Yahoo! 360° News | Beta Feedback
Start your own Yahoo! 360° page

trantienle_IT

Top Page  |  Blog  |  Feeds  |  Friends  |  Lists  |  Groups

  • Work: Global Cybersoft
  • School: Viet Nam National University, Ha Noi

Add

trantienle_IT is not connected to you in Yahoo! 360°.

Last updated Thu Oct 18, 2007 Member since September 2006

Lạm Phát ...--> Click here Reply

1 - 5 of 17 First | < Prev | Next > | Last

To be or not to be! Full Post View | List View

Vinh quang nhất không phải là không bao giờ ngã, mà phải biết đứng dậy sao mỗi lần ngã! lett@cybersoft-vn.com

Một làn điệu quê hương ...
Một làn điệu quê hương ... magnify
Hôm nay nghỉ cuối tuần ngồi một mình bỗng dưng lại nhớ đến thủa còn SV. Hic, làm muốn hát một làn điệu quan họ Bắc Ninh:


Còn Duyên

-----QHBN-----
Trình bày: trantienle_IT
tuy hát không không hay nhưng bịt tai lại vẫn nghe được. hê hê hê ...
Click tab: [user voice] - để nghe bài hát.

Tags: lànđiệuquêhương
Sunday July 27, 2008 - 06:24pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments
Chuyện đời tự kể ...
Chuyện đời tự kể ... magnify

Xin tha tội chết cho kẻ giết con mình
08:55:00, 03/06/2008
Tố Trâm
Nguyễn Thế Năng bị dẫn giải ra xe về trại tạm giam Chí Hòa - Ảnh: Q.Trung

“Vì tình thương yêu đối với con, tôi không bao giờ tha thứ cho kẻ đã giết con gái mình. Nhưng vì lòng nhân đạo, tôi không thể để thêm một người mẹ khác đau khổ vì mất con”- ông N.V.M đau xót nói

Người đàn ông khoảng hơn 70 tuổi, mái tóc bạc trắng, lững thững bước lại chiếc bàn dành cho đại diện hợp pháp của người bị hại. Đưa ánh mắt đau xót, khắc khoải nhìn bị cáo đang cúi gằm mặt trước vành móng ngựa một hồi lâu, rồi ông cất giọng chậm rãi: “Ngày con tôi chết, tôi bồng con trên tay, điếng người”. Cả phòng xử im lặng lắng nghe. Không gian như ngưng đọng. Tôi có cảm giác Nguyễn Thế Năng (SN 1979) đang gồng mình chờ đợi, một cách cam chịu, những lời lẽ trách cứ đầy oán giận từ người nhà nạn nhân. Hít một hơi thở thật sâu, ông N.V.M khó nhọc nói tiếp: “Hôm nay tôi đến đây để xin tha tội chết cho Năng. Tôi không muốn có thêm một người cha, người mẹ phải đau khổ khi chứng kiến cái chết của con mình”. Nhiều tiếng thì thầm từ phía bạn bè, người thân của Năng. Họ đang hy vọng.

Cách nay không lâu, ngày 20-3-2008, TAND TPHCM đã đưa vụ án giết người của Nguyễn Thế Năng ra xét xử sơ thẩm. Lần ấy, Năng bị tuyên án tử hình. Mẹ Năng ngất lịm, tưởng như có thể chết cùng đứa con trai duy nhất. Bạn bè Năng khóc vì thương người bạn hiền lành, tốt bụng, tài năng. Còn 15 ngày kháng cáo, họ chạy ngược xuôi mong tìm kiếm những tình tiết có thể xin giảm nhẹ hình phạt cho Năng. Bản thân Năng, nghĩ đến ngày phải vĩnh viễn ra đi khi nhiều mơ ước vẫn chưa thực hiện bỗng thấy yêu da diết cuộc sống. Năng làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đứng trước Tòa Phúc thẩm Tối cao, Năng không nói gì nhiều để biện minh cho hành vi tàn nhẫn của mình. Lời nói sau cùng, Năng xin lỗi gia đình nạn nhân, cám ơn những người đã vì Năng mà chịu nhiều đau khổ, vất vả. Trong trường hợp không được khoan hồng, Năng xin hiến toàn bộ nội tạng cho ngành y và bộ xương cho Trường ĐH Mỹ thuật TPHCM. Nghe Năng nói, nhiều người bạn của Năng đã bật khóc. Cuối cùng, Năng đã trở về con người thật của mình. Yêu nghề, yêu trường và sống vì người khác.

Từ Khánh Hòa vào học ở Trường ĐH Mỹ thuật TPHCM, Năng là một sinh viên có tài và chịu khó học hỏi. Vừa ra trường, Năng được nhận vào làm việc cho một hãng phim tư nhân với mức lương cao. Tuy nhiên, trong tình yêu, Năng rất cố chấp. Gặp và yêu N.Đ.A.H, một cô gái duyên dáng, tài năng, học sau Năng hai khóa nhưng chỉ sau một thời gian quen biết, quan hệ của họ rạn nứt. H. chỉ còn xem Năng như một người bạn nhưng Năng vẫn hy vọng và chờ đợi. Trong một lần đưa H. về nhà trọ sau khi dự đám cưới bạn cùng trường, Năng đã gặp bạn trai mới của H. Hôm sau, Năng hẹn H. cùng người bạn trai tổ chức buổi tiệc chia tay tại phòng. Được một lúc, Năng yêu cầu bạn của H. về trước để Năng nói chuyện và giải quyết dứt khoát chuyện tình cảm với H. Và rồi bi kịch xảy ra.

Tâm sự với tôi, ông N.V.M nói: “Vì tình thương yêu đối với con, tôi không bao giờ tha thứ cho kẻ đã giết con gái mình. Con tôi chết, bao nhiêu tiền bồi thường cũng không thể trả lại mạng sống cho nó, huống chi số tiền gia đình Năng đưa không đủ để tôi nuôi H. học trong một năm. Nhưng một lần nói chuyện với mẹ Năng qua điện thoại, bà ấy nói: “Không có người mẹ nào có thể chịu được hình ảnh người ta cột con mình vào một cái cây để bắn. Như thế, thà tôi chết trước còn hơn”. Vậy là tôi quyết định, dù điều đó thật không dễ với tình cảm của tôi cùng sự phản đối quyết liệt của gia đình”. Để có thể dự phiên tòa hôm nay, từ 3 giờ sáng, ông phải một mình đi xe máy từ Kiên Giang lên TPHCM. Tôi bảo, ông có thể viết một lá đơn xin miễn tội chết cho Năng gửi đến tòa vẫn được. Ông lắc đầu: “Giúp người phải giúp cho trót. Tôi phải lên đây nói cho rõ, may ra HĐXX mới tin mà xem xét cho nó. Mong là nó biết hối lỗi, biết thương mẹ mà sống có ích”.

Cuối cùng, HĐXX cũng chấp nhận kháng cáo của Năng, tuyên phạt án chung thân. Năng sẽ tiếp tục được sống để sửa chữa sai lầm và để có cơ hội cống hiến tài năng của mình cho nghệ thuật. Nghe xong bản án, ông N.V.M vội vã ra bãi gửi xe. Trước mắt ông là quãng đường về nhà dài dằng dặc cùng nỗi đau mất con không dễ nguôi ngoai dù thời gian có trôi qua...

Theo Tố Trâm / Báo NLĐ


Collected lett@cybersoft-vn.com

Tags: chuyen_doi_thuong
Tuesday June 10, 2008 - 03:23pm (ICT) Permanent Link | 1 Comment
Hoa mua tím ...
Hoa mua tím ... magnify

Nhà hai đứa cách nhau bởi một hàng rào hoa mua tím. Ngày còn nhỏ, em bên này ló đầu sang bên kia nghe tôi kể chuyện sáng qua theo cha lên núi thả trâu, hái rau rừng. Em nghe say mê và một bữa em năn nỉ thôi dắt em lên núi. Trưa đó trời đổ mưa to, hai đứa ướt lướt thướt dắt nhau về. Em bị cảm mất gần một tuần lễ, còn tôi được một trận đòn quắn đít vì tội tài lanh!

Hàng rào hoa mua được bàn tay em chăm sóc nên hoa trổ liên tục, tím biêng biếc một màu day dứt. Tôi nhớ có lần, tôi hỏi tại sao nhà em lại trồng một thứ hoa dại như thế? Em kể tôi nghe vì đấy là loài hoa mà người mẹ quá cố của em rất thích, nên ba em trồng làm quà cưới cho mẹ!
Chúng tôi lớn lên bên hàng rào hoa mua tím, những ước mơ được ươm mầm từ những trưa tôi ngồi bên này em ngồi bên kia ôn bài cho nhau! Em nói với tôi, học hết bậc trung học em sẽ thi làm cô giáo, rồi về ngôi trường vùng trung du hẻo lánh này để dạy học và chăm sóc cho ba, chăm hàng rào hoa mua. Tôi có khiếu vẽ tranh và thích vẽ từ lúc còn bé xíu, nên mơ ước lớn lên sẽ thành họa sĩ. Tôi hứa hẹn làm em tròn xoe mắt " đã là họa sĩ thì vẽ đẹp lắm, không phải vẽ em xâu ình như bây giờ đâu, anh sẽ vẽ hình cho em treo khắp nhà". Tôi không thể nào quên cái tối sáng trăng ngày hai đứa chuẩn bị vào thành phố thi đại học. Em nói: " Học xong anh có về không? em thấy người ta thích ở lại thành phố dù nó là thành phố lạ." Ngày đó tôi đã hứa với em tôi sẽ về. Tôi sẽ cùng em chăm sóc cho hàng rào hoa mua tím biêc màu tình yêu vĩnh cửu!
Thế nhưng khi tôi trở về, hàng rào tím ngày xưa giờ trơ trụi lá. Đã hơn 10 năm rồi kể từ cái ngày tôi nhờ ba tôi đem lá thư về cho em.Tôi muốn em hãy quên tôi đi vì tôi đang chuẩn bị làm thủ tục kết hôn và xuât cảnh với người yêu.
Ba tôi kể: "mấy năm sau, khi ba nó mất,nó đến nhà di, nghe người làng mình bảo nó về quê Ngoại ở Nha Trang và hình như nó lấy chồng! Không đợi con.- nó bảo thế- nhưng nó không quên được, nó gởi lời chúc phúc đến con. Nó nhắn với ba khi nào con có về, hãy tạt ngang nhà nó thăm dùm hàng rào hoa mua tím".
Tôi bật khóc- giọt nước mắt đàn ông! giọt nước mắt đã đọng khô mà bao nhiêu năm nay tôi muốn khóc nhưng cố nén. Giờ vỡ òa vì em, hay cho chính tôi?! Tôi không có người yêu, cũng chẳng đi xuất cảnh. Tôi vẫn ở lại nơi thành phố mà em đã có lần nói là thành phố lạ. Tôi không về vì tôi không muốn ngày mình về lại trút lên đôi vai bé nhỏ của em một gánh nặng! Tôi van xin ba đừng cho em biết, rằng tôi đã không còn lành lặn, một tai nạn đã cướp đi đôi chân của tôi!
10 năm qua, tôi đã sống và làm việc miệt mài. Tranh của tôi được nhiều người biết đến, những bức tranh ngập tràn hình bóng em, hình ảnh hàng rào hoa mua tím biếc. 10 năm, tôi những tưởng nhạt nhòa ký ức, nhưng có lẽ cái gì đã nặng, đã sâu thì cứ vương vấn cả đời..



Collected lett@cybersoft-vn.com



Khó có màu tím chiều hoang (của sim) vì ngoài hoa sim trắng, các hoa sim tím khác đều bạc màu dần từ 9 giờ sáng đến trưa thì chỉ phơn phớt hồng.

Có lẽ đó là hoa mua, khác họ nhưng cùng bộ sim (Myrtales) và rất phổ biến. Màu tím thẫm của hoa mua rất đẹp và tím suốt ngày. Mọc thành từng vùng rộng trên triền đồi.

Trái sim ăn ngon. Tốt cho ruột và trị nhức mỏi. Sim mọc hoang từ lâu đời khắp đảo, có người đã nghĩ đến việc trồng rộng rãi.

Tags: hoamuatím
Friday April 18, 2008 - 03:27pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments
Lời nói muộn màng ...
Lời nói muộn màng ... magnify
Việt và Linh ngồi trên ghế đá công viên, trong một đêm ít sao......Cả hai không làm gì cả. ngoài việc ngước lên và ngắm những ngôi sao lẻ loi trên bầu trời, trong khi tất cả những người bạn của họ đang vui vẻ bên một nửa của họ, trong một ngày cuối tuần mát mẻ....

- Chán thật đấy - Linh nói. Ước em có một người bạn trai để chia sẻ những lúc buồn vui...
- Anh nghĩ chúng là là những kẻ duy nhất cô đơn trên thế giới này, chúng ta chẳng bao giờ hẹn hò cả, ngoài việc suốt ngày đi lang thang trong công viên ngắm sao....Việt đáp lại chán nản
Cả hai im lặng một lúc lâu
- Này! Em có một ý kiến, hãy chơi một trò chơi đi! -Linh nói
- Trò chơi gì cơ???
- Uhmm, thì cũng đơn giản thôi, anh sẽ là bạn trai của em trong 100 ngày, và em sẽ là bạn gái của anh trong 100 ngày...anh nghĩ sao??
- .....Được thôi....dù sao thì mấy tháng tới anh cũng không có kế hoạch gì cả -Việt trả lời
- Hì hì, nghe như có vẻ anh đang mong đợi một điều gì đó, vậy thì hôm nay sẽ là buổi hẹn đầu tiên của chúng ta...Thế anh muốn đi đâu nào??
- Em nghĩ sao về một bộ phim! Bạn anh nói là nó vừa đi xem một bộ phim rất hay với bạn gái nó, hay mình đi xem thử nhé, xem trình độ nghệ thuật của thằng này đến đâu...
- Anh còn chờ gì nữa, mình đi thôi, cũng sắp hết ngày rồi còn đâu
Linh và Việt đi xem phim....buổi hẹn hò đầu tiên không có gì đặc biệt. vì cả hai vẫn còn ngại....Tất nhiên, từ bạn thân nhảy sang người yêu chỉ sau 5 phút và vài câu nói bâng quơ.
Ngày thứ hai họ đi xem ca nhạc với nhau...Việt mua cho Linh một con gấu bông rất xinh......
Ngày thứ ba Linh rủ Việt đi mua sắm cùng với mấy người bạn, cả hai ăn chung một cây kem, và bạn của Linh không khỏi ngạc nhiên....mọi chuyện đến quá nhanh...lần đầu tiên họ ôm nhau
Ngày thứ sáu, cả hai leo lên một ngọn đồi và ngắm mặt trời lặn...Khi màn đêm buông xuống, ánh trăng bao trùm con đồi, Việt bảo Linh nằm ngắm sao, vì hôm nay trời rất nhiều sao....Một ngôi sao băng bay qua...Linh ước....
Ngày thứ 25, họ đi chơi trò chơi cảm giác mạnh, chẳng may trong lúc sợ hãi, Linh túm nhầm một ai đó và hét lên.....lúc phát hiện ra cả hai phá lên cười và xin lỗi ông bác "may mắn" nào đó..
Ngày thứ 67, khi vừa đi ăn xong, qua một ngôi nhà mà lần trước bạn của Linh nói có một bà thầy bói hay lắm...Linh rủ Việt vào xem thử...Bà ta nói với cả hai: "các cháu hãy giữ gìn và trân trọng những giây phút hạnh phúc các cháu đang có"....rồi bỗng nhiên có giọt nước mắt lăn trên má bà
Ngày thứ 84, cả hai đi biển....họ trao nhau nụ hôn đầu tiên, dưới ánh mặt trời nóng bỏng
Ngày thứ 99, Việt nói chỉ muốn có một ngày đơn giản....Việt đèo Linh đi loanh quanh, và vào công viên, ngồi trên cái ghế đá mà họ vẫn thuờng ngồi mỗi khi đi lang thang ngắm trăng sao....Lúc đó đã là hơn 12h đêm

1h23
- Em khát quá-Linh nói
- Em ngồi chờ ở đây nhé, anh đi mua cái gì uống..Em thích gì nào??
- Mua cho em một chai nước khoáng đi

1h45
Linh ngồi chờ Việt đã quá 20 phút, Việt đi vẫn chưa về.........Một ai đó chạy đến chỗ Linh:
- Này em, vừa rồi ở ngoài kia có một người bị ôtô đâm khi đi ngang qua đường, nếu anh không nhầm thì đó là bạn của em
Linh chạy đi theo anh chàng lạ, đến một chiếc xe cứu thương...Linh thấy Việt mặt đẫm máu, tay cầm một chai nước khoáng....Linh lên xe và đến bệnh viện với Việt.........Linh ngồi ngoài phòng cấp cứu hơn 5 tiếng đồng hồ


T


11h51 trưa
Ông bác sỹ đeo cặp kính trắng bước ra.
- Tôi xin lỗi, nhưng chúng tôi đã làm hết sức mình. Chúng tôi tìm được một lá thư trong túi áo của anh ấy.
Bác sỹ đưa bức thư cho Linh và dẫn cô vào thăm Việt, vì hơn ai hết, ông biết đây sẽ là lần cuối Linh có thể nhìn thấy Việt. Việt nhìn rất yếu nhưng khuôn mặt của anh ấy có một cái gì đó thanh thản....Linh bóc bức thư ra và đọc
" Linh à, vậy là 100 ngày của chúng ta đã hết rồi nhỉ. Anh rất vui khi có em ở bên những ngày vừa qua, và những gì em làm đã mang lại hạnh phúc cho cuộc đời anh. Anh nhận ra rằng em là một cô gái rất dễ thương, cho dù anh đã nhắc bản thân anh rất nhiều lần là không được nghĩ đến gì khác ngoài một trò chơi. 100 ngày hạnh phúc cũng sắp qua, nhưng anh vẫn muốn nói với em một điều...anh muốn làm bạn trai của em mãi mãi, anh muốn em luôn ở bên anh. cho anh những ngày hạnh phúc. Linh, anh yêu em!!! "

11h58
Việt à...- Linh bật khóc-....Anh biết em đã ước gì khi em nhìn thấy sao băng không..Em cầu cho em có thể ở bên anh mãi mãi, em biết 100 ngày đã trôi qua, nhưng...nhưng anh không thể bỏ em..Em yêu anh...hãy quay về với em đi...Em yêu anh...
Đồng hồ chỉ 12h chiều....tim của Việt ngừng đập....và đó là ngày thứ 100...!



lett@cybersoft-vn.com
Tags: lờinóimuộnmàng
Monday April 14, 2008 - 04:34pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments
Nguồn gốc ngày giỗ tổ Hùng Vương!
Nguồn gốc ngày giỗ tổ Hùng Vương! magnify
Ngày giỗ tổ Hùng Vương có từ thời Lê do Vua Lê Thánh Tông lập ra. Đây là kết quả của việc đất nước hưng thịnh sau 1 thời gian dài dưới triều Lê và việc truyền thuyết về Hùng vương tồn tại khá dài trong dân gian đã được ghi vào chính sử, vua Lê Thánh Tông đã lấy 1 ngày để tưởng nhớ đến quốc tổ xa xưa của nước Việt đồng thời nâng cao hơn nữa niềm tự hào dân tộc, tinh thần dân tộc đối với bắc triều nhà Minh bên Trung hoa.








Một nước trong quá trình lịch sử, có thể có nhiều triều đại, với nhiều vua chúa, nhiều thể chế, với nhiều nhà lãnh đạo, nhưng con dân chỉ có một Quốc Tổ mà thôi ... Giỗ Tổ là một hình thức biểu lộ tình yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam trong tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.



Ngày Mồng Mười Tháng Ba năm giáp thân (28 tháng 4 năm 2004), toàn thể Thành Viên Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt cùng với Đồng Bào Việt Nam không phân biệt tôn giáo, chính trị, giới tính, tuổi tác, giàu nghèo, trong hay ngoài nước ... kính cẩn dâng hương trước Bàn thờ Quốc Tổ nhân ngày lễ Giỗ Tổ lần thứ 4883.


“Dù ai buôn bán ngược suôi

Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba

Dù ai buôn bán gần xa

Nhớ ngày Giỗ Tổ tháng ba thì về.”


Hùng Vương


Tiểu sử: Hùng Vương là tên gọi chung 18 đời Vua Hùng trong họ Hồng Bàng (2879-258 tr. Tây lịch). Nếu kể cả Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, có tất cả 20 đời Vua trong họ Hồng Bàng.

Theo truyền thuyết, Đế Minh là cháu 3 đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, lấy Tiên sinh ra Lộc Tục. Vua phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam tức Kinh Dương Vương.

Kinh Dương Vương kết hôn với Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm nối ngôi vua, xưng là Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân cưới bà Âu Cơ sinh được 100 con trai. Về sau, 50 con theo cha xuống biển và 50 con theo mẹ lên núi, đi về phương Nam lập ra nước Văn Lang.

Người con trưởng làm vua nước Văn Lang xưng là Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu, chia nước ra làm 15 Bộ, cha truyền con nối theo chế độ Phụ Đạo, có quan Lạc Tưóng, Lạc Hầu phụ tá và quan Bồ Chính là chức quan nhỏ trông coi Lạc dân, và gọi con trai là Quan Lang, con gái là Mỵ Nương. Hùng Vương truyền ngôi được 18 đời.

Công đức: Các vị vua Hùng có công lập nên nước Văn Lang, tức là nước Việt Nam ngày nay, nên gọi là Quốc Tổ Hùng Vương.

Đền thờ: Trên núi Ngũ Lĩnh, Huyện Phong Châu, Tỉnh Phú Thọ (Vĩnh Phú) Bắc Việt. Tại Hoa Kỳ, Đền Hùng ở Lillte Sàigòn do Hội CNAM thờ phụng.

Ngày Kỷ Niệm: Ngày mồng 10 tháng 3 Âm Lịch mỗi năm.


______________________________________...


Nhân ngày Giỗ Tổ, tản mạn về

Người Việt Thời Cổ Sử


Người Việt thời Hồng Bàng (2879-258 tr.TL)

Theo truyền thuyết và theo các cuộc nghiên cứu cổ sử về nguồn gốc người Việt Nam, tổ tiên chúng ta thuộc về một giống người Việt xuất hiện rất sớm (khoảng 3000 năm trước Tây Lịch), ở miền Tây Tạng phía Bắc Trung Hoa, sống rải rác với các giống người Hán và người Tam Miêu.

Về sau, giống Hán hùng mạnh lên đã đánh đuổi người Tam Miêu xuống phía Nam. Giống Việt sống về nghề chài lưới và trồng lúa nước, đã di cư theo người Tam Miêu về phương Nam và lập ra một nước riêng biệt lấy tên là Văn Lang (Văn có nghĩa là văn vẻ, có học vấn, có văn hiến - Lang là một thứ ngọc thạch). Nước Văn Lang rất rộng lớn, phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành). Nước Văn Lang được thành lập vào năm 2879 trước Tây Lịch, tính tới năm 2004 đã được 4883 năm nên tính tròn là năm ngàn năm.

Giống người Việt bao gồm nhiều Bộ Tộc mà người Hán gọi chung là Bách Việt (Bách có nghĩa là nhiều, không nhất thiết là con số 100, giống như Bách tính là trăm họ, có nghĩa là dân chúng hay nhân dân). Người Việt Nam thuộc về Bộ Tộc Lạc Việt, cũng có tên khác (do người Hán gọi) là người Giao Chỉ.

Vị vua đầu tiên lập ra nước Văn Lang là Kinh Dương Vương, và vị vua kế tục là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân kết hôn với Bà Âu Cơ, theo truyền thuyết đã sinh ra 100 người con trai. Nước Văn Lang còn có tên gọi là Xích Quỷ (có lẽ do người Hán gọi như thế vì thấy người Lạc Việt có phong tục vẽ mình và nhuộm răng đen, ăn trầu ...).

Cũng theo truyền thuyết, Lạc Long Quân đưa 50 con xuống biển và Bà Âu Cơ đưa 50 con lên rừng. Truyền thuyết này có lẽ ám chỉ một biến cốù trọng đại nào đó đã xẩy ra đối với nước Văn Lang, và suốt mấy trăm năm ở thời kỳ thượng cổ này, lịch sử chìm trong quên lãng được gọi là thời khuyết sử (thời khuyết sử cũng giải thích sự vô lý về triều đại Hồng Bàng từ năm 2879 tới năm 258 trước Tây Lịch, tổng cộng 2622 năm chia cho 20 đời vua, mỗi đời vua trị vì tới 150 năm là điều khó xẩy ra).

Trong thời khuyết sử, có lẽ các Bộ tộc Việt (Bách Việt) thiếu đoàn kết và thôn tính lẫn nhau, nên chính trị gia thời đó đã nêu lên truyền thuyết Mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc một trăm trứng, nở ra một trăm con, với mục đích tuyên truyền, kêu gọi các bộ tộc Việt đoàn kết với nhau vì cùng là anh em cùng một mẹ.

Tộc Lạc Việt trong nhóm Bách Việt, phân nửa đã di cư thêm một lần nữa từ vùng Động Đình Hồ, Lưỡng Quảng tới vùng châu thổ sông Hồng, đồng hóa những dân tộc sống lâu đời ở đây, vẫn giữ tên nước là Văn Lang, lập nghiệp và sống yên bình hàng ngàn năm. Nước Văn Lang bấy giờ, biên cương bị thu hẹp lại giới hạn ở miền Bắc và vài tỉnh phía bắc Trung phần VN ngày nay, kinh đô đóng ở Phong Châu, do các vị Vua Hùng dựng nên và trị vì theo chế độ phụ đạo cha truyền con nối, chia nước ra thành 15 Bộ, có các quan Lac Tướng, Lạc Hầu phụ tá, các Quan Bồ Chính phụ coi sóc dân, và gọi con trai (hoàng tử) là Quan Lang, con gái (công chúa) là Mị Nương.

Người Việt Nam nhớ ơn các vị vua Hùng đã có công xây dựng nước Văn Lang, nên đã xây đền thờ trên núi Ngũ Lĩnh (Phú Thọ) để thờ phụng. Hàng năm đến ngày 10 tháng 3 âm lịch, dân chúng lại kéo nhau lũ lượt trẩy Hội đền Hùng, và cùng tôn vinh Vua Hùng là Quốc Tổ.

Tới năm 214 trước Tây Lịch, Vua Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư đem quân đi đánh lấy Bách Việt. Nước Âu Lạc (Nhà Thục) cũng xin thần phục nhà Tần. Vua Tần chia đất Bách Việt và đất Âu Lạc ra làm 3 Quận là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây), và Tượng Quận (Âu Lạc). Như vậy, toàn thể đất Văn Lang (cũ và mới) tức đất Xích Quỷ thời Kinh Dương Vương đều bị phụ thuộc vào nhà Tần. Đây cũng là lý do tại sao người Việt luôn luôn cay đắng, muốn đòi về Lưỡng Quảng là phần đất của Tổ Tiên.

Cũng xin nói thêm, dân Bách Việt (trong đó có Lạc Việt), vì hoàn cảnh sinh sống phải ép mình ở lại phần đất Quảng Đông Quảng Tây, đã không chịu khuất phục nhà Tần, nên trốn vào rừng ở và nổi dậy giết Đồ Thư dành tự chủ. Thời nhà Triệu những người gốc Việt (người Nam Việt) ở Quảng Đông và Quảng Tây đã chống cự lại sự xâm lăng của nhà Hán rất mãnh liệt, và thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa, những người gốc Việt ở Hợp Phố (Quảng Đông) đã cùng theo Hai Bà nổi dậy.

Thời nhà Tần xâm lăng Bách Việt tương đương với thời Vua An dương Vương Thục Phán (257-207 tr.TL) đã chiếm được nước Văn Lang của các vị vua Hùng và lập ra nước Âu Lạc.

Họ Hồng Bàng (2879-258 tr.TL) làm vua nước Văn Lang, tương đương với các đời vua bên Tàu từ vua Hoàng Đế (2697-2597 tr.TL) là vị khai sáng ra nước Tàu, tới vua Nghiêu (2357-2257 tr.TL), vua Thuấn (2256-2208 tr.TL), vua Vũ (2205-2197 tr.TL), vua Thang (1783-1754 tr.TL), Văn Vương (1186-1135 tr.TL), Vũ Vương với nhà Chu (1134-770 tr.TL), Đời Xuân Thu (722-481 tr TL), đời Chiến Quốc (403-256 tr.TL). Cũng nên biết thêm, đời Chiến Quốc bên Tàu vừa chấm dứt thì 1 năm sau ở phương Nam họ Thục (Thục Phán) chiếm nước Văn Lang. Đến khi nhà Tần mất ngôi năm 206 tr. TL (nhà Tiền Hán lên làm vua phương Bắc) thì cũng một năm sau ở phương Nam, nhà Thục (Thục Phán) cũng bị mất nước Âu Lạc vào tay Triệu Đà (năm 207 tr.TL). Triệu Đà lập ra nước Nam Việt (207 tr.TL). Đến năm 111 tr.TL nước Nam Việt bị nhà Hán thôn tính, trong đó nước Âu Lạc là một thành phần của nước Nam Việt nên cũng bị nội thuộc vào nhà Hán.

Trong suốt thời gian 2768 năm dựng nước (2879-111 tr.TL), người Lạc Việt đã can trường khắc phục thiên nhiên lập ra nước Văn Lang rộng lớn, và sau đó thu hẹp ở vị trí an toàn xa cách vùng ảnh hưởng của tộc Hán (gồm 15 Bộ ở Bắc Việt và bắc Trung Việt), rồi trở thành Âu Lạc, cũng như thuộc về nước Nam Việt. Mặc dù không biết rõ về tổ chức chính trị, quân sự và Xã Hội người Việt thời Thượng Cổ, nhưng xuyên qua các câu chuyện cổ tích và cách cư xử của người Hán đối với người Việt, chúng ta có thể hình dung ra một giống người Việt thời thượng cổ lập quốc đã có một nếp sống văn minh ,biết làm binh khí bằng đá (thời đá mài), biết đúc trống đồng (thời đồ đồng), chế thuyền đánh cá, trồng lúa nước, kinh doanh (truyện dưa hấu). Ngoài ra, người Việt còn mang một tinh thần bất khuất, cương quyết chống lại sự đồng hoá của tộc Hán, và có tài ngoại giao khôn khéo giữ vững được biên cương cũng như sự tự chủ của dân tộc dù cho phải sát nhập vào nước mới thành lập là Âu Lạc hay Nam Việt.

Người Việt thời Nhà Thục (257-207 tr.TL)

Sử cho biết Thục Phán không phải là người Việt, nhưng sau khi chiếm được nước Văn Lang đã sát nhập vào phần đất của mình ở phía Bắc (thuộc Quảng Tây?) lập ra nước Âu Lạc rồi xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê và đem văn hóa ở quê hương cũ hoà mình đồng hoá với văn hóa của tộc Việt, để lo phát triển quê hương mới thành một nước hùng cường, tự trị với Bắc phương lúc đó do nhà Tần làm vua (Sau nhà Thục xin thần phục nhà Tần, nhưng vẫn giữ được quyền tự trị).

An Dương Vương xây Loa thành năm 255 tr.TL. Đây là một kiến trúc vừa mới lạ, vưà hiện đại thời bấy giờ, gồm có một toà thành cao, rộng hàng nghìn trượng, xây theo đường cuốn trôn ốc.

An Dương Vương còn biết xử dụng tên nỏ bằng tre, tên nhọn bịt đồng. Ngoài ra theo truyền thuyết, An Dương Vương có nỏ Thần (Nỏ liên thanh bắn một phát ra hàng trăm mũi tên rất chính xác?), khiến quân của Nhâm Ngao và Triệu Đà đánh không nổi. Sau Triệu Đà phải dùng kế “gián điệp”, giả vờ hòa và sai con trai là Trọng Thủy xin cầu hôn lấy công chúa nước Âu Lạc là nàng Mỵ Châu. Trọng Thủy dò hỏi được bí mật chiếc “nỏ thần”, đã mưu phá hư bộ phận lẫy nỏ, vô hiệu hóa hệ thống phòng thủ của quân đội nhà Thục, nên Triệu Đà đã chiếm được nước Âu Lạc để lập ra nước Nam Việt.

Bàn về câu chuyện nỏ thần, có hai ý kiến dựa theo khoa học ngày nay:

• Có thể người phát minh ra “nỏ thần” (Cao Nỗ?) đã chế ra đươc một chiếc nỏ “liên thanh” tương tự như súng Đại Liên hay Trung Liên ngày nay.

• Có thể người phát minh ra “nỏ thần” đã phát minh ra một dàn phóng tên bay (phi Tiễn), hoặc tên lửa (hỏa tiễn), bắn một phát ra hàng trăm mũi tên một lúc, có khả năng sát hại hàng trăm địch thủ. Vấn đề đặt ra là các mũi tên nhỏ (đào thấy rất nhiều ở vùng Cổ Loa) được sắp xếp thế nào để có thể bắn ra liên tục, hoặc bắn ra cùng một lượt? Có thể các mũi tên nhỏ bằng đồng được xếp sẵn trong một cái ống xoay quanh một trục (tựa như súng roulette), các mũi tên được phóng đi bằng sức hơi ép? Cũng có thể các mũi tên đồng được nhồi trong một chiếc ống như đầu viên đạn ngày nay, phía sau có vỏ đạn chứa thuốc nổ. Bộ phận kích hỏa (lẫy nỏ) làm nổ và gây sức ép bắn các mũi tên đi tương tự như ta bắn súng phóng lựu hay hỏa tiễn ngày nay? Nếu đúng vậy, người Lạc Việt phải được coi là cha đẻ của Hỏa Tiễn mới đúng!

Người Việt thời Âu Lạc nhà Thục, quả đã tiến bộ thêm một bực, nhờï giao lưu văn hóa giữa người Lạc Việt và các giống người phương Bắc đã thấm nhuần văn minh Hán tộc. Người Việt thời Nhà Thục còn hãnh diện về kiến trúc Loa thành có một không hai trong các kiến trúc thành quách trên thế giới. Ngoài ra, người Việt thời nhà Thục với Nỏ Thần, đã rất hãnh diện không những về phát minh khoa học (làm được nỏ liên thanh), mà câu chuyện nỏ thần với mối tình Mỵ Châu Trọng Thủy đã gây nhiều cảm hứng cho người đời sau về chuyện Tình Mỵ Châu Trọng Thủy, vừa thương tâm, vừa lãng mạn, hay hơn bất cứ chuyện tình nào trên thế giới.


Người Việt thời Nhà Triệu (207-111)

Nhà Triệu lập ra nước Nam Việt, bao gồm các Quận Nam Hải (Quảng Đông) và Tượng Quận (Âu Lạc).

Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim) viết: “Chẳng được bao lâu thì nhà Tần suy, nước Tàu có nhiều giặc giã, ở quận Nam Hải có quan úy là Nhâm Ngao thấy có cơ hội, muốn mưu đánh lấy Âu Lạc để lập ra một nước tự chủ ở phương Nam. Nhưng công việc chưa thành, thì Nhâm Ngao mất. Khi sắp mất, Nhâm Ngao giao binh quyền lại cho Triệu Đà để thay mình làm quan úy quận Nam Hải.”

Năm Quí Tị (208 tr.TL) là năm thứ 50 đời vua An Dương Vương. Triệu Đà đem quân sang đánh lấy nước Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt.

Như vậy, nước Nam Việt là một nước mới, được Triệu Đà thành lập sau khi sát nhập Quận Nam Hải (nơi Triệu Đà trấn nhậm) với nước Âu Lạc. Trường hợp này giống như Thục Phán đánh chiếm Văn Lang rồi sát nhập vào phần đất của họ Thục để thành lập ra nước Âu Lạc. Chỉ có sự khác biệt là họ Thục đóng đô ở Phong Khê (thuộc phần đất Văn Lang), trong khi họ Triệu đóng đô ở Phiên Ngung thuộc Nam Hải là lãnh thổ của họ Triệu.

Các Sử gia cũ như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Trần Trọng Kim…đều coi Nhà Triệu như một nhà chính thống trong Sử Việt.

Ngược lại, Ngô Thời Sĩ trong Việt Sử Tiêu Án, cũng như một số nhà viết sử hiện nay đều cho rằng nước ta bị Bắc Thuộc tức Nội thuộc nhà Triệu (Việt Sử Toàn Thư - Phạm Văn Sơn), hoặc Ngoại Thuộc nhà Triệu (Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam - Phạm Cao Dương).

Dù nước ta bị “nội thuộc” hay “ngoại thuộc” nhà Triệu, người Việt sinh sống tại phần đất Âu Lạc cũ, được Triệu Đà đối xử tử tế, khác với thời lệ thuộc nhà Hán hay lệ thuộc Pháp sau này (Triệu Đà chỉ cử hai viên sứ thần đến để trông coi sổ sách và thu thuế). Có thể nói người Việt trong thời gian này được sống “tự trị”, giữ nguyên tổ chức xã hội, phong tục tập quán cũ.

Còn người Nam Việt thì sao? Người Nam Việt có liên hệ gì với người Lạc Việt thuộc Âu Lạc (khi chưa mất nước)? Nếu giả thuyết có nước “Xích Quỷ”; nếu giả thuyết thuở Kinh Dương Vương lập quốc, người Lạc Việt và người Bách Việt có liên hệ chủng tộc, và nếu giả thuyết cương thổ nước ta thời khởi thủy rộng tới Động Đình Hồ, bao gồm luôn Lưỡng Quảng, thì chúng ta cũng có thể nêu lên giả thuyết coi người Nam Việt và Lạc Việt là “đồng bào”. Lữ Gia là người Nam Việt, nên đã cương quyết chống lại người Tàu (nhà Hán). Triệu Đà là người Tàu, làm vua nước Nam Việt, chỉ là một nhà “cai trị”, đại diện cho giai cấp “thống trị” như một số các nhà viết Sử nhận xét, vì thế chính thể nước Nam Việt thời đó rất đặc biệt: “Vua Tàu”, “dân Việt”, nước “Liên Bang” (khá giống Liên Bang Xô Viết đã bị sụp đổ ngày nay?).

Khả năng đồng hóa của người Việt thời Triệu Đà rất mạnh. Chính bản thân Triệu Đà đã bị phong tục tập quán người Nam Việt “đồng hoá” nên khi tiếp Sứ giả nhà Hán, ông đã ngồi “xếp vòng tròn” (một thói quen của người Việt).

Người Nam Việt chính là kẻ thù của nhà Hán (người Tàu). Nước Nam Việt nếu may mắn không bị người Tàu (Nhà Hán) xâm lăng và đô hộ, thì cho đến nay người Lạc Việt và người Nam Việt có lẽ đã hoà đồng thành một khối, và nước Việt Nam ta bao gồm luôn Lưỡng Quảng, được cường thịnh từ lâu rồi (đúng với mộng ước của người Anh Hùng Tây Sơn Nguyễn Huệ)!

Nói tóm lại, người Việt trải qua các thời đại từ Hồng Bàng, Nhà Thục tới Nhà Triệu, luôn luôn tỏ ra là một dân tộc có trình độ văn minh, với tinh thần “dĩ hoà vi quý”, nhưng lại bất khuất trước kẻ thù. Người Lạc Việt và người Bách Việt (sau thành người Nam Viêt) có nhiều điểm giống nhau về phong tục tập quán và tiếng phát âm, nên có thể có sự liên hệ về nguồn gốc và nòi giống.

Chúng ta rất hãnh diện về nòi giống Việt, nhờ có tiếng nói và nền văn hoá đặc thù và nhờ “văn chương truyền khẩu qua ca dao tục ngữ”, nên đã có khả năng sống tự cường độc lập, và khả năng “đồng hóa” những dân tộc sống tiếp cận. Cũng nhờ thế, người Việt giữ vững được nước, không bị Hán hóa dù phải chịu hàng ngàn năm Bắc thuộc.


Chùm ảnh: Về Đền Hùng - đất Tổ

Du khách đến thắp hương ở Đền Giếng

Là cháu con đất Việt, ai cũng muốn một lần về với Đền Hùng - cội nguồn linh thiêng của dân tộc. Như cả nghìn năm về trước, cả nghìn năm về sau...

Đền Hùng vừa là thắng cảnh đẹp, vừa là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Hùng - thuộc đất Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú cách Hà Nội 100km về phía Bắc - vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Toàn bộ Khu di tích có 4 đền, 1 chùa và 1 lăng hài hoà trong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất ngoạn mục, hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ hội tụ.

Từ chân núi, sau khi leo 255 bậc đá, du khách sẽ đến thăm Đền Hạ. Tương truyền nơi đây bà Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng nở thành trăm con trai, 50 người theo cha xuống biển, 49 người theo mẹ lên núi. Người con trai trưởng ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất), lập nước Văn Lang. Do sự tích này mà nhân dân lập ra đền Hạ để thờ các Vua Hùng. Đền Hạ được xây dựng vào thế kỷ 17-18. Gần Đền Hạ có chùa Thiên quang thiền tự thờ Phật theo phái Đại thừa.
Truyền thuyết cũng kể rằng, sau khi sinh, Tổ Mẫu Âu cơ dùng nước Giếng cổ (Giếng Rồng) tắm cho các con. Năm 2002, các nhà khoa học đó tiến hành khai quật tại khu vực lòng Giếng cổ đó phát hiện những dấu tích văn hóa của các thời kỳ Lý-Trần-Lê-Nguyễn.

Đền Hạ

Giếng cổ (Giếng Rồng)


Qua Đền Hạ đến Đền Trung, xưa là "Hùng Vương tổ miếu". Đền Trung có sớm nhất ở khu vực này, là nơi các vua Hùng dùng làm nơi họp bàn với các Lạc hầu, Lạc tướng, ngắm cảnh, chơi cờ... Tương truyền còn là nơi hoàng tử Lang Liêu dâng bánh dầy, bánh chưng. Đến thế kỷ 15 bị giặc ngoại xâm tàn phá về sau được nhân dân trong vùng dựng lại.

Đền Thượng được đặt trên đỉnh núi Hùng với tên tự: "Kính thiên lĩnh điện" (Điện cầu trời). Đây là nơi hàng năm Vua Hùng tiến hành nghi lễ tế trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt cho muôn dân no ấm.
Ngày 10/3 hàng năm, Đền Thượng còn là nơi diễn ra nghi thức long trọng trong ngày Giỗ Tổ. Tại nơi đây, lãnh đạo Đảng, Nhà nước làm lễ dâng hương, đọc diễn văn tưởng nhớ công ơn các Vua Hùng.

Đền Trung
Đền Thượng

Phía đông Đền Thượng là lăng Hùng Vương thứ sáu, dân gian gọi là mộ tổ. Lăng hình vuông, cột liền tường, có đao cong 8 góc, tạo thành 2 tầng mái. Phía trên 3 mặt đều đề: Hùng Vương lăng. Trong lăng là mộ nhà vua với dòng chữ khắc trên bia đá: Biểu chính. Nghĩa là lăng chính.

Lăng Vua Hùng

Từ Đền Thượng đi xuống phía Tây nam là Đền Giếng, nơi có cái giếng đá quanh năm nước trong vắt. Tương truyền ngày xưa các công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, con vua Hùng Vương thứ 18, thường tới rửa mặt, gội đầu tại đó. Đền thờ 2 công chúa trùm lên giếng.

Đền Giếng với tấm bia khắc lời căn dặn của Bác Hồ với cán bộ và chiến sĩ Đại đoàn 308
Giếng đá nơi công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa thường gội đầu

Trên núi Vặn là Đền Tổ Mẫu Âu Cơ, được khởi công xây dựng năm 2001 và khánh thành tháng 12/2004. Đền được xây dựng theo kiến trúc truyền thống thuần gỗ, mái lợp ngói mũi hài, tường gạch bát. Trong đền có tượng thờ Mẹ Âu Cơ và hai Lạc hầu, Lạc tướng. Đường đi lên đền được xây bằng 553 bậc đá Hải Lựu.

Lên thăm Đền Tổ Mẫu Âu Cơ

Trong khu di tích còn có Bảo tàng Hùng Vương được khởi công xây dựng vào năm 1996 và khánh thành đúng ngày khai hội Đền Hùng năm 2003, trưng bày 5 nhóm hiện vật, trong đó có 700 hiện vật gốc trên tổng số hơn 4.000 hiện vật có trong Bảo tàng. Dọc hành trình thăm các đền, bạn có thể dừng chân, nghỉ ngơi tại các bàn ghế đá hoặc xuống phía trước Đền Giếng ngồi trên thành hồ sen thơ mộng.

Hướng dẫn viên Bảo tàng Hùng Vương giới thiệu cho cán bộ, PV Đài TNVN
Nghỉ ngơi trước khi leo tiếp lên
Đền Thượng

Mọi người dân Việt Nam dù ở đâu đều hướng về Đất Tổ và muốn được một lần về với Đền Hùng - cội nguồn linh thiêng của dân tộc vào dịp Giỗ Tổ mồng 10 tháng 3 âm lịch. Người hành hương tới đền Hùng không chỉ để vãn cảnh hay hoà nhập vào không khí tưng bừng của lễ hội mà còn vì nhu cầu của đời sống tâm linh. Một chút công đức xây dựng khu di tích chung của dân tộc khi thăm nơi này và không ai không thắp những nén hương và khấn nguyện trước vong linh tiên tổ với tất cả lòng thành kính nhất. Mãi mãi, trong mỗi tâm hồn Việt, không bao giờ mất đi niềm xác tín này.

Tags: giotohungvuong
Monday April 14, 2008 - 10:33am (ICT) Permanent Link | 0 Comments

Add To be or not to be! to your personalized My Yahoo! page:

Add to My Yahoo!RSS About My Yahoo! & RSS
1 - 5 of 17 First | < Prev | Next > | Last