Yahoo! 360° News | Beta Feedback
Start your own Yahoo! 360° page

Yahoo 360 chết, một cái chết không cần ngậm ngùi...

1 - 5 of 28 First | < Prev | Next > | Last

Mõ Làng's Blog Full Post View | List View

.

ĐIẾU CÀY: GIỜ NÀY ANH Ở ĐÂU ?
ĐIẾU CÀY: GIỜ NÀY ANH Ở ĐÂU ? magnify

Ở đời trăm sự đều cay đắng,

Cay đắng đâu bằng mất tự do,

Mỗi lời, mỗi việc không tự chủ,

Để chúng dắt đi tựa trâu bò

(lời tự khai của baaác “Hổ”)

Tôi viết những dòng này trong sự thúc bách trước một bản án bất công của cái nhà nước quái đản “Cộng Hòa XHCN Việt Nam” dành cho một nhà báo, một blogger trong friend list của tôi: blogger Điếu Cày. Trong khi tôi ngồi trước máy gõ những dòng chữ này thì phiên tòa chớp nhoáng, kệch cỡm kia đã kết thúc và bản án dành cho anh là 2 năm 6 tháng với một tội danh rất mơ hồ.

Ở cái đất nước được mệnh danh là “thiên đàng XHCN” của tôi, đầy dẫy những nhà tù và những người tù chẳng bao giờ hiểu nổi mình mang tội gì !!! “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”, cổ nhân đã dạy thế, vậy thì con người ta sinh ra phải cố gắng sống thật đàng hoàng, thật lương thiện để tránh vòng tù tội. Nhưng điều này quả thật quá vô ích ở đất nước này. Nhà báo Nguyễn hoàng Hải hay blogger Điếu Cày vì quá lương thiện với bản thân mình, anh đã không biết gian dối, đã không biết chấp nhận cuộc sống của loại người “mũ ni che tai”, để được yên thân. Anh biết bất bình trước những bất công của xã hội, những thối nát của bọn lãnh tụ lõa lồ. Anh không biết bịt tai để khỏi nghe những quan điểm của những loài thú nhai lại. Anh không biết nhắm mắt để khỏi thấy những khẩu hiệu cũ rích, những giáo điều mốc meo, những nghị quyết rỗng tuếch, những huyền thoại về thần tượng dối trá. Vì phẩm gía con người, vì sự thiêng liêng của từng tấc đất, hải đảo cha ông để laị, anh đã dũng mãnh phản kháng bạo quyền nhu nhược “khôn nhà dại chợ”. Anh chấp nhận những hệ lụy, những cay đắng nghiệt ngã, những trả thù đê hèn của những kẻ thống trị đang nắm vận mệnh đất nước và thừa mứa quyền sinh sát trong tay.

Điều mỉa mai cho dân tộc Việt Nam là hiện nay dưới chế độ khốn kiếp này, chúng ta không còn được quyền công khai bày tỏ lòng yêu nước khi đất nước bị ngoại xâm. Người dân Việt Nam không thể bày tỏ cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc ta, kẻ xâm lăng tàn ác nhất loài người, là nòi Hán biết rằng chúng nó không thể muốn làm gì thì làm.

Điếu Cày chắn chắn sẽ yên thân, nếu anh đừng viết những bài báo tố cáo chính sách bá quyền của loài rợ Hán tại biển Đông. Nếu anh đừng tham gia những cuộc biểu tình về Hoàng Sa và Trường Sa, đừng chống rước đuốc Thế Vận Hội Bắc Kinh. Làm như thế chẳng khác gì anh chửi cha đám dân làng Ba Đình. Anh dám đụng đến bố Tầu của chúng, làm sao chúng để anh yên!!

Cộng sản luôn thừa tài năng bẩn thỉu và thủ đoạn hèn hạ để "tìm tội" và nghĩ ra một lý do rất "chính đáng" để bắt những người chống đối chúng vào tù. Điếu cày không phải là “ngụy quân, ngụy quyền”, anh không đảng phái, không là lãnh tụ tôn giáo, hơn nữa anh lại là một “cựu chiến binh” nên không thể bắt anh vì tội “chống phá nhà nước XHCN” khơi khơi được. Phải chụp lên đầu anh một cái tội thật “logic”, thật danh chính ngôn thuận: đó là tội danh “trốn thuế”.

Luôn luôn, Cộng Sản là những kẻ nuôi thù hận và trả thù vặt vãnh. Đến giờ phút này nếu còn ai chưa hiểu lòng dạ của cộng sản thì cũng sẽ đến ngày tới lượt họ sẽ được ghép với một tội danh thật bẩn thỉu để được đưa đến một địa chung của chủ nghĩa đó là: nhà tù.

Buồn thay, ở thế kỷ thứ 21, khi mà cả nhân loại đang tiến lên, thì ở một mảnh đất nghèo nàn hình chữ S, vẫn còn một bọn người già nua, cố bám lấy quyền lực để tham ô, đục khoét đất nước, vẫn cố lừa dối người dân bằng một chủ nghĩa ngoại lai đã bị chối bỏ ở ngay chính nơi đã sản sinh ra nó. Bọn chúng sẵn sàng trơ trẽn kết tội, bỏ tù, bôi nhọ những người dân lương thiện, công chính nhưng dám đứng thẳng, lừng lững vạch ra những thối tha của bọn chúng. Than ôi! sao định mệnh và số phận của dân tộc tôi lại khắc nghiệt đến như vậy nhỉ?

Lỗ Rốn

10/9/2008

Tags: điếucày
Thursday September 11, 2008 - 05:14am (SGT) Permanent Link | 18 Comments
BỈ ỒI
BỈ ỒI magnify
Get this widget | Track details | eSnips Social DNA

Ngay sau ngày 30 tháng 4 1975, Cộng Sản đã nghĩ ngay đến kế hoạch triệt hạ tận gốc nền văn học miền Nam. Một nền văn học chỉ mới được xây dựng trong hơn hai mươi năm dưới hai chế độ: Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà. Hai mươi năm là khoảng thời gian thực sự không dài, nhưng vì được tự do sáng tác, tự do tư tưởng, nên nền văn học miền Nam đã sản sinh ra hàng trăm nhà văn, nhà thơ, nhà báo lừng lẫy với hàng ngàn tác phẩm đầy ắp tư tưởng nhân bản yêu thương với cách hành văn phơi phới, phiêu bồng.

Những người dân miền Bắc vào Sài Gòn thời gian từ 1975-1976 không những choáng ngợp với cảnh phố xá đông đúc, hàng hóa đầy ắp, mà còn bị mê hoặc bởi những khu phố chợ trời bán đầy sách báo cũ, một rừng tiểu thuyết, thi ca, tự điển cũ, sách giáo khoa cũ, truyện tranh thiếu nhi, và rồi còn vô số các loại sách giáo dục dành cho thanh thiếu niên theo từng lứa tuổi như: tủ sách hoa xanh, hoa đỏ, hoa tím. Họ tò mò mua, mang về đọc. Rồi họ say mê những tác phẩm của các nhà văn, thi sĩ miền Nam như Võ Phiến, Hồ Hữu Tường, Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, Duyên Anh, Vũ Hoàng Chương, Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Tâm Tuyền, Tô thùy Yên, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Dzung Sài Gòn….Rất mau chóng chỗ đứng của nhà thơ “vĩ đại nhất” HCM, và nhà thơ “vĩ đại nhì” Tố Hữu trong lòng người dân miền Bắc bị hạ thấp đến thảm hại. Chú bộ đội “bác Hồ” dấu tác phẩm “Cậu Chócủa Lê Xuyên trong đáy ba lô để đêm đêm mang ra đọc lén. Anh công an “nhân dân” nghiền ngẫm mê say truyện gián điệp “Z.28” của Người Thứ Tám. Chị cán bộ quên ăn quên ngủ với cuốn tiểu thuyết diễm tình “Nẽo về tình yêu” của Bà Tùng Long. Người dân miền Bắc quên hẳn những tác phẩm đặt mìn, pháo kích, ném lựu đạn, rèn mã tấu của Đảng. Họ chán ngấy nền văn học khuôn phép một chiều “one way ticket”, nền văn học AK, nón cối, dép râu. Nền văn học gầm gừ của đám phu đào huyệt viết theo đơn đặt hàng của Đảng. Họ thẳng tay quăng “Sống như Anh”, “Người Mẹ Cầm Súng”, “Những mẩu chuyện về cuộc đời của Hồ chủ tịch’ vào thùng rác một cách không thương tiếc.

Thế thì sau 1975, nền văn học miền Nam đã chiến thắng vẻ vang, đã dìm nền văn học của Đảng xuống hố sâu huyệt lạnh. Đảng điên lên vì tức. Quan văn nghệ Tố Hữu và thợ viết đồ tể Trần bạch Đằng nóng máu thề “không để cho bọn văn nghệ miền Nam còn đất sống duới ánh mặt trời”. Đảng “hạ quyết tâm” phải xóa bỏ tận gốc rễ nền văn học miền Nam. Tháng 9 năm 1975, Đảng hô hào và phát động chiến dịch tận diệt nền “văn hóa đồi trụy”, “văn hóa phản động”. Hàng ngày, những chiếc loa trong phường, trong xóm ong ỏng kêu gào, hò hét người dân đem nộp những văn hóa phẩm “tàn dư của Mỹ Ngụy”. Học sinh, sinh viên, viên chức nhà nước được học tập về chiến dịch tận diệt văn hóa phẩm phản động. Không khí nô nức lắm, hùng hổ lắm. Vài nhà văn và vài tác phẩm tiêu biểu của văn học miền Nam được Đảng chiếu cố cho vào chưng bày chung với xe tăng, đại pháo ở phòng “Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy”. Trên vô tuyến truyền thanh, ngày nào cũng phát đi lời kêu gọi cấm tàng trữ những văn hóa phẩm độc hại và hình ảnh cò mồi là những buổi đốt sách báo đồi trụy được chiếu đi chiếu lại trên TV để đập vào mắt dân Sài Gòn.

Nhưng Đảng đã thất vọng não nề. Càng ra sức tiêu diệt, sách báo cũ của miền Nam càng có giá. Người ta đem dấu, copy lại, truyền tay nhau đọc. Và rồi theo chân những người “chiến thắng”, sách báo “phản động” lại đi ngược Trường Sơn ra tận miền Bắc. Trong khi đó, những sách báo của Đảng mang vào miền Nam, “Thép đã tôi thế đấy”, “Dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng”, “Liên Khu Năm anh dũng”, “Hồ chí Minh tuyển tập” thì nằm ế chỏng gọng, chờ bụi bám trên các giá sách ở các nhà sách quốc doanh. Đảng nhớ lại cuộc phản kháng “Nhân Văn Giai Phẩm” của các nhà văn, nhà thơ miền Bắc năm 1956 và rồi Đảng càng sợ hãi ảnh hưởng tư tưởng của các văn nghệ sĩ miền Nam. Những chuyên viên “tìm tội” cùng với những chuyên viên giết người của Đảng họp khẩn cấp. Cần phải có “thái độ quyết liệt” với bọn này càng sớm càng tốt. Thời gian này, “ngụy quân, ngụy quyền” miền Nam đã bị Đảng dụ khị cho vào tù hết rồi. Đảng đang rất rảnh tay để tiêu diệt đám văn nghệ sĩ Sài Gòn. Đây rồi, Đảng đã nghĩ ra một kế thần sầu quỷ khốc để có cớ đưa tất cả những bọn văn nghệ sĩ miền Nam, “bọn biệt kích cầm bút” vào tù. Đó là quỷ kế bẩn thỉu “gắp lửa bỏ tay người” mà Cộng Sản luôn áp dụng ở bất cứ nơi đâu, bất cứ ngõ ngách nào có sự thống trị của chúng.

Đêm 1 tháng Tư năm 1976, cả Sài Gòn rung chuyển vì một tiếng nổ cực lớn ở ngay trung tâm thành phố. Người dân Sài Gòn ngơ ngác, họ chưa biết chuyện gì xảy ra? Kháng chiến quân VNCH về giải phóng Sài Gòn chăng? "Quân ta" đã về ??? Nhiều người dân Sài Gòn suốt đêm mơ mộng như vậy!!! Không, không phải thế !!! Sáng sớm hôm sau đọc các báo nhà nước họ được biết bọn “phản động” đêm qua đã đặt mìn cho nổ tung con rùa làm bằng đồng đen dưới chân tượng đài kỷ niệm những nước đồng minh đã viện trợ cho VNCH. Đó là “Công Trường Quốc Tế” nằm ngay ở quận Nhất Sài Gòn. Báo chí nhà nước tường thuật chi tiết vụ phá hoại. Bình thường đó là nơi tụ tập hàng đêm để hóng mát của các anh công an, bộ đội đóng ở Dinh Độc Lập, Đài phát thanh, Bưu Điện, Toà Đại Sứ Mỹ. Thế mà tối hôm đó công an và bộ đội đều vô sự !!!??? Chỉ có những người dân Sài Gòn đi hóng mát và ngồi chơi ở đó là… banh xác. Lực lượng an ninh đã bắt được thủ phạm ngay lập tức. Liền sau đó một chiến dịch quy mô được Đảng tung ra. Tất cả các văn nghệ sĩ miền Nam có tên trong một bảng phong phần đều bị truy bắt trong chiến dịch từ ngày 2/4/76 đến ngày 28/4/76 với tội danh đặt mìn phá hủy “hồ con rùa”. Người dân Sài Gòn chưng hửng, hoang mang và lo sợ tột cùng.

Đến năm 1982, nhà xuất bản Tuổi Trẻ cho phát hành một cuốn sách dưới tựa đề “Vụ án Hồ Con Rùa” của nghệ nhân công an Huỳnh Bá Thành (tức Ba Trung). Trong cuốn sách, Đảng đã bịa đặt ra một câu chuyện thần thoại là vào năm 1967, khi Nguyễn văn Thiệu lên làm tổng thống đã mời một thầy phong thủy Tàu nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập. Người thầy phong thủy này cho rằng vị trí của dinh là vị trí của long mạch trấn yểm vị trí của đầu rồng. Con rồng này đầu tại dinh Độc Lập và đuôi nằm tại vị trí của Công trường Quốc Tế. Do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp của người cầm đầu dinh Độc Lập sẽ không bền. Vì vậy, nghe theo lời ông thầy phong thủy, TT Nguyễn văn Thiệu đã yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng, không cho vùng vẫy được nữa để giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài !? Trong cuốn sách gian dối bẩn thỉu này, Huỳnh bá Thành đã cho các nhà văn miền Nam “trói gà không chặt” biến hết thành các “điệp viên tình báo” lão luyện, mưu mô, xảo trá. Họ cũng được biến thành các chuyên viên chất nổ được huấn luyện kỹ lưỡng, thành thục vv..và vv. Đảng vu cáo rằng các văn nghệ sĩ miền Nam đều là tay sai của CIA cài lại, do mê tín dị đoan, do ngu muội và tàn ác đã cho đặt mìn phá hoại “đuôi rồng” để “mong” chính quyền cách mạng sụp đổ ! Nhưng cuối cùng, “bọn chúng” đều bị các lực lượng an ninh của Đảng phát hiện và tóm gọn.

Luôn luôn, Đảng rất yêu và quý trọng tài năng của con người vì bác đã dạy “con người là vốn quý”. Đảng không bao giờ bắt bớ các nhà văn, nhà báo vì tư tưởng hay chính kiến của họ. Đảng chỉ bắt những đứa “đặt mìn sát hại dân lành”. Đảng chỉ bắt những đứa “đưa tin xuyên tạc sự thật”. Đảng chỉ bắt những đứa “tiết lộ bí mật quốc gia”. Đảng chỉ bắt những đứa “vu cáo, nói xấu lãnh đạo”. Đảng chỉ bắt những đứa “trốn thuế” mà thôi. Nếu ai còn không tin, cứ cho biết, Đảng sẵn sàng chưng bày hết “bằng chứng tội ác” của chúng nó.

Thế là, theo chân các “ngụy quân, ngụy quyền mang nợ máu” với nhân dân, gần 50 văn nghệ sĩ miền Nam thuộc “thành phần nguy hiểm” lại lần lượt theo chân nhau vào tù với cái gọi Vụ Án Hồ Con Rùa” do Đảng tự dựng nên. Cộng Sản lại viết thêm một trang sử chó đẻ nữa trong chồng hồ sơ tội ác của chúng với dân tộc Việt Nam.

Lỗ Rốn

7/25/2008

Tags: bỉổi
Saturday July 26, 2008 - 04:18am (SGT) Permanent Link | 21 Comments
CHẠNH LÒNG
CHẠNH LÒNG magnify

Vụ nhà báo Minh Quốc bị đánh “chảy máu mũi” trong buổi tiệc mừng tân Hoa Hậu Hoàn Vũ 2008 đang gây bức xúc và xôn xao trong dư luận. “Người đàn ông” “bợp tai đá đít” nhà báo này đã nói rất thật, rất rõ ràng rằng: “Không cần báo chí tụi mày. Đéo có đưa tin gì hết! và “Mày phải biết rằng cái thẻ cho mày tác nghiệp là do tiền của nhà tao bỏ ra!”. Theo tôi, sở dĩ “người đàn ông” kia dám mạnh miệng tuyên bố như vậy bởi không ai khác chính hắn là “Đảng” là “Nhà Nước” và các nhà văn, nhà báo cỡ như Minh Quân chỉ là những đầy tớ, là những kẻ làm công, ăn lương. Ở VN, đi làm công mà không làm vừa lòng chủ, thì bị ăn bạt tai là chuyện thường tình. Có gì đâu mà ầm ĩ !!!

***************

Hiện nay, hầu hết những nhà báo ở Việt Nam nếu không là đảng viên thì cũng là đoàn viên và họ đều không quên một tiêu chỉ tối cao là "báo chí là cơ quan tuyên truyền, là vũ khí của đảng và nhà nước..." mà họ đã từng được nhồi sọ kỹ lưỡng trong những ngày họ mài đũng quần trong nhà trường dạy viết văn, làm báo. Văn hóa, văn nghệ, báo chí là công cụ phục vụ cho chế độ CS. Tất cả những điều họ viết ra đều phải được Đảng cho phép và kiểm soát. Các nhà văn, nhà báo Việt Nam chỉ “can đảm, kiên cường, lẩm liệt”, khi được Đảng “bật đèn xanh” và cho phép họ “can đảm, kiên cường, lẩm liệt”. Lâu lâu, tùy từng vụ mùa, Đảng sẽ mượn tay nhà văn, nhà báo để chống tham ô hủ hóa với mục đích xoa dịu sự căm phẫn của quần chúng mà thôi. Cũng nhờ đó người dân Việt Nam thỉnh thoảng lại được xả xú bắp, được đọc một vài bài báo hung hăng con bọ xít tố tham nhũng, hay những bài phóng sự giật gân phản ảnh khá trung thực những mặt trái của xã hội VN.

Trong những dịp hiếm hoi như vậy, được cho phép, lại để bán được nhiều báo, tất nhiên các chủ báo của Đảng cần đánh vào thị hiếu của quần chúng. Đó là chống xã hội bất công, đảng viên tham nhũng hủ hoá, xa hoa, ăn cắp của công đi đánh bạc, đi chơi gái, công an lạm quyền, đánh dân, ăn hối lộ, “dân oan khiếu kiện” vv... Các Tổng Biên Tập liền cho phóng viên báo mình phóng đi điều tra khắp các hang cùng ngõ hẻm. Người dân sau bao năm bị dồn nén, nay được dịp gãi đúng chỗ ngứa, hả hê lắm, sướng lắm, hăng hái phụ họa viết thư tố cáo tham nhũng rầm rộ. Nhưng cuối cùng được gì? Chẳng được gì cả!!! Các phóng viên báo chí, và người dân Việt Nam hiền hòa chỉ ngây thơ làm bung xung cho Đảng, cho lãnh tụ, để chúng đánh bóng và chạy tội cho một chế độ bất nhân và thối nát. Thực tế đã cho thấy một điều nhức nhối là sau những phong trào chống tham nhũng, tất cả những bất công xã hội vẫn tồn tại, không hề suy giảm. Tất cả những vụ án tham nhũng liên quan đến các Đảng viên loại gộc đều chìm xuồng.

Một sự thật hiển nhiên nữa là những tờ báo có chút tiếng tăm và nhiều độc giả ở Việt Nam hiện nay đều là “tài sản riêng” hay ít ra nó cũng có sự bảo trợ ngầm của một hay vài Uỷ Viên Bộ Chính Trị. Đám lãnh tụ CS bạch tuộc mưu mô, đầy quyền lực này dùng báo chí “gà nhà” của mình như một công cụ để đấu đá lẫn nhau, mỗi khi quyền lợi của bản thân hay phe nhóm bị động chạm. Cho nên những bài báo phóng sự hung hăng, to mồm chống tham ô, cửa quyền, để làm vui lòng quần chúng, thực tế cũng chỉ là những tranh chấp nội bộ của bọn đảng viên này mà thôi và những phóng viên, nhà báo mang thẻ Đảng, thẻ Đoàn chỉ là những công cụ đắc lực của bọn lãnh tụ sâu bọ.

Ngày xưa, thời kỳ “cải cách ruộng đất” Đảng mượn bàn tay của đám cốt cán và bần cố nông để tiêu diệt “địa chủ”. Với chiến thuật cố hữu “mượn gió bẻ măng”, Đảng đã khích động căm thù giai cấp và cho những ông bần cố nông, đội trưởng cải cách quyền giết người vô tội vạ. 1 triệu 500 ngàn “địa chủ gian ác” và “địa chủ kháng chiến nuôi quân” bị giết bằng đủ mọi cách man rợ. Đồng ruộng miền Bắc đẩm máu. Bao nhiêu căm hận, uất hờn đổ lên đầu lên cổ đám bần cố nông cốt cán ngu xi. Xong bữa tiệc máu, Bác khóc sướt mướt "hối hận", Đảng “sửa sai”, đám cốt cán và bần cố nông lại bị đem ra làm vật tế thần. 500 ngàn cán bộ đội trưởng cải cách ruộng đất lại bị nông dân và địa chủ còn sống trả thù, mang ra băm vằm bằng đủ những cách dã man và không có tình người. Bác thì im. Đảng thì ngoẳn mặt làm ngơ.

Ngày nay sao y bản cũ, chúng ta lại thấy, trong vụ tố cáo tham nhũng ở PMU 18, Đảng cần “sửa sai” sau chiến dịch tố tham nhũng thì đám nhà báo lại bị hy sinh hệt như đám bần cố nông cốt cán ngày trước. Những nhà báo tố hăng tiết vịt nhất đã phải vào tù bắt rệp cũng như đám cốt cán ngày xưa bị cho đi mò tôm. Hội nhà văn, nhà báo Việt Nam thì im như thóc. Phóng viên vào tù, những thằng Tổng biên Tập ở ngoài thì vẫn thản nhiên, có thằng còn nham nhở cười mỉm chi, đi tắm biền, khoe bụng mỡ, ôm hai em chân dài vi vút ngoài bãi biển.

Ngay từ sau Cách Mạng tháng 8, Đảng đã bắt tất cả các văn nghệ sĩ miền Bắc chối bỏ những đứa con tinh thần của mình, phải chấp nhận phục vụ Đảng, phải chịu một nền văn nghệ dưới sự chỉ đạo của Đảng. Qua các cuộc chỉnh huấn văn nghệ, Xuân Diệu đọc tự kiểm từ bỏ “Thơ thơ”, “Gửi Hương cho Gió”; Nguyễn Tuân dứt bỏ “Tàn Đèn Dầu Lạc”, “Chiếc Lư Đồng Mắt Cua”, “Vang bóng một thời”; Huy Cận từ bỏ “Lửa Thiêng”; Thế Lữ thề đoạn tuyệt với “Vàng và Máu”, “Trên Đường Thiên Lôi”.

Vậy thì thời đại của chúng ta, thời đại mà nhà văn, nhà báo phải gian dối, phải lõa lồ ca ngợi lãnh tụ, phải viết theo sự chỉ đạo của lãnh tụ văn nghệ. Làm sao có thể tìm được một nhà văn, nhà báo nào có những tác phẩm trung thực làm xao xuyến tâm hồn người đọc !!! Làm sao tìm đuợc một nhà văn, nhà báo dám hiên ngang vạch ra những thối nát của chế độ, dám phản kháng Đảng và Nhà Nước. Dám chấp nhận tù đày của Đảng. Dám chấp nhận mọi hình thức trả thù đê tiện kể cả triệt hạ kinh tế gia đình mình. Với ý nghĩ ấy tôi thấy một nhà báo can đảm như Điếu Cày thật đáng trọng.

Lỗ Rốn,

20/7/2008

Tags: chanhlòng
Monday July 21, 2008 - 01:30am (SGT) Permanent Link | 17 Comments
BUỒN NÔN
BUỒN NÔN magnify

Cuộc chiến tranh quốc cộng 1954-1975 không phải là cuộc chiến huynh đệ tương tàn đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nhưng nó là cuộc chiến khốc liệt nhất, tàn bạo nhất do những tên Việt gian vì tham vọng cá nhân núp dưới bóng chủ nghĩa Cộng Sản quốc tế chủ mưu gây ra. Những người Việt Nam hiền lành, chất phác nào hiểu gì về vô sản, về tư bản, nhưng họ đã bị các lãnh tụ Cộng Sản mê hoặc, sai khiến, làm cho họ trở nên thông manh, mù quáng, luôn nuôi lòng thù hận, ngu dốt và độc ác. Cái chế độ Cộng Sản ngoại lai đã được đám lãnh tụ phong kiến đội lốt vô sản áp đặt lên quê hương Việt Nam yêu dấu và mang đến hết tai họa chồng chất này đến tai họa chồng chất khác cho dân tộc. Đất nước thanh bình bổng dưng biến thành bãi chiến trường khốc liệt. Các thứ chủ nghĩa hữu nghị, nắm tay nhau reo mừng liên hoan trên quê hương nghèo đói lạc hậu. Đám lãnh tụ cộng sản mà cầm đầu là Hồ chí Minh, to mồm hoan hô chủ nghĩa “quang vinh”, lãnh tụ “vĩ đại”. Chúng gang họng miệt thị tiền nhân bất hủ. “Bác đưa dân tộc qua nô lệ, tôi dắt năm châu đến đại đồng”. (Thơ Vịnh Trần Hưng Đạo của Hồ chí Minh); “Quang Trung chỉ nhìn được 10 năm, Lénine nhìn xa 100 năm”. ngạo mạn, láo xược tuyên bố: ‘‘Bác Hồ của chúng ta vô cùng khiêm tốn, Bác không muốn kể cho ai nghe về hoạt động của mình. Rồi Bác Hồ được nhân dân ta coi là cha già của dân tộc; Bác còn vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần Hưng Ðạo vì đã đưa dân tộc ta vào kỷ nguyên xã hội chủ nghĩa…’’ (Trích nguyên văn lời của Trần dân Tiên tức Bác Hồ ca ngợi HCM trong “Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của HCT).

Trong lịch sử của nhân loại có những tên bạo chúa và độc tài dùng quyền uy, tiền bạc của mình để ép buộc kẻ khác tôn vinh, ca ngợi mình là chuyện bình thường. Nhưng nghĩ ra cách tự mình viết sách, lấy tên người khác để ca ngợi mình thì quả thật đây thuộc loại …”chuyện lạ Việt Nam” vì nó đi ngược lại truyền thống văn hóa ngàn năm của dân tộc. Theo ý kiến chủ quan của tôi thì cũng may, sau khi chết ông Hồ đã được Diêm Vương thỏa mãn nguyện vọng của ông là tống ông đi gặp Các Mác, Ăng Ghen ở dưới địa ngục. Chứ nếu không, tôi không hiểu ông Hồ sẽ ăn nói làm sao nếu gặp phải vua Hùng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung.

Thực tâm tôi chẳng muốn nói về HCM tí nào, vì nói đến ông Hồ là lại phải nói những đến những điều không tốt, những điều rất tồi tệ. Tôi vẫn biết, sau bao nhiêu năm bị lừa dối, trong lòng của rất nhiều người, ông Hồ vẫn còn là một thần tượng. “Đụng” đến ông chắc hẳn nhiều người sẽ “buồn” tôi lắm. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta không thể nào cứ để cho con cháu chúng ta, hết thế hệ này sang thế hệ khác phải tôn sùng một người bất xứng như ông Hồ. Chúng ta có thể đếm được có gần 100 bản nhạc và hơn 1000 bài thơ ca ngợi “công đức” của ông Hồ đấy. Trong Tài Liệu Giáo Dục Công Dân lớp 7, Nhà Xuất Bản Giáo Dục năm 1997, trang 53 có một bài đọc thêm nhan đề: “Tinh Hoa Của Dân Tộc Việt Nam Góp Phần Vào Tinh Hoa Thế Giới”, bài viết khẳng định như đinh đóng cột một sự kiện là: vào năm 1990, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Hồ Chí Minh, Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học Và Văn Hóa của Liên Hiệp Quốc, tức UNESCO đã ra một nghị quyết công nhận ông Hồ là “danh nhân văn hóa thế giới”. Đây là một sự bịa đặt vô liêm sĩ nhất của đám hậu duệ ông Hồ vì hậu quả của nó gây ra thật khó lường. Không cần thông minh lắm, một người hiểu rõ bản chất của Cộng Sản sẽ biết nếu quả thực có chuyện này thì đám dân làng Ba Đình có để “ngày trọng đại” diễn ra thầm lặng như vậy chăng? Ắt hẳn chúng sẽ dùng bộ máy tuyên truyền khổng lồ, cho TV và báo chí đăng ảnh, và chiếu quang cảnh ngày “tấn phong” ông Hồ ít ra cũng phải vài tháng trời. Rồi lâu lâu chúng lại cho mang ra chiếu đi chiếu lại. Chúng sẽ phóng thật to “cái nghị quyết” trên, rồi cho in ấn trong sách giáo khoa vv…và vv. Nhưng chúng không làm chuyện này là vì sao? Bởi đây chỉ là điều bịa đặt. Năm 1990, chính phái đoàn Cộng Sản viết sẵn bản kiến nghị trình lên UNESCO, đề nghị tổ chức này công nhận ông Hồ là “danh nhân văn hóa thế giới”. Nhưng rồi do gặp quá nhiều phản đối, UNESCO sau khi xem xét kỹ rồi cho vào…sọt rác thế thôi.

Năm nay là năm 2008, tình thế đã thay đổi. Những người VN dù muốn hay không cũng không còn bị đảng CS chơi trò “bịt mắt bắt dê” như những năm 1945-2005 nữa. Hãy thử hình dung rồi đây những đứa bé lớp 7 bị nhồi sọ đủ thứ tốt đẹp về ông Hồ sẽ lớn khôn. Với thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, chẳng khó khăn gì mà chúng không được tiếp cận với sự thật. Cứ vào website của UNESCO hay viết thơ hỏi họ, chúng sẽ biết được sự thật ngay thôi. Lúc đó khi biết được sự thật, chắc chắn chúng sẽ phẫn nộ vì bị lừa dối. Chúng sẽ nguyền rủa thậm tệ cha anh chúng đã dối gạt chúng. Chúng sẽ trở thành những công dân bất mãn chung thân và tệ hại hơn cả là chúng sẽ học thói gian dối, đi lừa người khác. Một thế hệ mới toàn những kẻ lừa đảo !!! Đó chẳng phải là bi kịch của dân tộc hay sao? Không những thế chúng cũng sẽ được đọc lá đơn viết xin được vào học Trường Thuộc Địa của Pháp ngày 15 tháng 9 năm 1911, chỉ ngay sau khi “bác” đặt chân đến đất Pháp. Chưa hết chúng sẽ còn có dịp chiêm ngưỡng dung nhan của vài “bác Hồ gái” nữa thì thử hỏi chúng còn có coi “bác trai” ra cái giống gì nữa không !!!???

Lúc còn sống ông Hồ nói “10 năm trồng cây, 100 năm trồng người”. Những con người mà ông Hồ và đám côn quang hậu duệ trồng được từ những năm 1945 là những con người như thế nào? Xin trả lời là: U mê và man rợ.

Xin mời bạn theo đọc câu chuyện thương tâm sau để thấy rõ “quả báo” và sự tàn ác của những cán binh cộng sản trong cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do ông Hồ bày đầu.

TTCT - Vì cháu khóc quá, sợ lộ Mỹ sẽ giết hết (bộ đội, du kích), người mẹ đó đành chôn sống đứa con ba tháng tuổi do mình rứt ruột sinh ra vào một đêm tối trời của mùa đông năm 1969. Cháu chết đi là để bảo tồn hàng trăm tính mạng (bộ đội, du kích) đang chạy trốn tại hang núi Hòn Kẽm.

Trên đây là lời giới thiệu bài báo của Vũ Công Điền đăng trong báo “Tuổi Trẻ” số ra tháng 6 năm 2008. Trong suốt cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam”, một trong những chiến thuật chiến lược của các cán binh CS Bắc Việt và đám “khăn rằn, bà ba đen” là trà trộn vào dân thường để đến khi lâm trận, chúng sẽ bắt những người dân vô tội làm bia đỡ đạn cho chúng.

Chuyện kể rằng:

Một cái chết khủng khiếp, kinh hoàng, tưởng như trong phim, ấy vậy mà có thật 100% tại vùng thượng nguồn sông Thu Bồn đã gần 40 năm trôi qua. Người mẹ đó tên là Lê Thị Nghê (Năm Nghê) nay đã 73 tuổi. Hiện bà vẫn sống với tâm trí điên tỉnh lẫn lộn trong ngôi nhà tạm tại thôn Linh Kiều, xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Đây là một câu chuyện chưa từng được viết ra nhưng nó đã ám ảnh nhiều thế hệ người dân ở địa phương này, kể cả những dũng sĩ diệt Mỹ thời đó, và họ muốn nó phải được kể lại cho hậu thế.

Sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968, Mỹ tăng cường đánh phá ác liệt những vùng rừng núi và trung du các tỉnh Trung Trung bộ. Thượng nguồn sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam lúc đó là “chiếc nôi cách mạng”, cũng là tâm điểm mà Mỹ thường xuyên tìm đến càn quét và tiêu diệt.

Những năm tháng kinh hoàng

Sau trận đánh dữ dội vào đầu tháng 8-1969 của bộ đội và du kích địa phương xã Quế Tân, huyện Quế Tiên, tỉnh Quảng Nam (tên địa danh của thời kỳ đó) bắn rơi một máy bay, bắn cháy hai tàu chiến với hơn 50 lính Mỹ chết, tưởng Mỹ khiếp vía không bao giờ trở lại đây nữa. Nhưng sau hai tháng, vào một sáng ngày đầu tháng 10-1969, Mỹ cho máy bay rải thảm hàng chục tấn bom xuống xã Quế Tân. Sau đó tàu chiến ngược sông Thu Bồn và máy bay đã đổ xuống đây một sư đoàn thủy quân lục chiến nhằm hủy diệt vùng căn cứ cách mạng này để bảo vệ tiền đồn Nông Sơn - một lá chắn trấn thủ che chở Đà Nẵng, Hội An...

Lúc này ngoài số dân tự sơ tán, còn hơn 200 người thôn Trà Linh (Quế Tân) “được” cán bộ và du kích xã “đưa” vào núi Hòn Kẽm trú ẩn. Những ngày đóng quân tại đây, lính Mỹ càn quét lùng sục nhưng không tìm ra được một người dân nào tại thôn, nên nghi họ chạy hết vào núi. Thế là bao nhiêu vũ khí pháo bầy, đại liên... của lính Mỹ xả vào Hòn Kẽm như mưa.

Giết con đề cứu…. cán bộ, du kích

Hang trên núi Hòn Kẽm là một địa đạo do thiên tạo rất hiểm trở, chỉ người dân vùng này mới biết…. “Ngồi trong hang mà nghe nổ ầm vang, cứ tưởng địch đổ quân đến gần hang rồi, ai cũng im lặng ôm nhau run sợ” - ông Ngô vừa kể vừa toát mồ hôi như tắm!

Trong hang người đông như thế, trẻ con nhiều nhưng không có cháu nào dưới 3 tuổi nên đám trẻ cũng biết sợ, không dám khóc mặc dù rất đói. Bà Năm Nghê thời đó 32 tuổi, bế theo hai con nhỏ - cháu gái lớn Lê Thị Liên, 4 tuổi và cháu trai Lê Tân, 3 tháng tuổi. Bà vừa sợ Mỹ vừa buồn. Nhưng khổ nhất là cháu Tân đói sữa, ngày đêm cứ khóc thét, dỗ hoài không nín. Bà cũng như hàng trăm người trong hang sợ Mỹ nghe tiếng khóc phát hiện nơi trú ẩn của mọi người và giết hết. Có người (“người” đây chắc chắn là đám cán bộ, du kích chứ còn ai vào đây nữa: chú thích của Lỗ Rốn) động viên Năm Nghê: “Chị nên hi sinh đứa con để bảo toàn tính mạng “dân” trong lúc này!”. Nghe vậy bà bàng hoàng lắm, rồi ai cũng thay phiên ôm ấp cháu, nhưng nó cứ khóc nhiều hơn.

Súng vẫn nổ, mọi người ngồi trong hang cứ nghĩ lính biệt kích Mỹ đang đến gần hang rồi. Lúc này mọi người ngậm ngùi đành nghe theo mấy anh du kích, lại động viên cô Năm: “Thôi cô hi sinh đứa con đi...!”. Đêm đó bà Năm hôn núm ruột đang khóc: “Mẹ không bao giờ bỏ con, nhưng vì để cứu bộ đội, du kích , con phải ra đi...”. Sau khi cháu tắt thở, bà cởi chiếc áo trong người đùm con lại. Bà bế thi thể của con, bò lên khỏi miệng hang về hướng tây 100m mặc cho mưa rơi, mặc cho đạn pháo bắn rền vang, bà dùng hai tay móc đất ướt lạnh để an táng con mình.

Sau khi khỏa đất xong, bà ngồi thêm một lúc, dưới ánh chớp của đạn pháo bà thấy lớp đất trên thi thể con đang rục rịch, bà thầm nghĩ: “Con tôi đã sống lại!”. Nhưng rồi không hiểu sao bà lại bốc thêm đất bỏ lên phần mộ của con. Rồi bà chạy về hang tối mò đến bé Liên, ôm con vào lòng, cắn răng nức nở. Mọi người vây quanh im lặng chia buồn cùng mẹ con bà. Bây giờ thì Mỹ không thể phát hiện tiếng khóc của cháu Tân nữa.

Nỗi đau không dứt

Bây giờ con trai của bà Năm đã ra đi gần 40 năm và 33 năm đất nước thanh bình. Gần 200 người dân thôn Trà Linh ngày ấy bây giờ nhân lên gấp ba, đời sống tuy nghèo nhưng vẫn còn may mắn hơn bà Năm. Con gái còn lại - chị Lê Thị Liên - có chồng, một con trai bây giờ cũng nghèo lắm. Hiện nay vợ chồng chị lên tận Nông trường Phước Đức, huyện Phước Sơn (Quảng Nam) nhận chăm sóc khoán 4ha cao su. Vì xa quá anh chị cũng ít khi về thăm mẹ.

Bà Năm giờ ở một mình trong căn nhà tạm của con gái. Hiện nay bà đang bị nhiều bệnh và sống dưới mức nghèo khổ. Ngoài sự giúp đỡ của bà con lối xóm cùng chạy trú trong hang thời đó thì bà không được Nhà nước trợ cấp một chút gì. Có mấy lần chị Liên làm đơn xin trợ cấp cho mẹ, nhưng ngành lao động - thương binh và xã hội các cấp đều trả lời “không biết xếp mẹ con bà vào diện chính sách gì”.

Vì ám ảnh triền miên, nhiều năm qua tâm trí bà tỉnh điên lẫn lộn. Chiếc khăn của đứa con ngày xưa, đến nay bà vẫn còn giữ và coi đó là “báu vật” bất ly thân. Đêm cũng như ngày, khi không tỉnh bà bế chiếc khăn đó hát ru. Rồi có những khi bà đốt nhang, một mình vào rừng miệng nói lẩm bẩm đi tìm mộ con. Nhưng mộ con của bà đã mất dấu tích sau khi an táng do mưa quá lớn. (Vũ công Điền)

Câu chuyện trên lần nữa đã giới thiệu một sản phẩm “chất lượng cao”, độc đáo mà chỉ có cộng sản VN mới đẻ ra được. Đó là sự khát máu man rợ của bọn cán bộ và du kích cộng sản do phù thủy Hồ chí Minh và đám đàn em đào tạo. Điều bi thảm của dân tộc là sau chiến tranh, những người dân hiền lành, vô tội bị chúng lừa vào chỗ chết, cuộc sống của họ vẫn là “sống dưới mức nghèo khổ”, vẫn lang thang, nghèo đói, một số lớn trở thành “dân oan mất đất”, lâu lâu tụ họp vác ảnh “bác” như một tấm bình phong đi cầu bơ cầu bất khiếu kiện.

Còn bọn chóp bu đảng viên cộng sản, bọn cường hào ác bá mới, gian ác và thủ đoạn gấp ngàn lần bọn lý trưởng, chánh tổng thời phong kiến, thì sống như những ông hoàng bà chúa. Thằng to miệng chống tham nhũng nhất lại là thằng tham nhũng hạng gộc. Thời còn nắm chức “tam công”, nó nhắm mắt làm ngơ cho thằng con trai đi du học ở Liên Sô về buôn lậu xe hơi qua biên giới với doanh thu hàng chục triệu đô la. Còn vợ nó thì cầm đầu hàng loạt những công ty đấu thầu cung cấp vật liệu điện và xây dựng cho đường xa lộ Bắc Nam. Số tiền chúng nó ăn cắp lên đến hàng trăm triệu đô la. Khi về vườn, ngồi ăn mãi trên đống tiền ăn cắp cũng đâm nhàm. Lẽ ra nó nên tìm cách trả lại bớt số tiền ăn cắp cho dân nghèo mới phải. Không! Nó vẫn tương tư quyền bính cũ, sợ bị đời lãng quên, vậy là nó viết vài bài báo “phản tỉnh”. Cái trò hề kệch cỡm này vậy mà cũng lừa được khối người nhẹ dạ. Nó chưa thấu hiểu nổi lẽ sống chết trên đời và kiếp người phù du nên nó sợ chết lắm. Lúc bịnh nặng, đã 86 tuổi, lẽ ra nó phải biết “hồi chuông báo tử” đã điểm. Nhưng không ! sẵn tiền ăn cắp quá nhiều, không tiêu cũng uổng, nó và gia đình nó chê bác sĩ “nội” và các bệnh viện “nội”. Nó và gia đình nó thuê bao máy bay riêng để qua các nước “tư bản bóc lột” chữa trị. Rốt cuộc nó cũng phải “về” để Diêm Vương hỏi tội. Con người ai cũng phải chết, chuyện thật bình thường, chỉ khôi hài và bi thảm là những thằng tiêu bạc giả vung vít và làm ung thối đất nước như nó lại đuợc vinh hạnh…quốc tang và đuợc không ít những đứa “dở người” thương tiếc. Đó mới thật sự là chuyện không bình thường chút nào ở mảnh đất được mệnh danh “lắm người nhiều ma” như quê hương tôi.

.

Lỗ Rốn,

12/6/2008

Tags: buồnnôn
Friday June 13, 2008 - 11:16am (SGT) Permanent Link | 68 Comments
ĐÊM NHỚ VỀ TỔ QUỐC

Ðối diện ngọn đèn
trang giấy trắng như xeo bằng ánh sáng
đêm bắc bán cầu vần vũ trắng
nơm nớp ai rình sau lưng ta
nhủ mình bình tâm nhìn về quê nhà
xa vắng
núi và sông
và vết rạn địa tầng
nhắm mắt lại mà nhìn
thăm thẳm
yêu và đau
quằn quại bi hùng
dù ở đâu vẫn Tổ Quốc trong lòng
cột biên giới đóng từ thương đến nhớ
ngọn đèn sáng trắng nóng mắt quá
ai cứ sau mình lẩn quất như ma
Ai?
im lặng!
Ai?
cái bóng!
Ai?
xin chào người anh hùng bất lực dài ngoẵng
bóng máu bầm đen sóng soải nền nhà
thôi thì ta quay lại
chuyện trò cùng cái bóng máu mê ta
có một thời ta mê hát đồng ca
chân thành và say đắm
Ta là ta mà ta vẫn là ta
vâng - đã có một thời hùng vĩ lắm
hùng vĩ đau thương, hùng vĩ máu xương
mắt người chết trừng trừng không chịu nhắm
vâng - một thời không thể nào phủ nhận
tất cả trôi xuôi - cấm lội ngược dòng
thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ
ợ lên nhồn nhột cả tim gan
Ta đã xuyên suốt cuộc chiến tranh
nỗi day dứt khôn nguôi còn sạn gót chân
nhói dài mỗi bước
Ai?
không ai!
vết bầm đen đấm ngực
xứ sở nhân tình
sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu
nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng
Mẹ liệt sỹ gọi con đội mồ lên đi kiện
ma cụt đầu phục kích nhà quan
Ai?
không ai!
vết bầm đen quều quào giơ tay
xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma
ma quái - ma cô - ma tà - ma mãnh.
quỷ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài
đêm huyễn hoặc
dựng tóc gáy thấy lòng toang hoác
mắt ai xanh lè lạnh toát lửa ma chơi
Ai?
không ai!
vết bầm đen ngửa mặt lên trời
xứ sở linh thiêng
sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác
đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh
giấy rách mất lề
Tượng Phật khóc, Ðức tin lưu lạc
thiện - ác nhập nhằng
công lý nổi lênh phênh
Ai?
không ai
vệt bầm đen tọa thiền
xứ sở thông minh
sao thật lắm trẻ con thất học
lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
tuổi thơ oằn vai mồ hôi, nước mắt
tuổi thơ oằn lưng xuống chiếc bơm xe đạp
tuổi thơ bay như lá ngã tư đường
bịt mắt bắt dê đâu cũng đụng thần đồng
mở mắt. bóng nhân tài thất thểu
Ai?
không ai
vết bầm đen cúi đầu lặng thinh
xứ sở thật thà sao thật lắm thứ điếm
điếm biệt thự - điếm chợ - điếm vườn.
điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng
điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn
vật giá tăng
vì hạ giá linh hồn
ai?
không ai
vết bầm đen vò tai
xứ sở cần cù
sao thật lắm Lãn Ông
lắm mẹo lãn công
giả vờ lĩnh lương
giả vờ làm việc
tội lỗi dửng dưng
lạnh lùng gian ác vặt
đạo chích thành tôn giáo phổ thông
ào ạt xuống đường các tập đoàn quân buôn
buôn hàng lậu - buôn quan - buôn thánh thần buôn tuốt
quyền lực bày ra đấu giá trước công đường
Ai?
không ai
vết bầm đen nhún vai
xứ sở bao dung
sao thật lắm thần dân lìa xứ
lắm cuộc chia ly toe toét cười
mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái góa
chen nhau sang nước người làm thuê
biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnh
nhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về
Ai?
không ai
vết bầm đen rứt tóc
xứ sở kỷ cương
sao thật lắm vua
vua mánh - vua lừa - vua chôm - vua chỉa
vua không ngai - vua choai choai - vua nhỏ
lãnh chúa xứ quân san sát vùng cát cứ
lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa
luật pháp như đùa - như có - như không
một người đi chật cả con đường
Ai?
không ai
vết bầm đen gập vuông thước thợ
?.?.?.
Ai? Ai? Ai?
không ai
vết bầm đen còng còng dấu hỏi
thôi thì ta trở về
còn trang giấy trắng tinh chưa băng hoại
còn chút gì le lói ở trong lòng
đôi khi nổi máu lên đồng
hồn thoát xác
rũ ruột gan ra đếm
chích một giọt máu đem xét nghiệm
tý trí thức - tý thợ cầy - tý điếm
tý con buôn - tý cán bộ - tý thằng hề
Phật và Ma mỗi thứ tý ty
khốn nạn thân nhau
nặng kiếp phân thân mặt nạ
thì lột mặt nạ đi - lần lữa mãi mà chi
dù dối nữa cũng không lừa được nữa
khôn và ngu cũng có tính mức độ
bụng dạ cồn cào bất ổn làm sao
miếng quá độ nuốt vội vàng sống sít
mất vệ sinh bội thực tự hào
sự thật hôn mê - ngộ độc tự hào
bệnh và tật bao nhiêu năm ủ lại
biết thế nhưng mà biết làm thế nào
chả lẽ bây giờ bắc thang chửi bới
thấy chửi bới nhẹ gian nanh cơ hội
chả lẽ bốc thang cỏ khô nhai lại
lạy ông cơ chế, lạy bà tư duy
xin đừng hót những điều chim chóc mãi
đừng lớn lời khi dân lành ốm đói
vẫn còng làm cho thẳng lưng ăn
đổi mới thật hay giả vờ đổi mới ?
máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng ?
thật đáng sợ ai không có ai thương
càng đáng sợ không còn ai ghét
ngày càng hiếm hoi câu thơ tuẫn tiết
Ta là gì ?
ta cần thiết cho ai ?
có thể ta không tin ai đó
dù có sao vẫn tin ở con người

dù có sao đừng khoanh tay
khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối
cái tốt nhiều hơn sao cái xấu mạnh hơn ?
những người tốt đang cần liên hiệp lại
dù có sao
vẫn Tổ Quốc trong lòng
mạch tâm linh trong sạch vô ngần
còn thơ còn dân
Ta là dân: vậy thì ta tồn tại
giọt từng giọt
nặng nhọc
nặng nhọc thay
dù có sao
đừng thở dài
còn da lông mọc còn chồi nảy cây

Nguyễn Duy.

Tags: đêmnhớvềtổquốc
Wednesday April 9, 2008 - 10:27am (SGT) Permanent Link | 8 Comments

Add Mõ Làng's Blog to your personalized My Yahoo! page:

Add to My Yahoo!RSS About My Yahoo! & RSS
1 - 5 of 28 First | < Prev | Next > | Last