cột nhà không đi bị xe múc vào múc bể đầu chết ngay tại chỗ mà còn bị kết tội là chống người thi hành công vụ. Cũng có nhiều người nhận ra là Bô Xít rất độc hại. Họ biết rõ là Trung Quốc đóng cửa các nhà máy Bô Xít của họ và qua đây khai thác Bô Xít của mình nhằm tránh độc hại cho dân họ, còn dân mình thì lãnh hết hậu quả.

Host unlimited photos at slide.com for FREE!

Đường vào công trường khai thác mỏ bô xít tại Bảo Lâm
Host unlimited photos at slide.com for FREE!

Công trường khai thác bô xít nhìn từ xa
Host unlimited photos at slide.com for FREE!

Công trường khai thác bô xít nhìn gần

Từ ngã 3 Cát Quế ngay tâm điểm vùng mỏ tại Bảo Lâm đi khoảng 40 cây số nữa sẽ đến mỏ Bô Xít ở ĐăkNông . Dọc đường chúng tôi bắt gặp nhiều người dân tộc Châu Mạ sống đói khổ trong những căn nhà sàn xập xệ rách nát. Họ vẫn hồn nhiên trên những nương chè ngút màu xanh. Mùa này chè tươi được mua với giá 1000 đồng cho 1 kí lô. Những thung lũng mát màu xanh của thông, chè, cà phê có nguy cơ bị hủy diệt lần này không phải bởi chất độc màu da cam mà bởi những bụi đỏ và bùn đỏ của Bô Xít.

Rồi đây 20 năm nữa vùng hạ lưu sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, và Hồ Trị An sẽ nhiễm độc và các cháu bé bại liệt, què quặt, ngây ngô chắc sẽ được công kênh qua Tàu để kiện Bắc Kinh chăng? Những người đang nhẫn tâm đặt bút ký đủ loại quyết định cho Trung Quốc vào khai thác Bô Xít tại Trung Nguyên liệu lúc đó có còn sống để thấy hậu quả việc họ làm không?

Lý Nam Bình

Đảng viên Việt Tân tường trình từ Bảo Lâm- Lâm Đồng.
Ngày 8 tháng 3 năm 2009

free hit counters
Sunday March 15, 2009 - 07:09pm (PDT) Permanent Link | 0 Comments
SOS Đắk Nông

Chuyến Thị Sát Mỏ Bô Xít tại xã Nhân Cơ, Đắk Nông

Ngày 19 tháng 2 năm 2009

Ký sự đặc biệt cho Đài Chân Trời Mới

daknong1.jpg picture by Dang_2009

Đường vào Đắk Nông, cách Công Trường Bô Xít 20 km

daknong2.jpg picture by Dang_2009

Tới địa phận Đắk Nông

Theo đường quốc lộ 14, vừa qua khỏi địa phận tỉnh Bình Phước là đến địa phận tỉnh Đắk Nông. Huyện đầu tiên của Đắk Nông là huyện Đăk’R Lấp vẫn một màu xanh mát diệu của những vườn cà phê ngút ngàn. Mùa này cà phê đang trổ bông nên hương thơm ngào ngạt.

Hai bên đường, bụi đỏ của đất bazan phủ đầy lên những cụm hoa dại đang vào xuân. Thị trấn Kiến Đức, trung tâm của huyện Đăk’R Lấp đang hối hả nhịp sống những ngày sau tết. Trẻ con của người H’ Mông, Mơ Nông, Êđê, Stiêng vẫn tung tăng đến trường trong những bộ quần áo bám đầy bụi đỏ, nhàu cũ và không lành lặn, có những em bé thì áo không đủ nút.

Từ thị trấn Kiến Đức đi khỏang 10 Km nữa là đến xã Nhân Cơ. Đây là trung tâm khai thác quặng Bô Xít ở Việt Nam. Đây cũng là nơi dấy lến sự quan tâm và chú ý của đồng bào cả nước về sự hủy hoại môi trường khai thác Bô Xít.

Tôi vào quán cà phê đối diện UBND xã Nhân Cơ, cũng gần chợ Nhân Cơ thấy đa số là cán bộ của UBND ra đây thư giản. Họ tán đủ thứ chuyện, các bàn trong cùng thì có những khuôn mặt lạnh như tiền đang quan sát từng người ra vào quán cà phê. Chúng tôi cũng nằm gọn trong tầm ngắm của họ. Ngay lập tức, có một người bán vé số sà vào bằng giọng Thanh Hoá mời mua vé số và…hỏi thăm.

daknong3.jpg picture by Dang_2009

Quốc lộ 14, lối đi vào địa phận xã Nhân Cơ

daknong4.jpg picture by Dang_2009

Công trình khai thác Bô Xít nhìn từ xa

daknong5.jpg picture by Dang_2009

Công trình khai thác Bô Xít nhìn gần

Một cán bộ văn phòng ủy ban tỉnh Đắk Nông tại Thị xã Gia Nghĩa khuyến cáo chúng tôi tất cả những người bán hàng dạo, xe ôm, bán vé số từ thị trấn Kiến Đức đến Thị Xã Gia Nghĩa là những cán bộ an ninh rải thảm để theo dõi từng khách lạ đến miền này. Nhất là khu chợ Nhân Cơ là trung tâm khai thác mỏ. Theo hướng từ Sài Gòn về Buôn Mê Thuột vừa qua khỏi trụ sở UBND xã Nhân Cơ, nhìn bên tay phải thấy hiện rõ vùng khai thác mỏ đang được san bằng trên một diện tích rộng lớn.

Các công nhân trong công trường thì ngồi những quán cóc ven đường dùng cơm trưa. Phía sau lưng trên mỗi đồng phục xanh đậm của họ có dòng chữ: “CÔNG NHÂN KHAI KHOÁNG”. Không có một chỉ dẫn nào từ ngoài đường 14 hay vào trung tâm điều hành ghi rõ là BÔ XÍT, người ta cấm chữ này và âm thầm làm việc. Đa số công nhân đến từ Miền Bắc dễ dàng nhận ra họ bởi ngoài giọng nói còn có những biển số xe mà họ đang đi: 29, 30, 31, 33 của Hà Nội, 36 của Thanh Hóa, 37 của Nghệ An, 90 của Hà Nam, 16 của Hải Phòng, 17 của Nam Định, v.v…

daknong6.jpg picture by Dang_2009

Hồ nước nằm ngay dưới chân công trình để phục vụ nhà máy khai thác Bô Xít sản xuất Alumi

daknong7.jpg picture by Dang_2009

Đất sau khi khai thác đang bị hóa ra màu vàng đỏ

Từ ngã ba ngay chợ quẹo vào đại bản doanh điều hành khai thác Bô Xít khoảng một cây số, chúng tôi men theo con đường đã ủi phẳng khá trơn trợt do có mưa lất phất. Chạy xuống thì gặp một hồ chứa nước, trên đó đã có một nhà hàng thủy tạ với 5-6 chiếc xe biển số xanh của công an, vừa canh gác đường vào mỏ vừa ăn chơi. Hồ nước này là nơi cung cấp nước cho nhà máy trong tương lai. Lên con dốc nhỏ là đến trụ sở CÔNG TY CỔ PHẦN ALUMIN NHÂN CƠ-TKV, cũng không có gì đề cập đến chữ Bô Xít cả. Chạy qua khỏi một đoạn thì thấy có nhiều quán, những vườn cà phê, vườn điều, vườn tiêu xanh tốt những cây xoài đang mùa ra hoa. Vào phía trong khoảng 2km gặp quán bán tạp hóa của người Mơ Nông, chúng tôi vào mua vài món và hỏi thăm về mỏ Bô Xít thì họ không biết gì cả. Anh chàng thanh niên dân tộc Mơ Nông tên …., 21 tuổi thì nói có ra đó làm công mấy tuần trước Tết chỉ biết làm nhà máy chứ không biết sản xuất gì và hình như chế biến cà phê thì phải. Tội nghiệp người dân tộc họ nghĩ trên quê hương sắp có thêm nhà máy chế biến nông sản để cho giá cà phê, tiêu, điều của họ làm ra không bị ép giá. Họ đâu biết là hiểm nguy đang đến gần họ.

Về lại thị xã Gia Nghĩa, chúng tôi được biết là nhà nước đang tuyển 5000 công nhân ở 2 tỉnh Đắk Nông và Bình Phước để đi tập huấn do các chuyên gia Trung Quốc qua huấn luyện trong vòng 6 tháng đến 1 năm tùy từng công việc.

Việc khai thác mỏ Bô Xít tại xã Nhân Cơ, được Bộ Y tế xếp hạng nguy hiểm bậc 2 nên mức lương gấp 3 làm trong các mỏ than. Theo lời một cán bộ thì mức độ nguy hiểm chỉ trong bán kính là 5km còn ngoài phạm vi ấy thì vô hại. Khoảng 10 năm các chuyên gia của Nga đã tính chuyện khai thác Bô Xít ở Đăk Nông nhưng lúc đó do: “Bô Xít còn non, nên bây giờ chúng ta mới liên doanh với Trung Quốc để khai thác”. Chúng tôi hỏi như thế nào là Non và như thế nào là: “đủ tuổi” thì ông cán bộ này nói là do các chuyên gia thẩm định. Cũng theo cán bộ này thì an ninh vùng mỏ phải đảm bảo để chống lại những “thế lực phản động nhằm phá hoại sự phát triển của Tây Nguyên”.

Khi nghe sự giải thích của ông cán bộ này tôi hiểu ngay là nhà nước và UBND Tỉnh Dăk Nông muốn cô lập mọi người ra vào xã Nhân Cơ nên đã dựng lên hàng rào “Phản động phá hoại” để tìm cách cô lập mọi người đến xã Nhân Cơ để tìm hiểu cũng như nhận diện sự tàn phá mối sinh của việc khai thác mỏ Bô Xít tại xã Nhân Cơ. Tuy nhiên, dù cố tình che đậy và kiểm soát sự ra vào của người dân vùng xã Nhân Cơ, Nhà nước không thể nào che dấu sự nguy hại của việc khai thác mỏ Bô Xít tại xã Nhân Cơ vì những khu đất bị biến thành màu vàng đỏ đầy dẫy trên những mảnh đất trù phú của Dăk Nông. Nhìn sự tàn phá này, tôi không thể không chạnh lòng trước viễn cảnh phá huỷ môi trường sinh thái tại Đắk Nông.

Đắk Nông SOS là tiếng vọng!

Lý Nam Bình

Đảng viên Việt Tân tường thuật từ Đắk Nông

Sunday February 22, 2009 - 09:03am (PST) Permanent Link | 0 Comments
Việt Nam Im Re Trước Sự Kiện 30 Năm Chiến Tranh Biên Giới Việt - Trung
http://danchimviet.com/articles/872/1/Vit-Nam-im-re-trc-s-kin-30-nm-chin-tranh-bien-gii-Vit---Trung/Page1.html
Tác Giả Ngọc Khánh
Đăng/Published on 19.02.09
Đảng chọn con đường im lặng, ngậm miệng ăn tiền. Lịch sử cũng như vong linh của những người nằm xuống vì giữ gìn từng tấc đất biên giới phía Bắc của Tổ quốc sẽ không tha thứ cho đảng.

Ngày 17 tháng 2 năm 2009 đánh dấu 30 năm cuộc chiến biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, thường được gọi là cuộc chiến biên giới Việt - Trung. Vào ngày này, 30 năm trước, Trung Quốc đã đưa quân tràn vào biên giới Việt Nam với ý đồ "dạy cho Việt Nam một bài học”. Tại thủ đô Hà Nội khi đó, chính quyền đã rục rịch chuẩn bị kế hoạch sơ tán vì lo ngại Trung Quốc có thể tiến vào Hà Nội. Chiến sự diễn ra ác liệt, thương vong vô kể, lính cũng như dân.

Đúng một tháng sau, ngày 18/3, Trung Quốc rút quân và cả hai nước đều tuyên bố chiến thắng trong cuộc chiến này. Trung Quốc đã hoàn thành việc "dạy học” cho Việt Nam. Việt Nam tuyên bố đã đánh đuổi "quân xâm lược bành trướng Bắc Kinh”.

Số lượng "quân địch” bị tiêu diệt cũng như thương vong của thường dân do hai bên đưa ra cũng hết sức khác nhau. Nhưng tựu trung lại, mỗi bên đã thiệt mạng hàng chục ngàn binh lính, có những bản làng Việt Nam bị xóa sạch, các tỉnh biên giới của Việt Nam bị phá hủy nặng nề, chưa có một thống kê rõ ràng nào sau 30 năm về thương vong của dân thường cũng như những thiệt hại vật chất được công bố.

Cuộc chiến mà "2 bên đều chiến thắng” này được một số nhà phân tích cho rằng, đó là kết quả của mối quan hệ đã có dấu hiệu rạn nứt từ những năm trước đó.

Trung Quốc cho rằng đã giúp đỡ về người và của để Việt Nam chống Mỹ nhưng khi xảy ra mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc thì Việt Nam lại ngả theo Liên Xô. Những bất đồng đôi bên về vấn đề người Hoa, việc Việt Nam chính thức tuyên bố chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa sau năm 1975…cũng đẩy mâu thuẫn giữa 2 nước lên cao. Và giọt nước cuối cùng đã tràn ly khi Việt Nam đưa quân đội vào Campuchia lật đổ chế độ Khmer đỏ thân Trung Quốc. Trung Quốc lên án Việt Nam vô ơn, ngạo ngược. Việt Nam chửi Trung Quốc phản bội, bắt tay với Mỹ từ năm 1972, xúi giục, tiếp tay Campuchia chống lại Việt Nam, ôm mộng bành trướng, bá quyền…

"Lời qua tiếng lại” giữa đôi bên đã kết thúc bằng sinh mạng của hàng trăm ngàn dân thường cũng như binh lính.

Những năm tiếp theo đó, chiến sự lẻ tẻ vẫn xảy ra ở biên giới, binh lính và dân thường Việt Nam vẫn tiếp tục bị sát hại. Mặc dù khi rút quân Trung Quốc tuyên bố "không thèm dù chỉ một tấc đất của Việt Nam nhưng phía Trung Quốc vẫn chiếm giữ nhiều khu vực, đặc biệt những vị trí quan trọng về mặt quân sự. Trong những năm 1981-1990, báo chí vẫn đưa tin về những cuộc giao tranh này, cáo buộc Trung Quốc xâm lấn biên giới và giết hại thường dân Việt Nam.

Theo Bách khoa toàn thư, có 6 đợt giao tranh lớn diễn ra trong những năm 80s và đều do Trung Quốc gây hấn. Có những quả đồi liên tục "đổi chủ” sau mỗi cuộc giao tranh. Chiến sự gia tăng vào năm 1985, Việt Nam cáo buộc Trung Quốc bắn 1 triệu quả đạn pháo vào lãnh thổ Việt Nam, không tôn trọng cả thỏa thuận tạm ngừng bắn nhân dịp Tết Nguyên Đán. Nghĩa trang liệt sĩ tại biên giới Việt - Trung còn ghi lại những trường hợp binh sĩ Việt Nam hy sinh vào năm 1990.

Cuộc chiến "lâu dài và gian khổ” này chỉ kết thúc vào năm 1992 sau khi Liên Xô - chỗ dựa vật chất và tinh thần của Việt Nam tan rã, Việt Nam rút quân ra khỏi Campuchia.

Quan hệ Việt - Trung sang trang sử mới hay nói theo “ngôn ngữ ngoại giao hiện đại” hiện nay là "lên tầm cao mới”!
Ba mươi năm đã trôi qua.

Khác với sự rùm beng trong những dịp kỉ niệm ngày thành lập đảng, thành lập quân đội, ngày 30/4 thống nhất đất nước…hay gần đây nhất là ngày dịp 30 năm giải phóng Campuchia, báo chí, truyền thông Việt Nam không một lời nhắc đến cuộc chiến này.

Họ quên, lú, ngọng, câm như hến cả một lượt?

Không. Chắc chắn các nhà báo dù là bồi bút đi nữa cũng không đến nỗi lú ruột, lú gan như vậy. Chắc 700 tờ báo lề phải này đã nhận được lệnh phải im miệng lại.

Vì lí do gì đảng cho cả một giai đoạn lịch sử của dân tộc vào sọt rác như vậy ư? Vì lí do gì toàn dân phải im lặng trước một sự kiện lịch sử lớn như vậy? Không lẽ vong linh của cả trăm ngàn binh lính và dân thường Việt Nam không đáng được thắp một nén nhang?

Phải chăng đảng lo ngại vì mối quan hệ Việt - Trung đang thời kì mặn nồng? Không hẳn vậy. Bao nước trên thế giới họ vẫn nhắc lại lịch sử dù quan hệ đang tốt đẹp cỡ nào đi nữa. Đức, Nga, Ba Lan, Pháp, Mỹ…họ vẫn kỉ niệm chiến thắng Phát xít Đức. Nhật - Mỹ vẫn "ôn bài” về những xung đột cũ mà có ai phật ý đâu? Ngay cả khi Việt Nam và Mỹ quan hệ tốt đẹp rồi, Việt Nam vẫn kỉ niệm rầm rộ chiến thắng 30/4, vẫn chiếu lại các phim tư liệu lịch sử, tổ chức các triển lãm ảnh…kia mà. Việc Việt Nam tự hào vì "đánh bại thực dân Pháp, đế quốc Mỹ” đâu có ảnh hưởng gì tới quan hệ bang giao với các nước đó đâu.

Vậy tại sao kỳ này đảng lại im re?

Chỉ có một lý do. Đảng không muốn khơi dậy lòng căm thù, không muốn đánh thức lòng yêu nước chống Trung Quốc vốn chảy trong máu dân tộc Việt qua suốt 4000 năm lịch sử với 1000 năm Bắc thuộc. Ngọn lửa đó chỉ chực bùng cháy nhất là khi có những tranh chấp mấy năm gần đây về biên giới và hải đảo với Trung Quốc. Trước kia, việc Trung Quốc chiếm giữ Hoàng Sa và nhiều đảo thuộc quần đảo Trường Sa còn là chuyện bí mật (của riêng đảng), mấy năm nay đã là đề tài tài mọi nơi từ công sở tới vỉa hè. Xì xào về nó từ già tới trẻ, từ trí thức tới nông dân…

Việc Trung Quốc công khai thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa để quản lý 2 quần đảo này đã làm bùng lên làn sóng biểu tình chống Trung Quốc cả trong nước và hải ngoại. Đặc biệt và bất ngờ là giới trẻ, sinh viên Việt Nam đã đi tiên phong trong việc biểu tình này. Những cuộc biểu tình đó đã bị nhà nước bằng mọi cách ngăn chặn, phá hủy.

Gần đây, sự việc Trung Quốc ngang nhiên công bố dự án khai thác dầu hỏa ở thềm lục địa vịnh Bắc Bộ với dự án lên tới 30 tỉ USD, việc hai bên công bố hoàn thành cắm mốc biên gới Việt - Trung với dư luận về những thiệt hại về lãnh thổ qua hiệp định biên giới này làm những người Việt Nam có lương tri không khỏi bất bình. Vài tiếng nói lẻ tẻ công khai lên tiếng về Ải Nam Quan và thác Bản Giốc, đại đa số giữ thái độ im lặng và chờ đợi thời cơ.

Ý thức dân tộc, tinh thần chống ngoại xâm được hun đúc từ thế hệ ông cha nay chỉ chực bùng nổ. Như một quả bom nổ chậm, chỉ một tác động mong manh nào đó, nó sẽ nổ tung.

Đảng ngại là phải. Đàn anh Trung Quốc nay gần như là chỗ dựa duy nhất để đảng độc quyền cai trị. Bắc Hàn, Cu Ba đang bị cô lập và ngày càng trở lên lạc lõng, kì quặc trước thế giới văn minh. Đảng không thể để dân Việt căm thù Trung Quốc. Không dại gì đảng gọi nhớ cuộc chiến chống Trung Quốc. Biết đâu đó, nó là sẽ là ánh lửa làm bùng lên làn sóng biểu tình chống Trung Quốc, làm nổ tung quả bom nổ chậm vốn âm ỉ trong lòng dân chúng Việt Nam. Làm vậy là đảng toi.

Đảng chọn con đường im lặng, ngậm miệng ăn tiền. Lịch sử cũng như vong linh của những người nằm xuống vì giữ gìn từng tấc đất biên giới phía Bắc của Tổ quốc sẽ không tha thứ cho đảng.

© 2009 Đàn Chim Việt
Friday February 20, 2009 - 09:12pm (PST) Permanent Link | 0 Comments
Việt Nam làm gì để tự vệ ?
Tiến sĩ Alexander Vuving
Viết riêng cho bbcvietnamese.com từ Mỹ
Sĩ quan biên phòng Trung Quốc ở một cửa khẩu với Việt Nam

Ai sống cạnh một anh hàng xóm khổng lồ trong một thế giới vô chính phủ cũng phải canh cánh câu hỏi: Khi nào thì anh ta có thể đánh mình, và làm sao để mình không bị anh ta đánh?

Đây cũng là một câu hỏi thường trực cho các chính sách quốc phòng và ngoại giao của Việt Nam, và anh hàng xóm khổng lồ của Việt Nam là Trung Quốc.

Quy luật lịch sử

Khi nào thì Trung Quốc có thể đánh Việt Nam? Tương lai không thể nói trước được, nhưng nếu lịch sử cho thấy có quy luật thì có nhiều khả năng quy luật đó sẽ tiếp tục ứng nghiệm trong tương lai.

Lịch sử từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời có ba lần lớn và một số lần nhỏ hơn Trung Quốc ra quân đánh Việt Nam.

Lần thứ nhất năm 1974, Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng hòa.

Lần thứ hai năm 1979, Trung Quốc tấn công toàn tuyến biên giới trên bộ, vào sâu nhiều chục cây số, phá huỷ cơ sở vật chất, rồi rút về sau đúng một tháng.

Lần thứ ba năm 1988, Trung Quốc chiếm 6 bãi đá trong vùng lân cận các đảo do Việt Nam kiểm soát ở quần đảo Trường Sa, riêng vụ đụng độ chiếm đá Gạc Ma (Johnson South Reef) bắn cháy ba tàu vận tải và giết khoảng 70 thuỷ thủ của Hải quân Việt Nam.

Những lần đánh nhỏ hơn bao gồm các cuộc tấn công ở biên giới sau cuộc chiến 1979, liên tục cho đến năm 1988. Trong thời gian này, Trung Quốc đã chiếm được một số điểm cao chiến lược dọc biên giới như ở các huyện Vị Xuyên, Yên Minh (tỉnh Hà Giang) và Cao Lộc, Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn). Các cuộc lấn chiếm này dường như đã được hợp pháp hóa tại Hiệp ước biên giới trên bộ năm 1999.

Ngoài ra, trên quần đảo Trường Sa sau năm 1988, Trung Quốc đã chiếm thêm các bãi đá ở gần vị trí đóng quân của Việt Nam như Én Đất (Eldad Reef) và Đá Ba Đầu (Whitson Reef) vào các năm 1990, 1992, và sau đó chiếm đá Vành Khăn (Mischief Reef) ở gần Philippin năm 1995.

Thế và Thời

Tư duy chiến lược Trung Hoa đặc biệt coi trọng chữ Thế và chữ Thời. Các cuộc tấn công Việt Nam cho thấy có một quy luật khá nhất quán trong việc Trung Quốc chớp thời cơ vào lúc thế của họ đi lên và thế của đối phương đi xuống để tung quân ra đánh.

Thời điểm tháng 1-1974, Trung Quốc đánh Hoàng Sa đang do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát là sau khi Mỹ cam kết chấm dứt can thiệp quân sự ở Việt Nam (Hiệp định Paris tháng 1-1973) và Quốc hội Mỹ cấm Chính phủ can thiệp trở lại (Tu chính án Case-Church tháng 6-1973), tạo ra một khoảng trống quyền lực ở khu vực và khiến cho Việt Nam Cộng hòa chới với không nơi nương tựa.

Trong khi đó thế của Trung Quốc đang dâng lên với việc Bắc Kinh trở thành một thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (tháng 10-1971) và từ địa vị kẻ thù của cả hai siêu cường (Liên Xô và Mỹ) trở thành đối tác của Mỹ (với Thông cáo chung Thượng Hải tháng 2-1972).

Trung Quốc tấn công Việt Nam năm 1979 là để trả đũa Việt Nam đưa quân vào Campuchia nhưng cũng là khi thế của Việt Nam đi xuống trong khi thế của Trung Quốc đi lên.

Một tháng sau khi Việt Nam và Liên Xô ký liên minh quân sự (tháng 11-1978) thì Trung Quốc và Mỹ cũng tuyên bố lập quan hệ ngoại giao. Đồng thời, Việt Nam đang bị thế giới ngoài phe Liên Xô tẩy chay vì chiếm đóng Campuchia nên thế của Việt Nam đang xuống rất thấp.

Các cuộc tấn công của Trung Quốc dọc biên giới trong các năm từ 1980 đến 1988 diễn ra trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục bị bao vây cô lập với thế giới bên ngoài trong khi Liên Xô, chỗ dựa chủ yếu của Việt Nam, cũng bị cô lập trên trường quốc tế (do đưa quân vào Afghanistan) và, cộng với những khó khăn kinh tế, phải đi vào giai đoạn hòa hoãn và thỏa hiệp với Trung Quốc cũng như phương Tây.

Chiến dịch chiếm một phần Trường Sa năm 1988 của Trung Quốc khởi sự từ năm 1986, khi Liên Xô chuyển sang nhượng bộ chiến lược với phương Tây và Trung Quốc, đồng thời rục rịch rút lui ảnh hưởng khỏi Đông Nam Á cũng như toàn thế giới.
Quốc huy Trung Quốc và Việt Nam tại cửa khẩu ở Vị Xuyên
Hai nước Việt Trung đã quyết định xong về biên giới trên bộ

Bài nói tại Vladivostok của lãnh tụ Liên Xô Gorbachov ngày 28-7-1986 tỏ ý Liên Xô sẵn sàng chấp nhận các điều kiện Trung Quốc đưa ra để bình thường hóa quan hệ Xô-Trung (Liên Xô rút quân khỏi Afghanistan và giảm căng thẳng ở biên giới Xô-Trung, Việt Nam rút quân khỏi Campuchia) đánh dấu sự thay đổi chiến lược trong chính sách của Liên Xô ở châu Á, đồng thời cũng là chỉ dấu cho thấy thế của Liên Xô đi xuống và thế của Trung Quốc đi lên.

Trong các năm sau, việc Liên Xô rút lui trong khi Mỹ không trám vào đã thực sự tạo ra một khoảng trống quyền lực ở khu vực.

Trong khi ấy Việt Nam vẫn bám vào Liên Xô mà không phá được thế bị cô lập. Một nghị quyết mật của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam điều chỉnh cơ bản chiến lược đối ngoại từ dựa vào Liên Xô sang “đa phương hóa” chỉ được thông qua vào tháng 5-1988, hai tháng sau vụ đụng độ ở quần đảo Trường Sa.

Xung đột biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam giai đoạn 1980-1988 có thể coi là dư chấn của cuộc chiến năm 1979. Các cuộc chiếm đảo ở Trường Sa thời kỳ 1990-1992 cũng có thể coi là dư chấn của chiến dịch năm 1988.

Thời kỳ 1980-1988, Việt Nam tiếp tục bị bao vây cô lập trong khi Liên Xô, chỗ dựa chủ yếu của Việt Nam, đi vào giai đoạn hòa hoãn và thỏa hiệp với Trung Quốc.

Thời kỳ 1990-1992, tuy là những năm Trung Quốc bị phương Tây cô lập phần nào sau vụ Thiên An Môn, cũng lại là những năm Việt Nam mất hẳn chỗ dựa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong khi vẫn chưa được nhận vào ASEAN và chưa bình thường hóa quan hệ được với Mỹ.

Việt Nam làm gì?

Hiện nay Việt Nam có thể làm gì để Trung Quốc không đánh? Lý thuyết quan hệ quốc tế gợi ý năm phương pháp chính: 1) cùng chung một nhà, 2) ràng buộc bằng lợi ích, 3) ràng buộc bằng thể chế, 4) răn đe quân sự, 5) răn đe ngoại giao.

Phương pháp “cùng chung một nhà” xem ra không ổn vì ít nhất ba lý do. Thứ nhất, Trung Quốc rất thiếu cảm tình với Việt Nam và kinh nghiệm quan hệ với Việt Nam khiến Trung Quốc tin rằng Việt Nam hay tráo trở. Các cuộc thăm dò dư luận ở Trung Quốc cho thấy Việt Nam cùng với Mỹ và Nhật Bản là ba nước bị người Trung Quốc ghét nhất trên thế giới. Thứ hai, Trung Quốc chỉ coi Việt Nam là đồng chí chứ không phải đồng minh. Thứ ba, lịch sử cho thấy quan hệ “gắn bó như môi với răng” giữa Hà Nội và Bắc Kinh vẫn không ngăn được Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa, nẫng tay trên người “đồng chí anh em” Bắc Việt.

Phương pháp “ràng buộc bằng lợi ích” sẽ không ngăn được Trung Quốc đánh ở Biển Đông vì lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông có vị trí rất cao trong chiến lược lớn của Trung Quốc. Biển Đông là yết hầu con đường tiếp tế vật tư và nhiên liệu cho Trung Quốc từ Trung Đông, châu Âu, châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á, với 2/3 lượng dầu khí nhập khẩu và 4/5 lượng hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc đi qua.

Biển Đông cũng là bàn đạp để khống chế Đông Nam Á, một khu vực mà nếu Trung Quốc khống chế được thì sẽ có thể quy phục được Nhật Bản và trung lập hóa cả Mỹ lẫn Ấn Độ, còn nếu Trung Quốc không khống chế được thì sẽ không thể ngoi lên địa vị đứng đầu châu Á. Trung Quốc không có lợi ích nào ở Việt Nam, kể cả trong hiện tại lẫn trong tương lai, lớn hơn lợi ích ở Biển Đông để Trung Quốc phải đánh đổi.

Phương pháp “ràng buộc bằng thể chế” càng khó ngăn cản Trung Quốc ra tay khi cần thiết vì Trung Quốc cũng như các nước lớn khác chỉ tuân thủ thể chế quốc tế nếu thể chế ấy phục vụ lợi ích chiến lược của họ. Trong trường hợp lợi ích chiến lược của họ đòi hỏi làm khác đi, họ sẽ có cách giải thích thể chế quốc tế theo kiểu riêng để biện minh cho hành động của mình.

Trung Quốc đã làm như thế khi xâm lăng Việt Nam năm 1979, nói rằng để trừng phạt Việt Nam xâm lăng Campuchia. Đây không phải là đặc điểm riêng của Trung Quốc mà các nước lớn đều như vậy. Mỹ và phương Tây đánh Nam Tư rồi tách Kosovo ra khỏi nước này hay Nga đánh Gruzia rồi tách Nam Ossetia và Abkhazia ra khỏi nước này đều nói là dựa trên luật pháp và thể chế quốc tế nhưng đó là luật pháp và thể chế quốc tế theo cách giải thích riêng của họ.

Phương pháp “răn đe quân sự” không phải là cách mà Việt Nam có thể làm với Trung Quốc trong lúc này vì Việt Nam không có vũ khí hạt nhân để răn đe chiến lược (trong khi Trung Quốc có) và lực lượng quân sự thông thường của Việt Nam hiện còn quá yếu để có thể tạo sức mạnh răn đe chiến thuật đối với Trung Quốc.
Ải Chi Lăng là di tích lịch sử nhắc lại trận quân Lê Lợi chém Liễu Thăng hồi thế kỷ 15

Còn lại duy nhất phương pháp “răn đe ngoại giao”. Phương pháp này là dùng quan hệ với các nước mạnh hơn Trung Quốc và áp lực của quốc tế để Trung Quốc không dám đánh Việt Nam. Hiện nay trong khu vực, Trung Quốc vẫn phải kiêng dè Mỹ, do đó Việt Nam quan hệ càng gần gũi với Mỹ bao nhiêu càng có tác dụng răn đe bấy nhiêu. Một điểm nữa Việt Nam có thể tận dụng là Trung Quốc muốn thế giới tin rằng họ không phải là mối đe dọa đối với các nước.

Nếu những lấn lướt ức hiếp của Trung Quốc với Việt Nam được thế giới quan tâm và hiểu như bước đầu của một mối đe dọa lớn hơn đối với họ thì thứ nhất, chúng có thể làm Trung Quốc yếu thế đi, và thứ hai, đó cũng là một lý do để Trung Quốc phải cân nhắc kỹ hơn nếu có ý định đánh Việt Nam.

Bài học lịch sử

Quy luật rút ra từ lịch sử ba lần Trung Quốc đánh Việt Nam và qua phân tích năm phương pháp nói trên cho thấy để tránh không bị Trung Quốc đánh, Việt Nam phải làm được ba điều.

Sống cạnh một anh hàng xóm khổng lồ mà không để bị đánh hoặc ăn hiếp quả là rất khó nhưng vẫn có thể được

Thứ nhất, phải liên tục nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, đặc biệt chú ý trong tương quan với Trung Quốc. Nếu Trung Quốc có thêm bạn thì Việt Nam cũng phải có thêm bạn mạnh hơn và nếu Trung Quốc xích lại gần các nước thì Việt Nam còn phải xích lại gần các nước hơn. Không bao giờ được để Việt Nam ở thế cô lập hơn Trung Quốc trên thế giới.

Thứ hai, phải hết sức bén nhạy với cán cân quyền lực trong khu vực và phải lập tức mạnh dạn điều chỉnh chiến lược đối ngoại khi tương quan lực lượng trong khu vực biến đổi bất lợi cho Việt Nam.

Thứ ba, phải sáng suốt tìm ra ai là kẻ mạnh trong khu vực và đâu là chỗ yếu của Trung Quốc để thực hiện kế răn đe ngoại giao.

Trong dài hạn, chỉ có kết hợp răn đe ngoại giao (kết thân với nước lớn và tranh thủ dư luận thế giới) với răn đe quân sự (quân đội mạnh, đặc biệt hải quân và không quân) và liên tục nâng cao vị thế quốc tế của mình thì Việt Nam mới có thể tương đối yên tâm không bị Trung Quốc đánh.

Sống cạnh một anh hàng xóm khổng lồ mà không để bị đánh hoặc ăn hiếp quả là rất khó nhưng vẫn có thể được, nhất là khi anh hàng xóm đó chưa phải là kẻ mạnh nhất trong vùng.

Bài viết thể hiện ý kiến riêng của tác giả, tiến sĩ Alexander Vuving (Vũ Hồng Lâm), không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, Bộ Quốc phòng và Chính phủ Hoa Kỳ.

Tuesday February 17, 2009 - 05:30pm (PST) Permanent Link | 0 Comments
Các Lá Cờ Việt Nam June 25, 2008

Các bạn thân mến,

Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Lá Cờ Vàng Việt Nam, để tìm hiểu về lai lịch của lá cờ này, xin gửi đến các bạn bài viết của Giáo sư Trần Gia Phụng, nhà nghiên cứu Sử Việt Nam, để chúng ta cùng hiểu thêm.

CÁC LÁ CỜ VIỆT NAM

(Trình bày tại Lễ Kỷ niệm 60 năm CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ

do Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực VNCH tổ chức tại Toronto ngày 21-6-2008)

Trần Gia Phụng

1.- LÁ CỜ TRUYỀN THUYẾT

Trong bộ sử thi Đại Nam quốc sử diễn ca, hai tác giả Phạm Đình Toái và Lê Ngô Cát (thế kỷ 19) có lẽ là những người đầu tiên đề cập đến lá cờ: Đầu voi phất ngọn cơ vàng, / Sơn thôn mấy cõi, chiến trường xông pha. (Đại Nam quốc sử diễn ca, câu 399-400.)

Đó là hình ảnh của bà Triệu Thị Trinh trong cuộc khởi nghĩa năm 248 (mậu thìn), chống quân Trung Hoa xâm lược. Đây chỉ là lá cờ truyền thuyết trong thi ca, chứ không phải quốc kỳ của nước Việt.

Trong suốt thời gian từ thời Ngô Quyền tuyên bố độc lập năm 939 cho đến khi bị Pháp bảo hộ, các bộ chính sử hoàn toàn không đề cập gì đến quốc kỳ của nước Việt. Thậm chí, vào thế kỷ 19, khi Phan Thanh Giản (1796-1867) cầm đầu phái đoàn sang Pháp năm 1863 để thương lượng ngoại giao, phái đoàn cũng không có quốc kỳ.

Trong sách Tây hành nhật ký do phó sứ là ông Phạm Phú Thứ (1820-1883) ghi lại, có kể câu chuyện như sau: Khi tàu của phái đoàn Việt Nam ngang qua kênh đào Suez ở Ai Cập, thì một đại diện Pháp nói với phái đoàn: “Đây [Ai Cập] sang Pháp, những nơi nào sứ bộ đi qua đều có nổ súng đón chào. Vì thế cần phải có cờ sứ bộ trương lên đáp lễ.” Lúc đó, Phạm Phú Thứ trả lời rằng: “Chúng tôi hiện có đem theo lá quốc kỳ.” Viên đại diện Pháp xem xong bảo: “Cờ nầy về phần màu sắc lẫn lộn với cờ các nước, sợ khó phân biệt, vậy xin sứ bộ viết thêm mấy chữ của quý quốc vào đó thì hơn. Sứ bộ lấy tơ đỏ thêu thêm 4 chữ “Đại Nam khâm sứ” ở cả hai mặt, rồi treo trên cột buồm. (Phạm Phú Thứ, Tây hành nhật ký [chữ Nho], bản dịch của Tô Nam và Văn Vinh, TpHCM: Nxb. Văn Nghệ, 2001, tr. 25.)

Mẩu đối thoại trên đây không cho biết lá cờ màu gì, chỉ biết chắc chắn không phải là màu đỏ vì 4 chữ “Đại Nam khâm sứ” được thêu bằng chỉ đỏ. Nhiều người phỏng đoán đó là màu vàng bởi vì màu vàng được xem là màu truyền thống của những nhà lãnh đạo quân chủ Việt Nam. Nhiều giai thoại cho rằng phái đoàn không có chuẩn bị quốc kỳ, nên sứ bộ đã lấy một miếng vải vàng dùng làm quốc kỳ, nhưng thật sự bốn chữ thêu cho thấy đây chỉ là cờ của sứ bộ, chứ không phải là quốc kỳ Việt Nam. Câu chuyện nầy còn cho thấy rằng cho đến khi Phan Thanh Giản đi sứ năm 1863, nhà Nguyễn cũng chưa có lá cờ chính thức tượng trưng cho nước Việt Nam.

2.- CỜ THỜI PHÁP THUỘC

Cờ bảo hộ: Sáu tỉnh Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp sau hòa ước 1874. Trung và Bắc Kỳ bị Pháp bảo hộ năm 1884. Năm 1886, Pháp áp đặt triều đình Huế và vua Việt Nam phải thực hiện một lá cờ, gọi là cờ “Bảo hộ”. Cờ màu vàng, chia làm bốn phần. Ba phần màu vàng, một phần tư ở trên, sát cán cờ có ba màu, là xanh, trắng và đỏ, tức cờ tam tài của Pháp. Lá cờ nầy thường được gọi là Cờ bảo hộ.

Cờ bảo hộ được thêu thành tám lá, chia cho sáu bộ (lục bộ) sáu lá, cơ mật viện một lá và ty hành nhân một lá. (Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chánh biên toát yếu, bản dịch tiếng Việt, Huế: Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr. 560.) Ty hành nhân là cơ quan phụ trách việc ngoại giao, gởi sứ đoàn ra ngoài hay tiếp đón sứ đoàn các nước. Tuy nhiên lá cờ nầy không được dân chúng Việt Nam chấp nhận, nên sau bị bãi bỏ.

Cờ long tinh: Những người lớn tuổi, khoảng từ 70 tuổi trở lên, cho biết lúc nhỏ, khi đi học, tại Trung Kỳ, vào những dịp có hoàng gia (vua, hoàng hậu, hay hoàng tử) đến dự lễ, thì có treo cờ long tinh. Gọi là cờ long tinh vì hình thức lá cờ nầy giống như dây vải đeo long bội tinh là chiếc bội tinh cũng do vua Đồng Khánh lập ra năm 1886. Chiều cao của lá cờ được chia đều thành 4 phần. Hai phần hai bên màu vàng, ở giữa (2 phần) là màu đỏ. Lá cờ nầy không được sử sách đề cập đến, nhưng có thật trong đời sống, và được ghi lại trong các hình ảnh của vua Khải Định (trị vì 1916-1925) và vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945). Tuy nhiên các cụ lớn tuổi cho rằng đây là cờ hoàng gia chứ cũng không phải là quốc kỳ Việt Nam.

3.- CỜ QUẺ LY

Nguyên vào thế chiến thứ hai (1939-1945), tình hình chính trị Việt Nam xôn xao mạnh với sự xuất hiện của Nhật Bản. Ngày 9-3-1945, bằng cuộc hành quân Meigo, Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương. Nhật lên tiếng trao trả độc lập lại cho Việt Nam và yêu cầu Việt Nam gia nhập khối Đại Đông Á do Nhật lãnh đạo.

Vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) tuyên bố hủy bỏ hòa ước bảo hộ bất bình đẳng ký kết giữa Việt Nam và Pháp năm 1884 và đưa ra bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ngày 11-3-1945. Vua Bảo Đại giao cho ông Trần Trọng Kim (1882-1953) thành lập chính phủ. Ngày 17-4-1945, ông Trần Trọng Kim lập chính phủ tân tiến đầu tiên gồm các bộ theo kiểu tây phương. Do sự cưỡng ép của Nhật Bản, chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ An ninh, hay bộ Quốc phòng, vì lúc đó Nhật muốn nắm toàn quyền quân sự tại Đông Dương. Chính vì vậy mà Việt Minh mới dễ cướp được chính quyền năm 1945.

Ngày 2-6-1945, chính phủ Trần Trọng Kim chọn quốc kỳ nền vàng, trên có ba sọc đỏ theo hình quẻ ly. Quẻ ly là một trong tám quẻ đơn của bát quái trong kinh Dịch. Quẻ ly gồm ba hào (vạch ngang): hào dương dưới cùng (một vạch ngang), hào âm ở giữa (một vạch đứt ở giữa), và hào dương trên cùng (một vạch ngang).

Tác giả lá cờ, thủ tướng Trần Trọng Kim đã giải thích về hình thức lá cờ như sau: Lá cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. Trong sách Quốc Sử Diễn Ca nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng "Ðầu voi phất ngọn cờ vàng". Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của tổ quốc, lấy dấu hiệu quẻ ly là vì trong lối chữ tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và những vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn phương chính và bốn phương bàng, nói ở trong kinh dịch, mà quẻ ly chủ phương nam. Chữ LY còn có nghĩa là lửa, là văn minh, là ánh sáng phóng ra bốn phương.


Lấy sắc vàng là hợp với lịch sử, lấy quẻ ly là hợp với vị trí nước nhà lại có nghĩa chỉ một nước văn hiến như ta thường tự xưng. Như thế là lá cờ vàng quẻ ly có đủ các ý nghĩa
.” (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, chương 4, Internet.)

3.- CỜ ĐỎ SAO VÀNG

Sau khi Hoa Kỳ thả hai quả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima ngày 6-8-1945 và Nagasaki ngày 9-8-1945, thì Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, chấm dứt thế chiến thứ hai tại Đông Á.

Tại Việt Nam, quân đội Nhật Bản hạ khí giới, ngưng chiến đấu, chờ đợi quân đội Đồng minh đến giải giới. Chính phủ phủ Trần Trọng Kim không có bộ Quốc phòng, nên không có quân đội trong tay để duy trì an ninh.

Hồ Chí Minh (1890?-1969) và Mặt trận Việt Minh liền lợi dụng thời cơ, nhanh tay cướp chính quyền tại Hà Nội ngày 19-8. Đại sứ Nhật tại Huế là Yokoyama vào yết kiến vua Bảo Đại, xin đem lực lượng Nhật tại Đông Dương (còn nguyên vẹn) dẹp tan cuộc đảo chánh của Việt Minh, nhưng vua Bảo Đại từ chối vì sợ cảnh nội chiến tương tàn trước sự lợi dụng của ngoại bang. Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị ngày 25-8 và chính phủ Trần Trọng Kim giải tán.

Chính phủ Việt Minh do Hồ Chí Minh cầm đầu ra mắt tại Hà Nội ngày 2-9-1945, gồm đại đa số là đảng viên cộng sản, chọn lá cờ của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, tức Mặt trận Việt Minh làm quốc kỳ. Đó là lá cờ đỏ ở giữa có ngôi sao vàng, phỏng theo hồng kỳ của đảng Cộng Sản và nhà nước Liên Xô, cũng như đảng Cộng Sản Trung Hoa. Tuy khác nhau về hình thức và cách sắp đặt các ngôi sao, cờ Liên Xô và Trung Cộng cũng nền đỏ với các ngôi sao vàng. Lá cờ cộng sản Việt Nam mang ba ý nghĩa rõ rệt.

Thứ nhất, đây là lá cờ của Mặt trận Việt Minh. Mặt trận Việt Minh do đảng Cộng Sản Đông Dương thành lập, gồm đa số là đảng viên cộng sản. Lấy lá cờ của một tổ chức để làm lá cờ tổ quốc là một sự áp đặt thô bạo lên tinh thần và tâm tư tình cảm của dân tộc.

Thứ hai, hình thức lá cờ nầy phỏng theo các hồng kỳ các đảng cộng sản nước Liên Xô và Trung Hoa. Việc du nhập hình thức lá cờ cộng sản ngoại lai phản ảnh đúng chủ trương của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản là du nhập chủ thuyết Mác xít - Lê nin nít và lý thuyết Mao Trạch Đông, thay thế nền tảng văn hóa dân tộc cổ truyền, làm đảo lộn các giá trị nhân bản Việt Nam.

Thứ ba, vì xuất phát từ phong trào cộng sản quốc tế ngoại nhập, du nhập cả lý thuyết đến tổ chức, nhận viện trợ và chịu sự chỉ huy của khối cộng sản quốc tế, cờ đỏ sao vàng tượng trưng cho một chế độ tay sai của ngoại bang, thi hành chỉ thị của ngoại bang.

4.- CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ

Năm 1945, khi chiếm được chính quyền, đảng CSVN chủ trương giết tiềm lực, tức là giết tất cả những cá nhân, đoàn thể, đảng phái có khả năng tiềm ẩn, nhưng không theo hay chống lại cộng sản để trừ hậu hoạn cho cộng sản. Việt Minh đã giết Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Khái Hưng, Huỳnh Phú Sổ và hàng trăm ngàn người nữa trên toàn cõi Việt Nam.

Không thể để bị tiêu diệt mãi, vì nhu cầu sinh tồn bản thân, những người theo khuynh hướng chính trị dân chủ, độc lập, không cộng sản chẳng đặng đừng phải tạm thời liên kết với Pháp chống lại Việt Minh cộng sản. Năm 1948, đại diện ba miền đất nước cùng về Sài Gòn thành lập Chính phủ Lâm thời Trung ương Việt Nam ngày 23-5-1948 do ông Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng. Nguyễn Văn Xuân từng là quốc vụ khanh trong chính phủ ngày 2-9-1945 của Hồ Chí Minh.

Khi đó có năm lá cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ, gồm có ba lá cờ do uỷ ban đại diện ba miền Bắc, Trung và Nam phần đưa ra, và hai lá cờ do đại diện Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài đề nghị. Cuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại không phức tạp.

Ngày 2-6-1948, thủ tướng Xuân công bố lá quốc kỳ mới hình chữ nhật, chiều ngang bằng hai phần ba chiều dài, nền vàng giống như cờ của Trần Trọng Kim, nhưng thay vì quẻ ly, nay đổi lại ba sọc đỏ bằng nhau chạy dài theo chiều ngang của lá cờ. Ba sọc nầy tượng trưng cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ Bắc, Trung, và Nam phần của đất nước trên nền vàng tượng trưng căn bản của quốc gia. Nếu lá cờ năm 1945 của ông Trần Trọng Kim thừa tiếp lá cờ long tinh của hoàng gia, thì lá cờ hình thành năm 1948 lại thừa tiếp truyền thống lá cờ của Trần Trọng Kim, chẳng những về hình thức, màu sắc, mà cả về lý tưởng chính trị, đó là lý tưởng quốc gia., và đối nghịch hẳn với cờ đỏ sao vàng của Hồ Chí Minh.

Ý nghĩa thứ nhất của lá cờ nầy là tính thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Lúc đó, người Pháp muốn Nam Kỳ tự trị, tách ra khỏi Việt Nam, nhưng toàn dân Việt Nam chống đối điều đó, và riêng tự thân các chính trị gia cũng như dân chúng miền Nam cũng quyết liệt chống đối điều đó, và muốn cùng đứng chung trong cộng đồng dân tộc. Ba sọc đỏ tượng trưng cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ Bắc, Trung, và Nam phần của đất nước, trên nền vàng tượng trưng căn bản của quốc gia.

Thứ hai, lá cờ nầy báo hiệu sự xuất hiện của một khuynh hướng chính trị mới ở khắp Bắc, Trung và Nam phần Việt Nam lúc đó, là khuynh hướng chính trị dân tộc độc lập, chống lại sự đô hộ của Pháp, nhưng ở thế chẳng đặng đừng phải liên kết với Pháp để chống Việt Minh cộng sản độc tài đang được Liên Xô và Trung Cộng hỗ trợ.

Khuynh hướng nầy càng rõ nét khi cựu hoàng Bảo Đại về nước làm Quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam sau khi ký hiệp ước Élysée ngày 8-3-1949 với tổng thống Pháp là Vincent Auriol. Hiệp định Élysée chính thức giải kết hiệp ước bảo hộ năm 1884 và trao trả độc lập lại cho Việt Nam. Cựu hoàng Bảo Đại tiếp tục chọn lá cờ nầy làm quốc kỳ.

Ý nghĩa thứ ba là tính tự do dân chủ của chế độ mà lá cờ tượng trưng. Ngay từ đầu, chính phủ Nguyễn Văn Xuân đã trưng cầu ý dân về hình thức lá cờ. Sau đó, đại diện dân chúng tự do chọn lựa một trong các mẫu vẽ, chứ không phải là lấy lá cờ của một tập đoàn thiểu số rồi áp đặt trên ý dân như cờ cộng sản.

Sau khi ký hiệp ước Élysée tại điện Élysée (Paris), ngày 8-3-1949 với tổng thống Pháp là Vincent Auriol, cựu hoàng Bảo Đại về nước làm quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam, tiếp tục chọn lá cờ nầy làm quốc kỳ.

Khi ông Ngô Đình Diệm (1901-1963) về nước chấp chánh, nước Việt Nam bị chia hai do hiệp định Genève ngày 20-7-1954. Ông Diệm ổn định tình hình miền Nam, tổ chức trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, thiết lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa do ông làm tổng thống. Quốc hội lập hiến được bầu ngày 4-3-1956, bàn chuyện thay đổi quốc kỳ và quốc ca, nhưng chưa có mẫu vẽ quốc kỳ mới nào ưng ý hơn, nên ngày 31-7-1956, Quốc hội ra quyết nghị hoãn bàn, và vẫn giữ quốc kỳ như cũ. Sau đó Quốc hội mở cuộc thi vẽ quốc kỳ mới; có tất cả 350 mẫu cờ và 50 bài nhạc được đề nghị. Ngày 17-10-1956, Quốc hội lập hiến một lần nữa ra tuyên bố không chọn được mẫu quốc kỳ và bài hát nào hay đẹp và ý nghĩa hơn, nên quyết định giữ nguyên màu cờ và quốc ca cũ làm biểu tượng quốc gia. Lá cờ nầy được miền Nam sử dụng cho đến năm 1975, khi cộng sản Bắc Việt, với sự hậu thuẫn của Quốc tế cộng sản, cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam.

Trước năm 1975, do sự tuyên truyền của CSVN, có một số người chưa hiểu và chưa biết bản chất của chế độ cộng sản. Sau biến cố 30-4-1975, dân chúng miền Nam Việt Nam mới thấy rõ bản chất độc tài toàn trị của cộng sản, và đã ào ạt bỏ nước ra đi. Từ ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, theo thống kê của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, số người Việt bỏ nước ra đi và đến được các nước tạm cư là 989,100, kể cả đường biển lẫn đường bộ. Số người tử nạn trên bước đường vượt biên không thể thống kê chính xác được. Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400,000 đến 500,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.

Đây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại của dân chúng chống lại chế độ cộng sản Việt Nam bằng chính mạng sống của mình. Cuộc vượt biên ào ạt bất chấp mạng sống của người Việt đã làm rúng động lương tâm nhân loại. Nhiều nước trên thế giới đã mở rộng cánh cửa bao dung, đón nhận thuyền nhân Việt Nam. Tổng số người Việt ở hải ngoại hiện lên trên 2,000,000 người, và hàng năm gởi về Việt Nam khoảng 4 tỷ Mỹ kim để giúp đỡ thân nhân trong nước.

Khi rời đất nước ra đi tìm dự do, người Việt mang theo trong trái tim mình toàn bộ hình ảnh quê hương gia đình, bà con, bạn bè thân thiết và đặc biệt hình ảnh tượng trưng cho tổ quốc thiêng liêng, đó là LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ. Lá cờ nầy hiện nay trở thành BIỂU TƯỢNG CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI khắp nơi trên thế giới.

Trên đây là xuất xứ và hình thức các lá cờ Việt Nam, dựa trên những tài liệu cụ thể. Lá cờ chỉ là biểu tượng của các chế độ chính trị. Giá trị của lá cờ không phải ở màu sắc, hình thức và tuổi tác của lá cờ. Giá trị của lá cờ tùy thuộc vào giá trị của chế độ mà lá cờ tượng trưng. Cho đến nay, tại Việt Nam, giữa chế độ VIỆT NAM CỘNG HÒA (TỰ DO DÂN CHỦ) và chế độ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA (ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ), chế độ nào tốt, chế độ nào xấu, thì chẳng những người Việt Nam đã biết, mà cả nhân dân thế giới cũng đều biết. Trong lần viếng thăm Việt Nam năm 2000, thượng nghị sĩ tiểu bang Arizona, ông John Mc Cain đã nói một câu để đời: “Trong cuộc chiến vừa qua, bên xấu đã chiến thắng.” Tuy nhiên, cần phải thêm hai chữ nữa mới đầy đủ ý nghĩa hơn: “Trong cuộc chiến vừa qua, bên xấu đã tạm thời chiến thắng.” Cộng sản chỉ tạm thời chiến thắng, vì theo lẽ tự nhiên của Trời đất, những điều xấu chỉ có tính cách tạm bợ và sẽ bị đào thải, chỉ có những điều tốt mới vĩnh hằng với thời gian.

Và như thế có nghĩa là một ngày nào đó, Lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ tượng trưng cho TỰ DO DÂN CHỦ, sẽ tung bay trở lại trên bầu trời quê hưong yêu dấu của chúng ta.

TRẦN GIA PHỤNG

(21-6-2008)

Tags: covietnam
Wednesday June 25, 2008 - 08:15am (PDT) Permanent Link | 0 Comments

Add Son Thanh T's Blog to your personalized My Yahoo! page:

Add to My Yahoo!RSS About My Yahoo! & RSS
1 - 5 of 35 First | < Prev | Next > | Last