Anh sẽ trở về đúng nghĩa trái tim anh
Đến bên anh
Rồi sẽ có một ngày chúng ta chẳng còn nhớ đến nhau. Như nhân gian vẫn đầy những câu chuyện về quên và nhớ. Ngày hôm nay em bảo anh là nhịp thở, nhưng có thể ngày mai, anh cũng chẳng là gì… Rồi sẽ có một ngày em vội vã ra đi, bỏ quên câu comment em vẫn thường gửi anh vào buổi sáng, chẳng còn ai post tiếp những entry cho những chiều ảm đạm. Anh biết lấp gì vào khoảng trống mênh mông? Rồi sẽ có một ngày anh cũng bỏ blog đi rong, chẳng còn ai viết câu chuyện về những kí tự H, A, K, J… nữa… Kỷ niệm ngày xưa sẽ dần dần vôi vữa, nhưng anh với em cũng chưa kịp bắt đầu… Chuyện tình của chúng mình vắt vẻo một cơn đau. Yêu nhau bằng một niềm tin cho những entry và comment trên blog. Vì có những vết thương không dễ gì bật thành tiếng khóc. Nên chúng ta cứ mãi trốn tìm trong khoảng trống lặng yên… Và có thể một ngày anh dỗ giấc trái tim. Hãy ngủ trầm ngoan như chưa từng dậy sóng, chiếc computer nằm yên bất động… Những tháng ngày dài chẳng post nỗi một entry… Cứ chạy đi, và cứ mãi bay đi…
STT | Họ và tên |
| 1 | Lê Duy Thành |
| 2 | Trần Lê Thanh Tuấn |
| 3 | Trần Kinh Bang |
| 4 | Phạm Thanh Hương |
| 5 | Phạm Thị Hiệp |
| 6 | Nguyễn Thị Hồng Phượng |
| 7 | Nguyễn Thị Lan |
| 8 | Trần Thanh Nga |
| 9 | Nguyễn Đức Chính |
| 10 | Phí Bùi Thu Hà |
| 11 | Nguyễn Thị Bảo Linh |
| 12 | Nguyễn Thị Kim Hồng |
| 13 | Nguyễn Thị Ngọc Trang |
| 14 | Nguyễn Văn Chung |
| 15 | Nguyễn Khắc Trường |
| 16 | Tạ Thị Nguyệt |
| 17 | Cam Mai Hạnh |
| 18 | Thuý Hạnh |
| 19 | Nguyễn Hải Yến |
| 20 | Trần Thị Huyền Trang |
- Gần hai mươi năm ông gắn bó với cò, chăm cò như những đứa con mình, đợi từng cánh cò về như đợi bạn tri kỉ. Vậy mà giờ đây, trước miếng cơm, manh áo, ông Nguyễn Văn Của - chủ rừng cò (4 hecta) ở bản Thọ Liên, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc (Thanh Hóa) đang phải đứng trước nguy cơ phá bỏ rừng cò.
Đổ máu vì cò
Bản Thọ Liên một chiều muộn. Mặt trời chỉ còn lấp ló sau những tán cây rừng. Phía xa, từng đàn cò trắng từ dưới xuôi các vùng Tĩnh Gia, Hoằng Hoá, Hậu Lộc và các vùng mạn ngược Quan Hoá, Bá Thước đang đua nhau kéo về quả đồi của gia đình ông Của, làm sáng cả một góc trời.
Thấy chúng tôi dừng xe bên đường chụp ảnh cò đang về tổ, một ông già cất tiếng thở dài: “Chụp đi! Không sau này chẳng biết có còn cò đâu mà chụp”. Ông là Nguyễn Văn Của - chủ đồi cò.

Tuổi đã ngoài 70, sức khỏe không còn như xưa nên ông Của lo lắng: “Liệu một ngày kia mình nhắm mắt tay xuôi thì những thân cò trắng mỏng manh, yếu ớt này biết sẽ bay về đâu?”
Cuộc đời ông Của gắn với những cánh cò như là một duyên phận. Năm 1987, ông dẫn đại gia đình mình từ ngã ba Si (cách đó 3km) lên vùng đồi này phát cây trồng luồng, mong sao sẽ có cuộc sống ấm no. Và khi những khóm luồng ra tán cũng là lúc cò từ khắp nơi về đây trú ngụ.
Ông kể: “Ban đầu, chỉ có một vài đàn, mấy tháng sau cò về nhiều lắm. Lúc đông có khi lên tới hàng vạn con". Đất có lành thì chim mới đậu, ông tin mảnh đất nơi đây sẽ làm cho gia đình mình thoát cảnh chạy ăn từng bữa.
Bên mâm cơm gia đình, ông vẫn thường căn dặn con cháu trong nhà không được bắt, bắn hay làm bất cứ điều gì làm “mếch lòng” để chúng bay đi mất. Gần 20 năm gắn bó với nhau, cái tình cảm giữa người và cò tưởng như không thể tách rời.
Chẳng thế mà lúc có người khuyên: “Sao không bắt ít cò đi mà bán lấy tiền đong gạo, làm gì cũng phải no cái bụng đã chứ”. Những lúc như vậy ông chỉ cười: “Tôi thà chịu đói chứ không đành làm cái chuyện thất đức ấy”.
Bảo vệ đàn cò như những đứa con mình, nhiều khi ông bị chính vợ con mình cho là gàn dở. Ông giữ không cho các con khai thác luồng khi cò còn ở trên đồi hay vào những tháng cò đẻ. Thường thì cứ sáng ra là chúng lại bay đi kiếm thức ăn ở các cánh đồng ở khắp các vùng quê trong tỉnh, chiều tối chúng mới về. Cho nên ông tránh khoảng thời gian (sáng từ 5 đến 6 giờ, chiều từ 4 giờ 30 cò bắt đầu về ngủ) để khai thác luồng.
Vào những tháng cò đẻ, ông chỉ khai thác luồng ở ven quả đồi nhằm hạn chế ảnh hưởng đến đàn cò, nhất là cò non.
Vì cuộc sống mưu sinh mà ông đành cắn răng chấp nhận phá 1ha luồng để trồng mía kiếm thêm thu thập cho gia đình mình.
Chính vì bảo vệ đàn cò, đã không ít lần khiến ông phải đổ máu. Đó là vào khoảng thời gian từ năm 1997–1998, một số người dân ở vùng Xuân Thành, Thành Công vào săn, bắt cò. Cứ đêm xuống hoặc trưa nắng là họ lại vượt đồi vào vườn luồng dùng súng săn, súng cao su bắn hạ cò, rồi rung cây cho cò non rơi xuống. 
Ông kể: “Đêm ấy, tôi đang ngủ bỗng nghe trước nhà tiếng cò gọi nhau, oang oác như có người phá tổ”. Ngồi bật dậy, nhìn lên đồi thì có ánh đèn pin đang dọi, ông gọi các con và dân làng lên giúp. Khi mọi người kéo lên, nhóm người xấu mới rút về.
Tưởng mọi chuyện thế là xong, nhưng ngay trưa hôm đó, một toán khoảng 12 người lại tiếp tục vào săn bắt cò: “Lúc này, chỉ có mình tôi ở nhà, các con và dân làng đều ra đồng hết. Vội vàng, tôi vác theo một con dao phát rừng lên. Khi bước vào đồi thấy những thân cò non đang nằm dưới đất. Bố mẹ chúng đã chết bởi những phát súng của bọn săn”.
Ông hét lên: “Không được bắt cò của tao”. Nhưng có tiếng người đáp lại: “Cò này là của thiên nhiên, không phải của nhà mày”. Ông lao vào giằng lấy súng của bọn chúng. Một đứa quát lên: “Đánh chết thằng già này đi”, ngay lập tức một tên trong nhóm đã dùng báng súng đánh vào đầu ông. “Tôi loạng choạng ngồi bịch xuống vườn cò, sờ tay lên trán thấy máu chảy đỏ cả bàn tay” - ông nhớ lại.
Không còn sức để chống cự lại bọn chúng, ông lấy chút sức còn, tìm chỗ cao hô lên to: “Các con ơi, nó đánh chết bố rồi”. Ông ở trên đồi nên tiếng hô vọng xa, nhờ vậy các con ông và dân làng đang cấy lúa ở các cánh đồng gần đó đã kịp thời chạy lên giải thoát cho ông. Nhưng sau vụ đó, ông cũng phải đi truyền nước ở trạm xá và nghỉ ngơi hàng tháng trời mới lại sức.
Mấy tháng trời sau đó, bọn xấu lại vào phá vườn cò nhà ông. Ông ăn không ngon, ngủ không yên. Cứ hễ khi nào nghe tiếng ông kêu cứu, dân làng lại hò nhau: “Nó đánh chết ông Của rồi, dân làng ơi! Lên cứu ông Của thôi.” Khi dân làng kéo lên ông mới được giải thoát khỏi những tên săn cò.
Thương chồng, lo cho bố nên bao lần vợ con khuyên ông phá rừng luồng đi trồng mía cho hiệu quả cao, các con không phải lo nghèo nữa mà bố cũng không phải khổ sở vì nó, ông vẫn cương quyết không phá rừng. Bởi, “phá nó” đồng nghĩa với việc đàn cò mà ông chăm như con gần 20 năm nay sẽ ra đi.
Ông còn kể chuyện khi con đường Hồ Chí Minh làm qua khu đất nhà ông, những quả mìn phá núi làm chấn động cả một vùng. Khoảng thời gian ấy, ông chỉ lo đàn cò sẽ rời ông ra đi. Nên cứ mỗi buổi chiều, ông lại ngửa mặt lên trời mong ngóng từng cánh cò bay về như những người bạn tri kỉ đợi nhau. Điều ấy khiến vợ con ông hiểu được ông yêu quý đến cò đến mức độ nào.
Đời người, phận cò…
Nhưng giờ đây, trước miếng cơm, manh áo, ông và gia đình đang lo cho sự tồn tại của đàn cò. Bà Bùi Thị Liên (vợ ông Của) xót xa: “Khi ông ấy quyết định phá bỏ 1 hecta rừng luồng để trồng mía, có đến cả tháng trời ông ấy không ngủ yên. Tôi cũng tiếc, nhưng khi để cả cánh rừng đây thì cái bụng nó đói, nên phải phá để kiếm mấy xe mía mà sống chú à”.
Chiều nào cũng thế, khu đồi nhà ông Của lại sáng rực lên bởi những cánh cò.
Còn ông, ông bảo, khi quyết định phá đi 1 hecta rừng đó có khác nào cắt đi một phần cơ thể của mình. Ông lo, rồi đây khi mình không còn nữa liệu con cháu có giữ được rừng cò không? Bởi để lại thì đói, hơn nữa phân cò thải ra rất hôi, nhất là khi trời nóng. 
Ông kể: “Nhiều hôm bữa cơm gia đình tôi ăn không ngon vì mùi phân hôi thối quá, con cháu cứ phải bê bát cơm đi ra ngoài đường lớn ăn. Chẳng những ăn không ngon mà ngủ cũng chẳng yên, buổi trưa mấy đứa cháu không có đứa nào muốn ngủ ở nhà cả. Nhìn cảnh đó nhiều khi tôi thấy mình có lỗi với con, với cháu”.
Một số cán bộ về hưu trong bản khuyên ông nên làm bản tường trình gửi lên Sở Tài nguyên - Môi trường của tỉnh phương pháp xử lý mùi phân cò. Nhưng gửi lâu mà chẳng thấy hồi âm nên ông chán không muốn gửi nữa tiếp nữa.
Nhiều lần, ông lên hỏi xã, được bảo: "Đang chờ ở trên quyết định. Đành biết vậy!” Ông cười buồn: “Mình giờ cũng già rồi, chẳng còn sức để chạy lên hết cấp này với cấp kia nữa”.
Mặt trời đã lặn sau dãy núi, mắt ông đăm chiêu nhìn về một phương xa nào đó. Đột nhiên ông trầm tư: “Không biết khi tôi nằm xuống, vì đồng tiền bát gạo và với chuyện hôi thối từ phân cò… con cháu có chịu để vườn cò không?" Chúng tôi hiểu nỗi lòng của ông, gần hai mươi năm gắn bó với cò mà giờ đây ông không biết được sau khi mình nhắm mắt: Đàn cò sẽ bay về đâu?
Duy Thành – Văn Chung
“Cõi sống là những kiếp người mà thời gian bện chúng ta lại. Sợi dây thừng cứ nối dài tưởng chừng như vô tận, có thể là những mùa hoa êm ru sắc lá, có thể là nắng, là mưa, là ngọt nhạt của muôn loài hoa trái. Tất cả dường như kết nối lại mà cất lên bản trường ca cõi lòng.” – Đó là lời tựa trong tuyển tập truyện ngắn và tạp văn của Vũ Quốc Hiên (bút danh Vũ Thi) – lão thợ mộc ở làng Yên Phụ - Hà Nội.
Chiều hồ Tây lộng gió, cái gió xua đi sự oi bức của đầu hè. Ngôi làng Yên Phụ nằm nép mình bên hồ thơ mộng như một ốc đảo, lánh xa tiếng còi xe, sự nhộn nhịp của phố phường. Nơi đây chỉ có gió, tiếng sóng vỗ bờ và tiếng nhạc ru dương phát ra từ một căn gác nhỏ nào đó…
Tôi dò la mãi, từ tận ngoài phố đến giữa làng…chẳng ai biết “nghệ nhân Hiên” đóng thùng loa (Theo như dân chơi loa Hà Nội nói) ở đâu cả, người ta chỉ biết trong ngôi làng này có lão thợ mộc Hiên thôi. Tôi tìm đến nhà lão thợ mộc ấy, căn nhà bện chặt lấy gốc cây đa, cửa cổng luồn qua gốc cây đó. Đang đứng ngắm nghía cái cổng, chợt giai điệu của những bản nhạc Trịnh phảng phất bên tai “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi, lại thấy trong ta hiện bóng con người…”
Ngôi nhà có hai tầng, tầng dưới để trống và dường như bị che khuất hoàn toàn bởi gốc cây đa, cho nên gác hai của lão ở như một cái lồng chim treo lũng lẳng trên ngọn cây. Vừa bước tới cầu thang, một bàn tay gầy, trai sạn đón lấy tay tôi. Lão già hơn tôi tưởng rất nhiều, chàng trai lãng tử một thời của đất Hà Thành giờ đã là ông cụ tuổi lục tuần, mái tóc điểm hoa râm. Khuôn mặt hiền từ và đôi mắt như ẩn sau bao điều chất chứa.
Bốn mươi năm về trước, Vũ Quốc Hiên nổi tiếng đào hoa: Thơ, văn, nhạc, hoạ cái gì cũng hay. Là học trò cưng của Trần Dần, Phùng Quán, Lê Kha..dù chưa một lần được ngồi trong ghế giảng đường đại học. Dở dang giấc mộng văn chương vì những tư tưởng “ngông” không hợp thời, sau thời gian “chuyên tu” ông trở về với nghề thợ mộc như duyên trời đã định.
Xộc xệch với đời
Mới đầu tiếp xúc ai cũng nghĩ ông nghèo khó lắm, khổ sở lắm nên mới sống thế này. Ông có một người vợ thanh lịch là người tràng an chính gốc, những đứa con học giỏi, giàu có…có hai ba khu nhà năm, bảy tầng ở trên phố. Thế mà ông không ở với con, chỉ thích ở các căn gác nhỏ này, sống lối sống “xộc xệch với đời”.
Nếu bạn vô tình đọc được một tác phẩm nào đó của Vũ Thi (bút danh của ông) trên một trang mạng nào đó. Hay tôi dẫn ra đây những câu thơ này:
Thân ơi! Gió thoảng đà rồi
Có còn chỉ một nụ cười xô va
Niềm tin như núi…khóc và
Mặc cho dòng chảy nhạt nhoà…hư không.
(Ngẫm 3 – Vũ Thi)
Ắc hẳn bạn sẽ nghĩ tới những ẩn sĩ, phong thái nho nhã…Nhưng không? Vũ Thi chỉ là một lão thợ mộc với quần áo lấm lem, khuya trên cài cúc dưới, mái tóc ngắn củn và đôi mắt u sầu. Bởi thế ông phần trần với tôi ngay: “nghệ nhân, nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ.. quách gì mình, cứ gọi là Hiên thợ mộc thì ai cũng biết. Ngày xưa các cụ thân sinh đều là những nhà Pháp học, có lẽ vì thế mình ảnh hưởng chút văn học lãng mạn từ Pháp nên suốt ngày cứ “mây, gió, trăng, hoa, tuyết núi sông”. Giờ đây thỉnh thoảng ngứa nghề mình cũng thường hay suy tư nhất là những đêm trăng thanh, gió mát hay những hôm ở nhà có một mình lại ngẫu hứng làm mấy câu thơ hay viết một truyện ngắn ngẫm nghĩ lại một ngày làm việc, đọc lại thấy hay hay.”
Căn gác ông ở như hai thế giới riêng biệt, chỉ cách nhau một cánh cửa. Bên kia cánh cửa là xưởng mộc với gỗ lạt, máy móc, mùn cưa, bụi bẩn không khác nào một kho chứa hàng. Một bên là căn phòng với những bức hoạ, những chiếc loa và những cuốn sách được ông bày trí ngăn nắp một chút. Xem chừng lão này còn nặng nợ với văn chương nhạc hoạ lắm. Dẫn tôi vào phòng trương bày, ông giới thiệu những bức tranh sơn mài của mình “đấy tranh tôi đấy, toàn là phong cảnh thôi. Nhìn buồn lắm phải không? Nhưng thực ra không phải vậy đâu? Đời Hiên này có gì đâu phải buồn, phải khổ. Xem tranh phải tuỳ tâm trạng, cậu đang vui, đang muốn trải lòng mình thì những bức tranh này của tôi không phải là cõi tiên, cõi mộng ư! Còn nếu buồn thì nhìn nó chắc như một bến cô liêu…ông lại cười. Rồi ông nói cho tôi một triết lý sống ông đã đọc được và thực hiện nó từ mấy chục năm nay. Ông kể: “Ngày xưa có một nhà bác học lên chùa muốn xin được nương nhờ của phật. Chủ trì ngôi chùa nhìn ông một lúc, sau đó pha một ấm trà rót mời vị bác học này. Tay sư rót mà mắt cứ nhìn vào một cõi hư không, cho đến khi nước tràn ly nhà bác học nhắc thì sư mới ngừng tay. Vị chủ trì quay lại nói với nhà bác học một câu: Lòng con cũng như chén nước này, đã tràn đầy rồi thì không thể rót thêm một triết lý nào nữa.” Điều này lý giải tại sao bác thích ngồi nói chuyện với mọi người, cũng như bác đang ngồi nói chuyện với cháu là đã xả đi một chút chất chứa trong lòng. Tâm hồn mình cũng như một cái kho, chứa mãi phải đầy. Nếu chúng ta cứ chứa những hận thù, những tính toán thiệt hơn trong tâm hồn thì đến một ngày nào đó ta sẽ cảm thấy cuộc sống quanh ta là địa ngục. Sống là phải biết cho đi để nhận vào cháu ạ!
Hao tiền tốn của vì loa
Chẳng những thích thơ, văn, hội hoạ…Lão còn khá ham hiểu âm nhạc. Lão kể: “Ngày xưa mình nghiên cứu kỹ về âm nhạc lắm nhưng cũng chỉ để thoả niềm đam mê nghe nhạc thôi chứ chẳng sáng tác, viết lách gì và chính say mê nó mà dẫn mình đến với nghề đóng thùng loa này.”
Ông nhớ lại: “Ngày xưa nhà mình nghèo nên phải đi đóng thùng loa, bởi âm nhạc mà không có loa phát thì nghe mất hứng, có bản nhạc hay là mọi người đều nghe, đều cảm nhận nó hay chứ một mình nghe cái đài con hát ri rí thì hay cái nổi gì.”
Để có được ngày hôm nay có thể chơi, kiếm tiền từ nó thì hơn mười năm trước đây ông phải lao đao vì nó, lao tâm khổ tứ vì nó. “Ngày trước cứ hễ nghe ai mách ở đâu có bộ loa tốt, hay củ loa tốt là kiểu gì mình cũng xoay được tiền mua bằng được nó về. Nhưng cứ nghe một thời gian lại chán bởi toàn dính phải hàng giả. Tiếng âm thanh phát ra không được chuẩn, vậy là phải bán, lỗ có khi cho không cũng phải bán. Bởi để thì chật nhà mà nghe thì làm hỏng âm nhạc mất.” Cứ thế ông mua, mua..bán, bán. Vợ ông bà Lê Thị Thơm nhớ lại: “Ngày ấy nhà tôi là tư sản nên…nghèo lắm, nhiều hôm phải chạy đong gạo từng bữa cho con nhưng ông ấy thì mặc kệ. Cứ thấy ở đâu có loa là xoay bằng được tiền đi mua. Hôm thì vay bạn bè, nhưng vay mãi cũng nể nên cứ đòi tiền vợ. Cứ tưởng ông ấy mua bộ này là bộ cuối nào ngờ mua về chưa được dăm bữa nửa tháng là ông ấy lại bán, có khi cho không và bực tức vì mình bị lừa loa đểu, nhiều khi trông thấy tội.”
Không thể cứ mãi xin tiền vợ, ông đi làm thêm rồi kiếm tiền mua củ loa về học tự đóng lấy thùng. Lần mò mãi ông cũng đóng được thùng loa cho mình. Ông nhớ lại: “khi tự tay mình chế thùng loa, đến lúc nghe nhạc nó sướng tai lắm. Tự mình thiết kế ma trận, tự mình điều chỉnh âm thanh, hỏng lại sửa đến khi nào cái tai nghe ưng thì mới thôi.
Có được cái thùng loa ưng ý, đêm đêm ông lại mở những bản tình ca của một thời bị quên lãng ra nghe. Giọng ca của Duy Khánh, Trường Vũ, Tuấn Ngọc, Khánh Ly…cất lên, ông như thấy đời mình nhẹ đi, thấu cảnh đời hơn, hiểu nhân tình thế thái hơn.
Tiếng làng đồn xa, thời gian sau căn gác nhỏ của ông liên tục đón những vị khách chút mang duyên nợ với âm nhạc đến đạt ông làm thùng loa. “khách đến đây đặt làm thùng, giàu sang cũng có, bần hàn cũng có nhưng tất cả đều có chung một điểm là say mê âm nhạc. Người nông dân sau những ngày vất vả với ruộng đồng, về nhà nghỉ ngơi cũng muốn nghe một làn điệu chèo trong trẻo để ru mình vào giấc ngủ quên đi cái vất vả của cuộc sống. Ông giám đốc sau những tính toán, lo toan…tối về ngả người lên giường cũng muốn được những bản tình ca của Trịnh Công Sơn ru mình vào giấc mộng đẹp…hầu như tất cả ai đến với âm nhạc đều thấy mình sống thiện hơn, âm nhạc hướng con người ta đến với cái đẹp là vậy.
Để làm được một đôi thùng loa ưng ý cho khách ông phải mất 20 ngày, trong đó công đoạn quan trọng nhất là đánh giá củ loa. Thường thì những người chơi loa hay mua các củ cũ ở nước ngoài, sau đó đưa về cho ông đóng thùng. Việc đánh giá củ loa sẽ định dạng được kích thước thùng, cách bày trí ma trận trong thùng loa…làm sao âm thanh phát ra ở đủ các thể loại nhạc đều phải trong như tiếng suối chảy vậy. Giờ đây tôi có sạn trong đầu rồi, củ loa đem về chỉ cần thử là biết cái nào hỏng, cái nào còn dùng được. Chơi loa không cốt lắm tiền, tuỳ không gian và sở thích từng người mà quyết định giá thành của một cái loa. Có khi có cái lên đến gần trăm triệu, có khi chỉ dăm bảy trăm cũng đã có một đôi loa ưng ý rồi…ông muốn nhấn mạnh cho tôi cái cốt yếu đến với âm nhạc là “phải có một tấm lòng” – Hãy đến với âm nhạc, âm nhạc sẽ cho ta nhiều thứ hơn ta tưởng….
Duy Thành
Ông Chuỳ giỏi; ông Chuỳ điên điên khùng khùng; Ông tay cày, tay bút, ông nhà báo nông dân….biết bao nhiêu lời nhận xét về ông Đỗ Khắc Chuỳ ở khu 1 – xã Phượng Lâu (Tp Việt Trì – Phú Thọ), khen có, chê có…để ngoài tai tất cả, ông chỉ làm điều gì mình đam mê, mình yêu thích.
Con sông Lô hiền hoà, trở đầy cát nặng phù sa…chúng tôi ngược theo triền đê sông Lô tìm đến căn nhà của ông Chuỳ. Tôi dừng lại hỏi thăm cụ già bên đường về ông: “ông Chuỳ viết báo chứ gì? Hai cháu cứ đi lên một đoạn, qua cái máy bơm, rẽ trái là đến nhà ông.” Tôi cho xe tiến lên một đoạn, lao vút xuống con dốc triền đê, suýt nữa đâm phải nhà người dân.
Vừa bước đến nhà, vợ ông bác Nguyễn Thị Tuỳ đã báo cho chúng tôi biết: “Ông đi từ sáng, không biết giờ đang ở đâu?” Ở ngoài kia từng đám mây đen đang kéo tới, bà đang lo cho ông, lo cho cái thân già không biết có bị mưa không? Rồi bà than thở: “Chẳng biết viết lách cái gì, ông ấy tìm kiếm thông tin ở đâu mà đi suốt ngày, nhiều hôm chẳng màng đến cơm nước.”. Chúng tôi nhìn quanh khu nhà vợ chồng ông đang ở với cậu con trai út, một cái tủ đựng toàn báo, ít sách vở và hai cái đài radio đã cũ. Hỏi ra mới biết đó là toàn bộ thư viện riêng của ông và những bài báo ông viết đều được lưu vào đó, vợ con không ai được đụng vào “thế giới” ấy. Bà cho biết thêm: “tối nào ông cũng xem tivi, đêm nghe đài, có hôm đang ngủ lại dậy ghi ghi chép chép cái gì đó, trông thật khổ.”
Đã hơn mười năm nay, nghề báo như chất xúc tác khiến một anh lính chỉ quen cầm súng, trở về quê nhà “cày ruộng theo đích trâu”, giờ chuyển ngoặt 1800 sang cầm bút. Hơn mười năm, với hơn 1300 bài báo đăng tải trên 16 báo Trung ương và 13 báo địa phương khiến ông trở thành “nhà báo nông dân” có một không hai ở Việt Nam.
Chúng tôi điện thoại hẹn gặp ông, đầu dây bên kia một giọng đàn ông rắn chắc, mạch lạc: “sáng mai hai cháu lại nhà bác, chỉ có sáng mai là bác ở nhà thôi. Bảy giờ nhé, đến sớm mới nói chuyện được nhiều, ít ít không viết được đâu.”
Đúng hẹn, chúng tôi quay trở lại ngôi nhà của “nhà báo nông dân” ấy. Vừa bước vào đến cổng, ông đã ra tay bắt mặt mừng chào đón chúng tôi như một người bạn thân tình. Tôi hỏi: Hôm nay bác không đi viết bài nữa à! Ông cười: “Đã hẹn với các cháu rồi thì phải gác mọi chuyện lại, nhà báo phải giữ đúng lời hứa, mình mất tín thì ai tín mình nữa.”
Làm báo “oai” lắm
Sau ngần ấy thời gian, vất vả, gian lao ông đã nếm đủ với nghề báo nhưng ông lại thích điều đó, nhiều người cho ông “hâm” nhưng ông thích nghề đó bởi nó cũng “oai” ra phết.
Ngồi nhớ lại cảnh nhà tôi chật cứng người sau bài báo “vì sao việc chuyển đổi ruộng đất ở xã Phượng Lâu không thành công?” đăng trên báo Phú Thọ năm 1998. Bà con hàng xóm đến hỏi tôi: “Xem lão Chuỳ viết báo thế nào nào, được đăng trên tỉnh cơ đấy.” Sau đó, đi đâu ai cũng gọi ông là “nhà báo” oai thật - ông vỗ đùa đắc ý. Nhưng chính sự đắc ý đó khiến ông không ít phiền toái, chỉ ít hôm sau cán bộ xã kiện ông lên báo tỉnh, không cho phép ông được đứng trong hàng ngũ Cựu chiến binh Việt Nam. Ông lo, lo là phải. Người dân mình là thế, cứ hễ đụng vào chính quyền thì ai cũng lo, làm sai không khéo đi tù chẳng chơi. Ông lại ngược chiếc xe càng tàng của mình lên báo, sau khi được các nhà báo ở tỉnh khuyên: “bác cứ yên tâm, không có việc gì cả. Chúng tôi đang xem động thái của xã thế nào rồi sẽ trả lời họ. Bác cứ về, không nói gì cả, để xem họ làm gì?” Lòng ông vẫn như lửa đốt, nếu xảy lỡ ra việc gì, nếu ông phải vào tù thì vợ con ông sẽ sống sao đây? Ông còn mặt mũi nào nhìn bà con hàng xóm nữa. Đang sợ, có mấy người trong làng lại cho thêm dầu vào: “đợt này làm to khéo ông đi tù, dám nói cán bộ sai”. Ông không can tâm, cái gì sai phải nói để mà sửa, lão lại ngược xe lên gặp đại tá Lê Lâm – Phó chủ tịch hội cựu chiến binh Phú Thọ thời đó. Đại tá bảo ông không sợ gì, nhân danh bộ đội cụ Hồ, phải biết “phê bình và tự phê bình”, mình làm đúng thì sợ ai. Ai kiện, ai doạ cứ lên gặp Lê Lâm này.” Ông vững lòng hơn. Thế rồi mọi chuyện cũng qua, vợ con ông khuyên can từ nay “xin chừa”, tự đâu mang “rét vào người mà run”.
Từ đó tiếng ông Chuỳ viết báo vạch cái sai của cán bộ nổi lên như cồn, khắp tỉnh ai cũng biết đến ông. Không dừng lại ở đó, lão viết thẳng vào những vấn đề gai góc ở các địa phương, cho nên cán bộ phải “gờm” ông, ngoài mặt vui vẻ nhưng trong lòng sợ ông lắm. Bởi theo ông, cán bộ thì muốn tốt cho dân nhưng không phải cán bộ nào cũng giỏi, việc giấu dốt là việc không nên, làm sai thì sửa. Ông tâm sự thêm: “nói vậy thôi! Sau ít bài viết về cái sai, cái hạn chế chẳng thấy tăm hơi đâu nên tôi chán, chuyển sang viết về người tốt, việc tốt; những nhân tố mới, mô hình mới….dễ viết, dễ đăng hơn đúng không?” – ông lại cười.
Khi đã quen với cây bút rồi, lão hay đi dự các cuộc họp, hội nghị ở trên tỉnh và các địa phương để lấy tin viết bài, giữa hội nghị, đeo cái máy ảnh chụp tách…tách…oai lắm chứ! Nói rồi ông lấy một chiếc máy ảnh hiệu Canon đã cũ ra khoe với chúng tôi. “con này chinh chiến với tớ mấy năm nay rồi đó. Ngày trước biết mình mê làm báo, vợ tôi tích cóp với bán thêm ít lúa mua cho một chiếc máy ảnh 600 trăm nghìn. Chụp được thời gian thì trên đường về nhà, bon bon trên các ngã đường, lòng phấn khởi vì gặp được nhân vật mình muốn viết, xe băng qua các ổ gà….và băng luôn cả chiếc máy ảnh (mấy tạ thóc của vợ tôi) ra đi lúc nào mà chẳng hay, về nhà nghĩ mà cứ tiếc ngẩn, tiếc ngơ. Còn con này, nhân một dịp đi viết bài được người ta bám lại cho, tưởng mua được chiếc máy ảnh tốt ai ngờ lại bị…lừa. Việc là giờ đây, khi sử dụng nó ông cứ phải mua một đôi pin 50.000 đồng, chiếc máy ảnh đời cũ quá rồi, không có sạch pin cho nó nữa mà pin của nó người ta cũng sắp không nhập nữa rồi. Khốn nạn thay, cậu bán máy cứ bảo: Máy đời mới, cụ ra bất kỳ hàng ảnh nào cũng mua được bộ sạc pin của nó. Hỏi mãi, hỏi nhiều chẳng thấy mới hiểu ra mình bị lừa.”
Không nói chuyện tới máy ảnh nữa, ông bảo: “dù cũ nhưng ông là người duy nhất trong làng có máy ảnh, điều đó chẳng không oai sao.” Một điều mà ông cảm thấy vui trong lòng nữa là: Người dân không chỉ xem ông như “nhà báo” mà họ còn gọi ông là “cán bộ xã”. Bởi, cứ sáng khoảng gần 7 giờ là ông vác chiếc xe đạp cà tàng ông mua từ năm 1973, đội mũ cối, xách cập, ăn mặc chỉnh đề đi trên triền đê, trưa về nghỉ, 2 giờ chiều ông lại tiếp tục đi đến tối mới về. Bà con trong khu nhìn thấy cứ gọi với theo: “Cán bộ đi thăm dân à! Nghĩ cũng hay, tuy biết là trêu đùa nhưng ông thấy thích điều đó.
Đi đâu đố vợ con mà biết
Tôi không ngạc nhiên khi ông cho biết điều này, bởi ngay từ buổi đầu gặp vợ ông chúng tôi đã biết. Bà vợ không biết được chồng mình hôm nay đi đâu? Làm gì? Viết về ai? Bởi hỏi ông cũng chẳng nói. Tôi thắc mắc: Giờ bác già rồi, đi đâu phải cho vợ con biết nếu lỡ có ốm giữa đường bác bà và anh nhà ta còn biết chỗ mà tìm chứ. Ông phân trần: “Tôi biết điều đó nhưng đi làm việc cho đàn bà biết thì không hay lắm. Có hôm đi đến những vùng núi xa xôi, cách nhà ngót 100 km, cho bà ấy biết thì bà ấy ngăn lại mình làm sao đi nổi. Cho nên cứ kệ, bà có hỏi thì bảo: Tôi đi viết ở quanh đây thôi mà! Thế là tôi rắc xe ra đi.”
Giờ đây, chiếc xe đạp chinh chiến cùng ông mấy năm đầu đã được ông đưa vào viện “bảo tàng”, vợ ông thương ông nên bán con Trâu, cộng với phụ giúp của anh em trong gia đình mua cho ông chiếc xe cúp 70 (2003), từ đó ông có xe máy đi. Nói đến đây ông chững lại à! Lên một tiếng: “Cháu vừa mới nói ý đấy có khi bác phải tiếp thu. Bác đã bước quá tuổi lục tuần rồi, chân chậm, mắt mờ, tai bị nặng (sau đợt ốm năm 2008)…cho nên giờ đi đâu có khi phải báo với bà nhà nó một câu, không lỡ có chuyện gì xảy ra thì khổ”. Nói đặng ông nhìn ra ngoài sân nói to cho bà Tuỳ nghe: Đúng không hả bà? Bà Tùy đáp lại: Ông toàn cứ nói gở.”
Thực tình ông cũng lo rồi, ông kể cho tôi nghe những kỉ niệm của mình khi đi viết bài, vui thì nhiều nhưng nhiều khi khó khăn, gian lao tưởng chừng sức ông không vượt qua nổi. Đó là vào tháng 1 – 2007, ông về Đại An (Thanh Ba) viết bài “Người thanh niên đạt giải Lương Đình Của”. Trời mùa đông rét như cắt da, cắt thịt, khi ông đến nơi thì chân tay tím ngắt như thịt gà rù, bấm chẳng biết đau. May sao ông không bị cảm lạnh giữa đường, nếu mà bị thì giờ chắc đã xanh cỏ rồi phải không cháu. Rồi lần ông đi lên Thu Cúc (Tân sơn) viết bài “Người bưu điện tận tuỵ” đây là lần đầu tiên ông biết tới những góc cua “thót tim” của đèo Cón. Mãi tới giờ nhắc lại ông vẫn còn thấy nổi hết da gà lên.
Trời đã hửng nắng lên, chúng tôi chia tay ông “nhà báo nông dân”, ông cố gắng giữ chúng tôi ở lại ăn bữa cơm với gia đình. Nhưng khi tôi nói: Chúng cháu còn hẹn với một người, cảm ơn tấm lòng của hai bác. Có dịp cháu sẽ quay lại! Ông liền tiếp lời tôi: “Vậy thì bác không giữ, nhà báo đã hẹn là phải đến. Vâng! Nhà báo đã hẹn là phải đến.
Duy Thành - Đức Chính