Yahoo! 360° News | Beta Feedback
Start your own Yahoo! 360° page

VụQuang

Top Page  |  Blog  |  Feeds  |  Friends

  • School: Tốt Nghiệp TrungHọc Chu Văn An-1959

Add

VụQuang is not connected to you in Yahoo! 360°.

Last updated Wed Mar 04, 2009 Member since November 2007

Dân tộc Việt Nam đã đạt được một thắng lợi lớn trước nguy cơ tàn phá Tây Nguyên.--> Click here Reply

1 - 5 of 85 First | < Prev | Next > | Last

vuquang21 Full Post View | List View

Xây dựng dân chủ, Bảo toàn lãnh thổ, Canh tân đất nước. Xin mời đọc thêm tại: http://hoangcodinh.multiply.com

Khác biệt giữa hồ sơ đệ nạp LHQ của VNCH và của CSVN về Thềm Lục Địa Việt Nam.
Khác biệt giữa hồ sơ đệ nạp LHQ của VNCH và của CSVN về Thềm Lục Địa Việt Nam. magnify


Xin theo dõi về sự khác biệt này trong Thông Cáo số 4 của Cụ Nguyễn Bá Cẩn tại:

http://hoangcodinh.multiply.com/journal/item/28/28
Tuesday May 19, 2009 - 02:45pm (PDT) Permanent Link | 0 Comments
Hồ sơ xác định Thềm Lục Địa Việt Nam do Nhà Nước CSVN đệ nạp với LHQ

Saturday, May 9, 2009

Tài liệu: Đệ trình của Việt Nam gửi lên UBQHTLĐMR: khu vực Bắc Biển Đông

Đệ trình của Việt Nam
Gửi lên Uỷ Ban Quy Hạn Thềm Lục Địa Mở Rộng

Căn cứ theo Điều Lệ 76, Phần 8
của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982

Liên quan đến khu vực Bắc Biển Đông

Đệ trình của Việt Nam
Gửi lên Uỷ Ban Quy Hạn Thềm Lục Địa Mở Rộng

Căn cứ theo Điều Lệ 76, Phần 8
của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982
Liên quan đến khu vực Bắc Biển Đông


1. Dẫn nhập


Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Việt Nam), một trong những quốc gia duyên hải mà bờ biển mở ra Biển Đông, có khoảng 3 260 cây số dọc dài theo biển và có chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như trên hơn 3000 hòn đảo và mảnh đảo bao phủ một phần rộng lớn của Biển Đông. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo thứ tự, nằm ở phiá bắc và ở phiá đông-nam của Biển Đông. Việt Nam cho rằng có đủ căn bản để thực thi chủ quyền, để áp dụng luật pháp quốc gia và quyền hạn xử lý tại các vùng lãnh hải và thềm lục địa của Việt nam, căn cứ theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982).

Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (“Việt Nam”) đã ký kết UNCLOS 1982 vào ngày 10 tháng 12 năm 1982 và đã phê chuẩn công ước này vào ngày 23 tháng 6 năm 1994

Chiếu theo các điều khoản của UNCLOS 1982 và sự sắp đặt của thiên nhiên, cũng như những đặc tính của bờ biển và thềm lục địa của mình, Việt Nam quan niệm có đủ căn bản để xác minh quyền mở rộng thềm lục địa vượt đến 200 hải lý (hl) kể từ Đường Cơ Bản, điểm khởi đầu để đo lường bề rộng của lãnh hải thuộc về nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Căn cứ vào Phần 3 thuộc Phụ Chương I của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban, Đệ Trình này là một phần của đệ trình mô tả giới tuyến tận cùng của một phần thuộc về thềm lục địa, vượt đến 200 hl, bắt đầu từ Đường Cơ Bản, điểm khởi đầu để đo lường bề rộng của lãnh hải thuộc về nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đệ Trình này đề cập đến thềm lục địa mở rộng của Việt Nam: Bắc Phần (VNM-N) thuộc về Việt Nam.

Đệ Trình của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về thềm lục địa mở rộng đã được soạn thảo bằng cách sử dụng những dữ liệu thâu nhập từ những nghiên cứu chuyên môn vào năm 2007, 2008 và những dữ liệu có tính chất công cộng, gồm các dữ liệu về độ sâu, từ lực, trọng lực và địa chấn.

Đệ Trình về thềm lục địa mở rộng của Việt Nam - Bắc Phần (VNM-N) này có liên quan đến những vùng như sau:

- Đường biên về phiá bắc là đường cách đều giữa đường cơ bản lãnh hải thuộc về Việt Nam và đường cơ bản lãnh hải thuộc về Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa,

- Đường biên về phiá đông và về phiá nam là những giới tuyến tận cùng của thềm lục địa mở rộng, như đã được quy định trong Đệ Trình này chiếu theo Điều Lệ 76 (8) của UNCLOS 1982,

- Đường biên về phiá tây là giới hạn 200 hải lý (hl) kể từ Đường Cơ Bản, điểm khởi đầu để đo lường bề rộng của lãnh hải thuộc về nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

2. Những điều khoản đặc biệt của Điều Lệ 76 được sử dụng để dẫn chứng


Những giới tuyến tận cùng được mô tả trong Đệ Trình này có căn cứ ở các điều khoản thuộc Phần 1, 4, 5 và 7 của Điều Lệ 76.

3. Thành viên của Uỷ Ban đã cố vấn trong việc soạn thảo Đệ Trình này


Không một thành viên nào thuộc Uỷ Ban Quy Hạn Thềm Lục Địa Mở Rộng (Uỷ Ban) đã hỗ trợ Việt Nam để soạn thảo Đệ Trình này.

4. Không có tranh chấp


Chiếu theo Phần 2 (a) thuộc Phụ Chương I của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban, Việt Nam cần thông báo cho Uỷ Ban biết rằng hiện nay có một đồng thuận chung cho rằng vẫn tồn tại những chồng chéo có liên quan đến quyền lợi của các quốc gia duyên hải láng giềng về các vùng thuộc thềm lục địa mở rộng, đề tài được bàn đến trong Đệ Trình này. Tuy nhiên, căn cứ vào các điều khoản của UNCLOS 1982, Việt Nam quan niệm rằng không có vấn đề tranh chấp nào liên quan đến khu vực thềm lục địa mở rộng được bàn đến trong Đệ Trình này.

Hơn nữa, Việt Nam muốn bảo đảm cùng Uỷ Ban rằng, chiếu theo Điều Lệ 76 (10) của UNCLOS 1982, Điều Lệ 9 thuộc Phụ Chương II của UNCLOS 1982, Quy Định 46 và Phụ Chương I của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban, Đệ Trình này sẽ không gây tổn thương đến những đề tài liên quan đến việc phân định lãnh hải giữa Việt Nam và các quốc gia duyên hải láng giềng.

Việt Nam đã có những cố gắng để bảo đảm rằng sẽ không có sự phản đối đến từ các Quốc gia duyên hải láng giềng khác.

5.2 Mô tả chi tiết về những giới tuyến tận thuộc thềm lục địa mở rộng của Việt Nam : Bắc Phần (VNM-N)


Việt Nam đã phác hoạ những giới tuyến tận cùng thuộc thềm lục địa mở rộng của Việt Nam Bắc Phần (VNH-N) bằng cách áp dụng hai phương thức : Công thức 1% độ dày của trầm thích (công thức Gardiner) và Nguyên tắc “Chân của Bờ triền” (Foot Of the Slop – FOS) + 60 hl (Công thức Hedberg)

Phù hợp với hai tiêu chuẩn này, 45 điểm cố định đã được thiết lập và phác hoạ những giới tuyến tận cùng thuộc thềm lục địa mở rộng của Việt Nam : Bắc Phần (VNH-N). Những giới tuyến tận cùng được mô tả trong Hình 1.

Hình 1: Ranh giới phía ngoài của thềm lục địa mở rộng Việt Nam: khu vực Miền Bắc (VNM – N)


Danh sách các toạ độ địa lý của các điểm cố định để mô tả giới tuyến tận cùng của khu vực VNH-N và các chiều dài của những đường nối được liệt kê trong Bảng 1 (từ trang 6 trở đi).

6. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trong việc soạn thảo Đề Trình này


Đệ Trình này cùng với tất cả các bản đồ, con số, tài liệu đính kèm, phụ lục và dữ liệu đã được soạn thảo bởi một đội ngũ liên ngành, thuộc các cơ quan sau đây:

Bộ Ngoại giao
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bộ Khoa học và Kỹ thuật
Viện Địa vật lý và Địa chất dưới biển
Cục Nghiên cứu và Địa hình Việt Nam
Cục Nghiên cứu Thủy văn học và Địa hình, Hải quân Việt Nam
PETROVIETNAM
Cố vấn khoa học và kỹ thuật: Trung tâm Quốc gia Hải dương học, Southampton, Vương Quốc Anh

Nguồn: Submission to the Commision on the Limits of the continental shelf
pursuant to Article 76, Paragraph 8 of the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982
Partial Submission in Respect of Vietnam’s Extended Continental Shelf: North Area (VNM – N)
Part I – Executive Summary
. April 2009.
Nguyễn Huy Đức chuyển ngữ

Đệ trình chung của Mã Lai và Việt Nam

Gửi lên Uỷ Ban Quy Hạn Thềm Lục Địa Mở Rộng
Căn cứ theo Điều Lệ 76, Phần 8 của

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982

Liên quan đến khu vực phía nam Biển Đông

Đệ trình chung của Mã Lai và Việt Nam

Gửi lên Uỷ Ban Quy Hạn Thềm Lục Địa Mở Rộng
Căn cứ theo Điều Lệ 76, Phần 8 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982
Liên quan đến khu vực phía nam Biển Đông

Phần 1 : Dẫn nhập & tóm lược


1. Dẫn nhập

1.1 Đệ Trình này lên Uỷ Ban Quy Hạn Thềm Lục Địa Mở Rộng (“Uỷ Ban”) đã được soạn thảo chung và trong sự hợp tác giữa nước Mã Lai và nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (sẽ được gọi chung là “Hai Quốc Gia Duyên Hải”), căn cứ vào Điều Lệ 76 của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (“UNCLOS 1982”), chiếu theo các Nguyên tắc Khoa học và Kỹ thuật Chỉ đạo của Uỷ Ban Quy Hạn Thềm Lục Địa Mở Rộng (“CLCS/11/Add.1”) (“Nguyên Tắc Chỉ đạo”) và chiếu theo các Quy định về Thủ tục của Uỷ Ban (“Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban”), ngõ hầu phác thảo giới tuyến tận cùng của thềm lục địa mở rộng thuộc về hai nước.

1.2 Nước Mã Lai đã ký kết UNCLOS 1982 vào ngày 10 tháng 12 năm 1982 và đã phê chuẩn công ước này vào ngày 14 tháng 10 năm 1996. Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (“Việt Nam”) đã ký kết UNCLOS 1982 vào ngày 10 tháng 12 năm 1982 và đã phê chuẩn công ước này vào ngày 23 tháng 6 năm 1994

1.3 Chiếu theo Phần 3 thuộc Phụ Chương I của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban, Đệ Trình Chung này chỉ liên quan đến một phần của thềm lục địa mở rộng của Hai Quốc Gia Duyên Hải. Như sẽ được chỉ dẫn trong Sơ Đồ 1 và sẽ được mô tả trong đoạn 5.1, Đệ Trình này liên quan đến một khu vực hoàn toàn hướng về đất liền. Vùng này nằm ở vòng ngoài cùng, ở vùng cạnh biên, thuộc về bờ lề lục địa của Hai Quốc Gia Duyên Hải. (“Khu Vực Được Xác Định”). Dưới phương thức đơn phương hay song phương, Hai Quốc Gia Duyên Hải có thể nộp thêm những đệ trình có liên quan đến những khu vực khác.

2. Các điều khoản thuộc Điều Lệ 76 của UNCLOS 1982 được sử dụng để dẫn chứng


2.1 Các giới tuyến thuộc thềm lục địa mở rộng nằm trong Khu Vực Được Xác Định của Hai Quốc Gia Duyên Hải có căn bản trong điều khoản thuộc Điều Lệ 76 (4) và (5) của UNCLOS 1982.

3. Thành viên của Uỷ Ban đã cố vấn trong việc soạn thảo đệ trình chung này


3.1 Trong quá trình soạn thảo đệ trình này, Hai Quốc Gia Duyên Hải đã nhận được sự hỗ trợ của ông Abu Bakar Jaafar, thành viên Uỷ ban Quy hạn Thềm lục địa mở rộng (1997-Nay). Ngoài ra không có thêm tham vấn nào của thành viên khác thuộc Uỷ Ban.

4. Tranh chấp


4.1 Hai Quốc Gia Duyên Hải cần cho Uỷ Ban biết rằng hiện có một số tranh chấp chưa được giải quyết trong Khu Vực Được Xác Định thuộc Đệ Trình Chung này. Đệ Trình Chung này đã nghiên cứu điều khoản thuộc Điều Lệ 76 (10) của UNCLOS 1982, Điều Lệ 9 thuộc Phụ Chương II của UNCLOS 1982, Quy Định 46 của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban, và các Phần 1, 2 và 5 thuộc Phụ Chương I của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban.

4.2 Chiếu theo những điều khoản trên, Hai Quốc Gia Duyên Hải muốn bảo đảm cùng Uỷ Ban rằng, trong phạm vi chấp nhận được, Đệ Trình Chung này sẽ không gây tổn thương những đề tài liên quan đến việc phận định ranh giới giữa các Quốc gia có bờ biển đối mặt hay cận sát.

4.3 Hai Quốc Gia Duyên Hải đã có những cố gắng để bảo đảm rằng sẽ không có sự phản đối đến từ các Quốc gia duyên hải láng giềng khác. Hai Quốc Gia Duyên Hải xác nhận rằng Đệ Trình này phù hợp với Phần 5 (b) thuộc Phụ Chương I của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban.

5. Mô tả giới tuyến của thềm lục địa mở rộng trong Khu Vực Được Xác Định


5.1 Những giới tuyến đã được phác hoạ và giới hạn qua:

- Điểm giao tuyến của những vòng cung, cách Mã Lai 200 hải lý, là giới tuyến của Mã Lai và của Phi Luật Tân, về phiá Đông (Điểm A)

- Điểm giao tuyến của hai vòng cung hội tụ lại, cách Mã Lai 200 hải lý, là giới tuyến của Mã Lai , từ Điểm A về hướng Tây-Nam (Điểm B và C)

- Điểm giao tuyến cách Mã Lai 200 hải lý, là giới tuyến của Mã Lai và cũng là đường phân định được công nhận qua Hiệp ước giữa Chính phủ Mã lai và Chính phủ Cộng hoà Nam Dương về phân định thềm lục địa giữa hai Quốc gia năm 1969, về hướng Tây-Nam (Điểm D)

- Điểm 25, căn cứ theo Hiệp ước nêu trên, về hướng Tây-Bắc (Điểm E)

- Điểm 25, căn cứ theo Hiệp ước giữa Chính phủ Cộng Hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hoà Nam Dương về phân định thềm lục địa năm 2003, về hướng Tây-Bắc (Điểm F)

- Điểm giao tuyến căn cứ theo Hiệp ước (VN&ND) vừa nêu trên, về phiá Tây-Bắc (Điểm G)

- Và những vòng cung, cách Việt Nam 200 hải lý, là giới tuyến của Việt Nam, về phiá Đông-Bắc (Điểm H và I)
Những giới tuyến này bao gồm 810 điểm cố định và được liệt kê trong Bảng 1 (từ trang 6 trở đi).

6. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trong việc soạn thảo Đề Trình Chung này


6.1 Đệ Trình Chung này cùng với tất cả các bản đồ, con số, tài liệu đính kèm, phụ lục và dữ liệu đã được soạn thảo bởi các cơ quan nhà nước của Hai Quốc Gia Duyên Hải sau đây:

Các cơ quan thuộc Chính phủ Mã Lai

(a) Hội đồng An ninh Quốc gia trực thuộc Phủ Thủ tướng
(b) Bộ Ngoại giao
(c) Chưởng lý viện
(d) Cục Nghiên cứu và Địa hình
(e) Cục Khoáng sản và Địa chất
(f) Trung tâm Thủy văn học Quốc gia, thuộc Hải quân Hoàng gia Mã Lai
(g) Petroliam Nasional Berhad (PETRONAS)

Các cơ quan thuộc Chính phủ Cộng Hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

(a) Bộ Ngoại giao
(b) Bộ Tài nguyên và Môi trường
(c) Bộ Khoa học và Kỹ thuật
(d) Viện Địa vật lý và Địa chất dưới biển
(f) Cục Nghiên cứu và Địa hình Việt Nam
(g) Cục Nghiên cứu Thủy văn học và Địa hình, Hải quân Việt Nam
(h) PETROVIETNAM

7. Sơ đồ và toạ độ

Sơ đồ 1: Khu vực được ấn định tại phần phía nam của Biển Nam Trung Hoa


7.1 Sơ đồ 1 mô tả giới tuyến của thềm lục địa mở rộng trong Khu Vực Được Xác Định, đề tài của Đệ Trình Chung này. Những toạ độ địa lý của World Geodetic System 1984 (WGS84) về những giới tuyến của thềm lục địa mở rộng trong Khu Vực Được Xác Định, cũng như các những phương pháp tính toán được liệt kê trong Bảng 1 (từ trang 6).

Sơ đồ 2: Rìa mé ngoài của địa giới và khu vực được ấn định tại phần phía nam của Biển Nam Trung Hoa


7.2 Sơ đồ 2 minh hoạ khu vực ở vòng ngoài cùng, thuộc bờ lề lục địa, được thiết lập để phụ lục cho Đệ Trình Chung này. Những toạ độ địa lý của WGS84 về các điểm cố định được dùng để thiết kế khu vực ở vòng ngoài cùng thuộc bờ lề lục địa được liệt kê trong Bảng 2 (từ trang 24 trở đi).

Nguồn: Join Submission to the Commision on the Limits of the Continental Shelf
pursuant to Article 76, Paragraph 8 of the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982
in respect of the southern part of the South China Sea


- Part I: Executive Summary

Malaysia & Socialist Republic of Vietnam – May 2009
Nguyễn Huy Đức chuyển ngữ

http://mldcvietnam.blogspot.com/2009/05/tai-lieu-e-trinh-cua-viet-nam-gui-len.html


Monday May 11, 2009 - 11:24pm (PDT) Permanent Link | 0 Comments
Tóm tắt về buổi Hội Thảo ngày 9/4/2009 về Khai Thác Bô-xit tại Tây Nguyên.
Tóm tắt về buổi Hội Thảo ngày 9/4/2009 về Khai Thác Bô-xit tại Tây Nguyên. magnify

Trong những ngày gần đây dư luận trong và ngoài nước quan tâm nhiều tới bản Kiến Nghị ký ngày 12/4/2009 do ba vị giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Thế Hùng và Phạm Toàn đề xuất, yêu cầu dự án khai thác bô-xit tại Tây Nguyên cần phải được đưa ra Quốc Hội để cứu xét trước khi tiến hành. Kiến nghị này đã được hưởng ứng bởi hàng trăm chuyên gia và đồng bào thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, ở trong và ngoài nước. Gần như chưa bao giờ có một sự đồng thuận rộng rãi như vậy từ trước tới nay. Vì tính chất đặc biệt quan trọng này mà bản Kiến Nghị Ngày 12/4 Yêu Cầu Quốc Hội Cứu Xét Về Dự Án Bô-xit Tây Nguyên đã làm lu mờ diễn tiến và kết quả của buổi Hội Thảo trước đó 3 ngày cũng liên hệ tới vấn đề này.

Vào ngày 9 tháng 4, 2009 một cuộc hội thảo quan trọng về việc khai thác bô-xit tại Tây Nguyên đã được diễn ra tại Hà Nội dưới sự chủ tọa của Phó Thủ Tướng CSVN Hoàng Trung Hải. Đây là buổi hội thảo hứa hẹn bởi Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 2, 2009 sau khi tuyên bố ”Dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là chính sách lớn của Việt Nam, và cương quyết cho tiến hành dự án…”.

Trong buổi Hội Thảo nêu trên 11 báo cáo và 23 ý kiến đã được trình bầy về các dự án bô-xit Tây Nguyên.

Quan điểm của phía Nhà Nước thì vẫn bám vào các nguyên tắc tổng quát mà không xét tới các yếu tố cụ thể liên hệ tới các dự án đang cần được xem xét, điển hình là phát biểu của Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công thương Nguyễn Mạnh Quân:

“Việt Nam có trữ lượng bô-xít lớn. Thời gian qua, tài nguyên này ngủ yên trong lòng đất và đã đến lúc chúng ta phải khai thác, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bô-xít được xác định là nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực, góp phần ổn định an ninh - chính trị trên địa bàn.”

Quan điểm này đã bị đả phá là hoàn toàn không đi đôi với thực tế qua các nhận định khoa học và cụ thể của các chuyên gia.

Kết luận, buổi hội thảo đã đi tới giải pháp đề nghị là:

“Chỉ nên thí điểm dự án Tân Rai (Lâm Đồng), tạm dừng triển khai dự án Nhân Cơ (Đăk Nông) để nghiên cứu, tổng kết rồi đi tới quyết định triển khai tiếp hay không.”

Bản chất của giải pháp đề nghị này ra sao, phải chăng đó chỉ là một luận điệu nhằm mục đích lừa mị, một kết luận có tính chất bàn xuông hay một bước lùi của các thành phần chủ trương dự án? Sau đây là vài tóm tắt về nội dung buổi Hội Thảo để có ý niệm rõ hơn về bản chất và giá trị của cuộc họp bàn này. Trước tiên, cần phải nhắc lại rằng:

1. Nguyên tắc hợp tác giữa CSVN và Trung Cộng trong dự án bô-xit Tây Nguyên đã được đặt ra từ hơn tám năm trước, vào tháng 12 năm 2001 giữa Giang Trạch Dân và Nông Đức Mạnh. Sau khi dự án chính thức tiến hành vào tháng 11 năm 2007, nguyên tắc hợp tác CSVN & Trung Cộng lại được xác định một lần nữa giữa Hồ Cẩm Đào và Nông Đức Mạnh vào tháng 6 năm 2008. Một tháng sau đó nhà máy đầu tiên của chương trình bô-xit Tây Nguyên chính thức khai trương bởi Hoàng Trung Hải tại Tân Rai, Lâm Đồng, tiếp theo là chương trình khai thác bô-xit tại Nhân Cơ, Dak Nông được tiến hành.

2. Vào hai ngày 22 và 23 tháng 10 cuộc hội thảo giữa các khoa học gia và các nhà văn hóa đã đưa nguy cơ khai thác bô-xit Tây Nguyên ra ánh sáng công luận. Những người lên tiếng phản đối đầu tiên việc khai thác bô-xit tại Tây Nguyên là các khoa học gia trong guồng máy ĐCSVN như TS Nguyễn Thành Sơn, Ông Nguyễn Trung, TS Nguyễn Đông Hải, Nhà văn Nguyên Ngọc, Tướng Võ Nguyên Giáp vv… Sau khi Nguyễn Tấn Dũng xác định dự án khai thác bô-xit tại Tây Nguyên là chính sách lớn của đảng CSVN thì làn sóng phản đối lan rộng qua thành phần đối kháng ở trong và ngoài nước, giới ký giả và cộng đồng dân báo (Blogger). Từ đó, nguy cơ bô-xit trở thành hiện thực, gần gụi với mọi người, tuy rằng đối với môi trường quốc nội vấn đề thông tin mới chỉ giới hạn trên mạng Internet.

3. Hầu hết các tổ chức đấu tranh cho dân chủ ở trong và ngoài nước đều có lên tiếng phản đối dự án khai thác bô-xit tại Tây Nguyên, trong số đó đảng Việt Tân hiện là tổ chức tham gia tích cực hơn cả trong việc báo động nguy cơ khai thác bô-xit tới đồng bào và dư luận quốc tế. Đảng viên Việt Tân đã tới các hiện trường Dak Nông và Lâm Đồng để ghi lại hình ảnh tiến hành của hai dự án và Đảng Việt Tân đã chính thức lên tiếng báo nguy vào ngày 20/3/2009. Ngoài ra, nhiều cán bộ Việt Tân cũng đã lên tiếng giải thích nguy cơ về bô-xit trên nhiều diễn đàn truyền thông bằng Việt ngữ và ngoại ngữ.

4. Trong khi dư luận đồng bào đặt nặng vào nguy cơ ô nhiễm môi trường và họa xâm lăng của Trung Cộng qua hàng ngàn nhân công từ Trung Quốc gửi qua Tây Nguyên thì một yếu tố thứ ba có thể ảnh hưởng tới tình trạng hợp tác giữa CSVN và Trung Cộng trong vụ bô-xit Tây Nguyên, có tính chất rất quan trọng, đó là tình trạng suy xụp của thị trường Alumina và kim loại Nhôm trên thế giới trong năm 2008 và thời gian kế tiếp.

Theo nguồn tin từ BBC thì:

”Tập đoàn Nhôm Trung Quốc (Chinalco), nhà đầu tư của dự án khai thác bauxite khổng lồ ở Tây Nguyên, vừa thông báo lợi nhuận năm 2008 giảm tới gần 100% so với một năm trước đó và chắc sẽ thua lỗ trong quý đầu 2009. Chinalco, cũng là công ty sản xuất nhôm lớn nhất Trung Quốc, cho hay sẽ cắt chi tiêu tới 34%, tương đương 1,9 tỷ đôla, trong năm nay vì nhu cầu nhôm thế giới giảm sút mạnh. Tân Chủ tịch Chinalco La Kiến Xuyên nói tại một cuộc họp báo tổ chức hôm thứ Hai 30/03 ở Thượng Hải rằng Chinalco "sẽ siết chặt các hợp đồng mua và sáp nhập tại các thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời hoãn các dự án kế hoạch để đối phó với khó khăn hiện thời". Nguyên nhân dẫn đến thua lỗ, theo tập đoàn này, là giá nhôm xuống quá thấp trên thị trường quốc tế. Ông La nói Chinalco đã giảm công suất tới 40% và sản lượng nhôm cũng giảm 24%.

5. Tình trạng kinh tế của Chinalco đã có âm hưởng trên lời tuyên bố của Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải: “Quy hoạch bô-xit được chuẩn bị trong điều kiện kinh tế thế giới, khu vực phát triển nhanh, nhu cầu nhôm tăng nhanh, do đó dự kiến sản lượng lớn quá tham vọng. Đến nay, do khủng hoảng, các ngành đều phải xem xét, điều chỉnh lại quy hoạch theo con số dự báo mới. Việc điều chỉnh quy hoạch là cần thiết. Nếu không điều chỉnh mà vẫn tiếp tục dự án thì sẽ không hiệu quả.”

Ông yêu cầu công ty TKV, trách nhiệm chươngtrình bô-xit Tây Nguyên, là phải: “Tính lại hiệu quả và cân đối tài chính của dự án. Khác với hai năm trước, bây giờ khi đồng vốn là cả một vấn đề, tập đoàn cần phải cân bằng, bố trí vốn cho từng giai đoạn đảm bảo hiệu quả kinh tế.”

Kết quả buổi Hội Thảo ngày 9/4/2009.

Buổi hội thảo đã đi tới giải pháp đề nghị là:

“ Chỉ nên thí điểm dự án Tân Rai (Lâm Đồng), tạm dừng triển khai dự án Nhân Cơ (Đăk Nông) để nghiên cứu, tổng kết rồi đi tới quyết định triển khai tiếp hay không.”

Lý do của đề nghị này được đại diện Nhà Nước nhấn mạnh vào khía cạnh kinh tế, vào tình trạng suy thái chung trên thế giới, nghĩa là không phải vì Nhà Nước vô trách nhiệm đối với nhu cầu bảo vệ môi trường sống của người dân và độc lập quốc gia. Trong khi đó Chinalco, công ty mẹ của dự án bô-xit Tây Nguyên đang có khó khăn kinh tế thực sự.

Trong tình huống này, có nhiều xác suất lời tuyên bố của Hoàng Trung Hải không phải chỉ là lời bàn xuông mà sẽ là bước lùi thực sự. Bước lùi này có tính chất giai đoạn hay vĩnh viễn sẽ tùy thuộc ở nỗ lực đấu tranh tiếp tục của người dân VN và cả tình hình thị trường Nhôm trên thế giới. Tuy nhiên,dầu cho thị trường có thuận lợi trở lại như cách đây 2 năm, thì theo các con số của TS. Nguyễn Văn Ban, nguyên Trưởng ban Dự án Nhôm của Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam chứng minh, dự án Tân Rai và Nhân Cơ sẽ không hiệu quả.

Ngoài ra, trong buổi hội thảo, và từ nhiều tháng qua, một số vấn đề căn bản đã được nêu lên để phản đối dự án này củaNhà Nước : Quốc phòng, xâm lấn trá hình qua việc nhập nội hàng ngàn nhân công Trung Quốc, hủy diệt nếp sống văn hóa địa phương và nhất là nguy cơ phá hoại và đe dọa môi sinh. Yếu tố sau cùng này đã được ghi nhận qua phát biểu của Hoàng Trung Hải trong phần đúc kết hội thảo, ông Hải yêu cầu:

- TKV phải thực hiện nghiêm túc quản lý khôi phục môi trường khai thác mỏ, giảm thiểu ảnh hưởng đến nông nghiệp, đảm bảo không lãng phí đất.

- Tập đoàn cũng cần lập thiết kế kỹ thuật cho hồ chứa bùn đỏ để thẩm định.

Thời gian 5 tháng qua cũng là cơ hội mà hầu hết các thành phần quần chúng từ trong tới ngoài đảng CSVN, quốc nội tới hải ngoại, nhất loạt lên tiếng phản đối việc khai thác bô-xit tại Tây Nguyên.

Căn cứ trên bản chất “nói một đàng, làm một nẻo” của CSVN, các cuộc tranh đấu của quần chúng cần phải tiếp diễn một cách kiên trì thì mới mong những điều hứa hẹn trở thành hiện thực và phải làm sao chấm dứt ngay cả phân nửa dự án tại Tân Rai dầu cho dưới danh nghĩa là “thí điểm”. Vì với hết cả dữ kiện cụ thể vô cùng thuyết phục đã được nêu lên, còn có gì để mà thí nghiệm. Chẳng lẽ phải tiếp tục tàn phá một phần quê hương và lỗ lã thêm vài trăm triệu Mỹ kim để cứu vãn cho thể diện (?) của chế độ? Kết quả “thí nghiệm” khai thác than bởi TNK, cũng có sự hợp tác của cả chục ngàn công nhân Trung Quốc từ hơn 20 năm qua, đã biến Quảng Ninh thành vùng “Quảng Ninh Đen” nghèo khổ không đủ sao mà nay còn toan biến các đồi trà xanh tại Lâm Đồng thành một vùng sa mạc Lâm Đồng Đỏ ?

Sự việc Nhà Nước CSVN phải thay đổi do sự đòi hỏi của quần chúng là điều không dễ nhưng không phải là chưa từng xẩy ra. Vụ đánh thuế 10% trên số tiền đồng bào hải ngoại gửi về nước hay cấm đoán người có vòng ngực nhỏ không được lái xe gắn máy đã phải dẹp bỏ nhanh chóng, xa hơn là sự đầu hàng của chính sách bao cấp, là những bằng chứng cụ thể.

Chúng ta nên coi kết quả của cuộc hội thảo 9/4/2009 như thắng lợi của 5 tháng tranh đấu của quần chúng trong và ngoài nước và cần tiếp tục nỗ lực để đảm bảo các hứa hẹn của CSVN phải thành hiện thực. Cuộc vận động cho kiến nghị ngày 12/4/2009 yêu cầu Quốc Hội cứu xét trước khi thi hành dự án khai thác bô-xit tại Tây Nguyên nói lên ít ra những điều sau đây: Thứ Nhất là mặc dầu có lời hứa hẹn của Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải trong buổi Hội Thảo ngày 9/4/2009 tạm ngưng khai thác bô-xit tại Nhân Cơ, người dân VN chưa thể nào tin ở những lời người CS nói mà cần phải nhìn rõ những gì người CS làm. Thứ Nhì là khi phải chấm dứt khai thác bô-xit tại Nhân Cơ (Đắc Nông) thì chẳng có lý do gì để thí nghiệm khai thác tiếp bô-xit tại Tân Rai (Lâm Đồng).

Việc cứu xét bởi Quốc Hội về vấn đề khai thác bô-xit tại Tây Nguyên cũng sẽ phải căn cứ trên các dữ kiện khoa học và kinh tế đã được toàn thể giới khoa học và chuyên gia nêu lên từ nhiều tháng qua, kết quả cũng sẽ chỉ là phải bảo vệ mầu xanh cho Tây Nguyên, duy trì canh nông và chăn nuôi để mỗi tấc đất thật sự là một tấc vàng chứ không biến phần đất quê hương này thành một sa mạc chết.


Hoàng Cơ Định


Saturday April 25, 2009 - 04:33pm (PDT) Permanent Link | 1 Comment
THÔNG BÁO VỀ THU THẬP CHỮ KÝ VÀ GỬI KIẾN NGHỊ VỤ BAUXITE

THÔNG BÁO VỀ THU THẬP CHỮ KÝ VÀ GỬI KIẾN NGHỊ VỤ BAUXITE

Tập thể




THƯ MỜI


Hà Nội ngày 12 tháng Tư năm 2009


Thưa quý Anh Chị,


Chúng ta đều biết trong cuộc Hội thảo về chủ đề khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên vào ngày 9 tháng Tư vừa qua tại Hà Nội, hầu hết các nhà khoa học đều nhất trí lên tiếng rằng: việc này lợi bất cập hại. Đặc biệt, nhà văn Nguyên Ngọc không những phân tích kỹ và sâu các hậu quả khôn lường của việc ấy mà còn nói thẳng đây là việc làm không hợp pháp. Ngày hôm sau Anh còn trả lời BBC kiên trì ý kiến của mình. Tuy vậy, theo tin chúng tôi biết được, Nhà nước chỉ gọi là kết luận sẽ khoanh vùng thí điểm lấy lệ còn thực chất đang triển khai mạnh ở cả bốn địa điểm chứ không phải chỉ hai.
Chẳng lẽ để cho tiếng vang của Hội thảo đi vào trống không trong khi nguy cơ tày trời về việc khai quặng lại đang ngày một thêm rình rập đất nước? Chẳng lẽ tiếng lòng của Anh Nguyên Ngọc không được giới trí thức đáp lại và cũng là một cách để bảo vệ anh? Nghĩ như thế, chúng tôi đã mạnh dạn thảo một thư ngỏ sau đây, nhằm gửi lên Quốc Hội, Mặt trận Tổ Quốc, Chính Phủ, và Ban chấp hành ĐCSVN để bày tỏ nguyện vọng của giới trí thức người Việt chúng ta, muốn công việc khai thác bauxite phải được đưa ra Quốc Hội thông qua trước khi chính thức triển khai quy mô lớn, trong thời gian đó cần đình chỉ lại đã.
Chúng tôi có trao đổi và bước đầu chỉ xin gửi đến những địa chỉ quen biết, tin cậy. Văn bản có thể chưa thật trau chuốt nhưng vì thời gian đã quá gấp, không thể chậm hơn được nữa, chúng tôi mong quý Anh Chị, nếu tán thành với tinh thần lá thư do chúng tôi thảo, xin ghi tên, chức danh và địa chỉ vào dưới rồi gửi về cho chúng tôi trong thời hạn sớm nhất, để kịp gửi đến các nơi cần gửi. Và nếu quý Anh Chị nào biết thêm những ai có mối quan tâm đến vận mạng đất nước trên vấn đề này, xin mời họ cùng ký vào.
Xin trân trọng cám ơn quý Anh Chị.
Kính thư
GS Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, GS TS Nguyễn Thế Hùng
Địa chỉ liên lạc:
chi.nguyenhue@gmail.com
PhamToanVidai@vnn.vn
hungntdanang@gmail.com

THÔNG BÁO
về việc thu thập chữ ký và
gửi kiến nghị vụ Bauxite

Thưa quý Anh Chị,
Chúng tôi xin trân trọng thông báo tới quý Anh Chị một số điều liên quan tới việc thu thập chữ ký và gửi Kiến nghị vụ Bauxite như sau:
Tất cả chúng ta đều biết, từ nửa cuối năm 2008 tới những ngày gần đây, trên báo in và báo mạng trong nước và ngoài nước, chủ đề Bauxite trở thành tâm điểm của những cuộc thảo luận đầy lo lắng.
Trên nhiều tờ báo mạng, đã hình thành bộ hồ sơ dầy dặn, đi từ thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp người am tường và có trách nhiệm với đề tài này từ những năm 1980 thế kỷ trước, đến những nghiên cứu và kiến nghị của người trong cuộc hiện thời, kể cả những nhà trí thức trong nước đến các nhà trí thức đang sinh sống tại nước ngoài, cho đến những tiếng nói của nhà văn nhà báo... tất cả đều có chung niềm quan ngại trước chủ trương khai thác Bauxite tại Tây Nguyên, “nóc nhà của Đông Dương”.
Cảm nhận được nỗi lo đó, bên cạnh việc tích cực tham gia phản biện tại những diễn đàn lớn (đặc biệt là tại cuộc hội thảo ngày 9 tháng Tư vừa qua tại Hà Nội), nhiều anh chị em trí thức trong và ngoài nước đã gợi ý và ủy thác cho một số người dự thảo bản Kiến nghị nhằm tìm cách làm sáng tỏ và nếu có thể thì ngăn chặn việc phát triển khai thasc khoáng sản Bauxite bằng mọi giá.
Bản kiến nghị đã được khởi thảo xong ngày 12 tháng Tư năm 2009 và gửi đến một số anh chị em góp ý kiến.
Song song với việc đóng góp vào bản dự thảo Kiến nghị, và cũng vì sốt ruột trước tình hình, nhiều anh chị em đề nghị vừa góp ý sửa chữa nội dung kiến nghị, vừa thu thập chữ ký.
Sau ba ngày lưu thông trên mạng, hiện nay đã có 135 chữ ký. Chúng tôi quyết định xin phép quý Anh Chị tạm chốt số chữ ký ở mức này, để sáng ngày mai, 17 tháng Tư năm 2009, chúng tôi sẽ đại diện cho quý Anh Chị đem bản Kiến nghị tới các địa chỉ sau: ông Nguyễn Phú Trọng và Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, ông Nguyễn Minh Triết và Văn phòng Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam.
Chúng tôi xin phép đề nghị anh chị em nào chưa kịp ký tên vào bản kiến nghị này, kể từ 18 giờ hôm nay 16 tháng 4 năm 2009, hãy tiếp tục gửi chữ ký của mình về địa chỉ trang mạng trannhuong.com là nơi sẽ đăng bản Kiến nghị cùng với lời Thông báo này.
Xin phép thông báo cùng quý anh chị: sáng mai 17 tháng 4 năm 2009, đoàn đại diện chúng tôi sẽ gồm có các bạn sau:
- Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, trưởng đoàn
- Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng,
- Ông Phạm Toàn,
- Nhà thơ Dương Tường.

Chúng tôi sẽ thông báo đến quý Anh Chị các diễn biến kế tiếp.
Xin gửi kèm theo đây bản Kiến nghị ở dạng bản thảo cuối cùng và số chữ ký.
Thân ái chúc quý Anh Chị vui mạnh.

Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng




KIẾN NGHỊ VỀ VỤ KHAI THÁC

BAUXITE Ở TÂY NGUYÊN


Kính gửi:
– Ông Nguyễn Minh Triết Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam;
– Ông Nguyễn Phú Trọng cùng toàn thể Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;
– Ông Nguyễn Tấn Dũng cùng các thành viên Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam

Chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây, lo lắng trước vận mệnh nước nhà về vụ khai thác bauxite ở Tây Nguyên, xin kính gửi quý cơ quan bản kiến nghị này.

Thưa quý cơ quan,
Dân tộc Việt Nam chúng ta trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh giành độc lập và thống nhất, ngày nay đang huy động tổng lực sức người sức của và sức trí tuệ vào công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng đổi mới toàn diện.
Trong công cuộc xây dựng mới đất nước ta, trên nguyên tắc, không có sự đối lập về quyền lợi giữa Nhà nước và nhân dân – nhân dân ta ở trong nước cũng như ở ngoài nước, người giữ cương vị lãnh đạo cũng như người dân bình thường, ai ai cũng muốn đất nước ngày càng giàu mạnh, ngày càng văn minh, cả dân tộc sẽ là một gia đình lớn, vui tươi, ấm no, hạnh phúc.
Tiếc rằng, trong vụ bauxite đang diễn ra, những con người trung thực của đất nước bắt đầu thấy hẫng hụt, lý tưởng chung tay xây dựng đất nước gần như đang ít nhiều suy giảm vì cách làm việc của cơ quan điều hành đất nước, một tình trạng cần được phân tích ngắn gọn như dưới đây.

Thưa quý cơ quan,
Việc khai thác tài nguyên của đất nước, trong đó có tài nguyên bauxite, là việc làm cần thiết, nhưng đó không thể là việc làm bằng mọi giá!
Công việc chuẩn bị cho dự án bauxite đã được nhiều nhà khoa học chỉ ra những thiếu sót toàn diện, mà chỉ riêng hai lá thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đủ cho thấy những bất cập về chính trị, quốc phòng, môi trường, kinh tế, kỹ thuật, và kiến nghị của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn, của Giáo sư Phạm Duy Hiển, và của các nhà nghiên cứu độc lập khác ở trong nước như nhà văn Nguyên Ngọc, học giả Nguyễn Trung, nhà báo Lê Phú Khải, nhà văn Phạm Đình Trọng, và ở ngoài nước như Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiệp chuyên gia về ô nhiễm môi sinh ở Úc, Kỹ sư tư vấn Đặng Đình Cung chuyên gia về mỏ ở Pháp... là những bổ sung toàn diện mang tính chất kỹ thuật cho hai lá thư tâm huyết của Đại tướng.
Tất cả các kiến nghị đó đã chỉ ra những kẽ hở hoặc những sai phạm khó chấp nhận trong chủ trương làm dự án bauxite này, mà chỉ ba điều sau cũng đủ để tất cả những ai có lương tri phải suy nghĩ:
- Chủ trương lập dự án được công khai hóa vào cuối năm 2008 sang đầu năm 2009, song thực ra nó đã được ký tắt với người Trung Quốc từ nhiều năm về trước mà không hề xin ý kiến nhân dân thông qua Quốc Hội do dân bầu ra; toàn bộ báo cáo tiền khả thi chưa bao giờ được trình ra trước nhân dân và đại diện của nhân dân tức Quốc Hội;
- Người Trung Quốc đóng cửa các mỏ khai thác bauxite của họ để chuyển sang khai thác ở Việt Nam, định trút gánh nặng ô nhiễm môi trường cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và nhiều đời mai sau – những hành động y hệt như họ đã và đang làm ở châu Phi với sự giúp sức của những chế độ cai trị tham nhũng tại châu lục này, và đang bị dư luận thế giới theo dõi chặt chẽ và hết sức công kích;
- Kỹ thuật, công nghệ và nhân công khai thác dự định du nhập chủ yếu từ Trung Quốc, một cường quốc mới nổi dậy với nền kinh tế đang giàu lên nhưng bên trong vẫn chứa đựng không ít thực trạng bất khả tín, trong đó liên quan đến vấn đề khai thác bauxite là sự nổi tiếng của Trung Quốc trên toàn thế giới hiện đại như là một quốc gia gây ô nhiễm môi trường vào bậc nhất, chưa kể những “vấn nạn” khác (chỉ mới trong tháng Ba vừa rồi Chính phủ nước Úc đã phải hủy bỏ một dự án khai thác khoáng sản ở Nam Úc ký với Trung Quốc vì lý do quốc phòng).

Thưa quý cơ quan,
Đất nước là của chung của cả dân tộc, chứ không là của riêng của một nhóm người nào, của một nhóm quyền lợi nào, hoặc một tổ chức nào dù tinh hoa đến đâu cũng vậy.
Tất cả những người có ý thức với dân tộc, với đất nước, xót xa trước những việc làm không được kiểm soát chặt chẽ xoay quanh vụ bauxite, đều thấy cần thiết phải lên tiếng.
Chúng tôi kiến nghị:
1) Phải đưa vấn đề dự án bauxite Tây Nguyên ra trước Quốc Hội và mọi chủ trương liên quan phải được Quốc Hội quyết định;
2) Dự án bauxite Tây Nguyên phải chính thức dừng ngay lại, có giám sát chặt chẽ cho tới khi Quốc Hội xem xét toàn bộ báo cáo tiền khả thi và đưa ra những phê chuẩn thích hợp. Kính mong Quốc Hội thấu suốt được tinh thần của đại đa số dân chúng không muốn dự án này tiếp tục vì tất cả những hệ lụy nặng nề của nó;
3) Những nghiên cứu tiền khả thi với vấn đề bauxite Tây Nguyên cần được dư luận rộng rãi tham gia và theo dõi.

Thưa quý cơ quan,
Những người ký tên dưới bản kiến nghị này bày tỏ sự lo lắng khôn cùng trước phương cách làm việc chưa thấu triệt và hoàn bị về nhiều mặt cho một dự án có tầm chiến lược sống còn của đất nước như dự án bauxite.
Xin quý cơ quan nhận ở đây lòng kính trọng của chúng tôi và rất mong được thông hiểu cho nỗi trăn trở của chúng tôi cả ở trong nước lẫn ở ngoài nước.
Nhân dịp này, chúng tôi cũng kêu gọi người Trung Hoa nhất là giới trí thức hãy ủng hộ dân tộc Việt Nam, giúp cho môi trường sống của nước láng giềng phía Nam được trong lành, giúp cho nhiều vấn đề còn dở dang giữa hai quốc gia được giải quyết trong hòa bình và hữu nghị.

Việt Nam, ngày 12 tháng 4 năm 2009
Ký tên:

Thứ tự Họ và tên Ghi chú cần thiết Địa chỉ và địa chỉ email

01 GS Nguyễn Huệ Chi Nguyên Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Văn học, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam Hà Nội
nhchihytue@yahoo.com

02 GS TS Nguyễn Thế Hùng Trường Đại học Bách khoa, Đà Nẵng, Phó Tổng thư ký Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam TP Đà Nẵng
hungntdanang@gmail.com

03 Phạm Toàn Dạy học, viết văn, dịch sách Hà Nội
PhamToanVidai@vnn.vn

04 GS TS Hoàng Tụy Nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam Hà Nội
htuy@math.ac.vn

05 GS TS Trần Văn Khê Nguyên giám đốc Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học CNRS (Centre National de la Recherche Scientifique), Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học, văn chương, nghệ thuật châu Âu, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc đối chiếu của CHLB Đức
TP HCM
trantruongca@yahoo.com.vn

06 GS Phan Đình Diệu Nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam Hà Nội
pddieu@gmail.com

07 TS Vũ Quang Việt Nguyên chuyên viên cấp cao về thống kê kinh tế của Liên Hiệp Quốc New York City, Mỹ
viet.vuquang@gmail.com

08 GS TS Nguyễn Lân Dũng Đại biểu Quốc hội Khóa 12, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam Hà Nội
dungnguyenlan@yahoo.com

09 GS TSKH Nguyễn Đăng Hưng GS thực thụ danh dự Trường Đại học Liège, Bỉ TP HCM
h.nguyendang@yahoo.com

10 GS TS Nguyễn Văn Tuấn Supervisor Đại học Y khoa Australia, Viện Đại học New South Wales, Sydney, Australia Sydney NSW 2010
Australia
t.nguyen@garvan.org.au

11 Nghệ sĩ nhân dân, Đạo diễn Trần Văn Thủy Nhà làm phim độc lập Hà Nội
tvtfilm@yahoo.com

12 GS TS Nguyễn Văn Hạnh Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Phó trưởng ban Văn hóa văn nghệ TW TP HCM
qnhanh0312@yahoo.com

13 GS Lê Xuân Khoa Nguyên GS thỉnh giảng Trường cao học Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Johns Hopkins, Washington, DC California, U.S.A.
khoa.le2@verizon.net

14 GS TS Trần Văn Thọ Chuyên gia kinh tế học, Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản Tokyo, Japan
tvttran01@gmail.com

15 TS Nguyễn Quang A Chủ tịch Hội IDS Hà Nội
anguyenquang@gmail.com

16 GS TS Nguyễn Quang Riệu Nguyên Giám đốc Nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp và Đài Thiên văn Paris Paris, France

minhquangr@yahoo.fr

17 GS TS Ngô Vĩnh Long Khoa Lịch sử
Stevens Hall
Trường Đại học Maine, Mỹ Orono, ME,
U.S.A.
ngovinhlong@yahoo.com

18 Nhà thơ Hoàng Hưng Làm thơ, viết văn, viết báo TP HCM
ndtm42@gmail.com

19 GS Nguyễn Đăng Mạnh Giảng dạy, nghiên cứu, phê bình văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội Hà Nội

20 GS TS Phạm Xuân Yêm Nguyên Giám đốc Nghiên cứu CNRS và Đại học Pierre et Marie Curie, Paris, Pháp pxuanyem@gmail.com

21 GS TS Ngô Bảo Châu Giảng dạy toán học ở Đại học Paris Sud và Thành viên của Institute of Advanced Studies, Princeton, Mỹ ngo@ias.edu

22 GS TS Đinh Tiến Cường Giảng dạy toán học ở Đại học Pierre et Marie Curie, Paris, và thành viên của Institut Universitaire de France dinh@math.jussieu.fr

23 GS TS Đỗ Đăng Giu Giảng dạy vật lý ở Đại học Paris Sud; nguyên Giám đốc Nghiên cứu CNRS giu.dodang@gmail.com

24 GS TS Trịnh Xuân Thuận Chuyên gia ngành thiên văn, Đại học Virginia, Mỹ txt@virginia.edu

25 PGS TS Hoàng Dũng Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TP HCM TP HCM
dunghoang@hcm.fpt.vn

26 Nguyễn Khắc Mai Nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận TW Hà Nội

27 PGS TS Trần Thị Băng Thanh Nguyên Phó trưởng ban Ban văn học Cổ cận đại, Viện Văn học Việt Nam Hà Nội
tranbangthanhvh@yahoo.com

28 TS Nguyễn Đình Nguyên Chương trình Loãng xương và Sinh học xương, Viện nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Australia Canley Vale NSW, Australia
ngdinhnguyen@yahoo.com

29 Nhà báo Tống Văn Công Nguyên Tổng biên tập báo “Lao động” TP HCM
tongphan78@yahoo.com

30 Kỹ sư Ngô Hoàng Long - Tư vấn kỹ thuật cầu đường, công trình ngầm
- Công ty tư vấn và quản lý XD T.L.D Hà Nội
long.tld@gmail.com

31 Nhà văn Võ Hồng Viết văn, dạy học, đã nghỉ hưu Nha Trang

32 Họa sĩ Trịnh Cung Vẽ tranh độc lập TP HCM
trinhcung2004@yahoo.co.uk

33 Kỹ sư Phạm Duy Hiển LDDK “Vietsovpetro”, dịch sách Vũng Tàu
Hienpd.hq@vietsov.com.vn

34 Kinh tế gia Vũ Giản Chuyên gia tư vấn kinh tế, tài chính, Bộ Kinh tế TS Genève, ThụySĩ
vgianfr@yahoo.fr

35 TS Trương Hồng Sơn Chuyên gia nghiên cứu hàng không vũ trụ, nguyên chuyên viên cơ quan vũ trụ NASA Maryland, U.S.A

36 Kỹ sư Nguyễn Đức Toản - Tư vấn kỹ thuật cầu đường, hầm, địa kỹ thuật
- Dự án Metro (tàu điện ngầm) Hà Nội
- Hội viên Hội Địa kỹ thuật Việt Nam Hà Nội
ngdtoan@gmail.com

37 Mai Thái Lĩnh Nhà giáo, nhà nghiên cứu, cựu Phó Chủ tịch HĐND TP Đà Lạt ht.linh2008@gmail.com

38 Nguyễn Hồng Khoái Chuyên viên tư vấn tài chính; Hội viên CLB Kế toán trưởng toàn quốc;
Hội viên Hội tư vấn Thuế Việt Nam Nam Định
khoai1949@gmail.com

39 PGS TS Đoàn Phan Tân Nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Việt Nam Hà Nội
doanphantan.@gmail.com

40 Nhà thơ Trần Nhương Làm thơ, viết văn kiêm hội họa, Hội Nhà văn Việt Nam truongnhan_hnv@yahoo.com

41 Trần Lương Nghệ sĩ thị giác Hà Nội
tranluong60@yahoo.com

42 TS Phạm Văn Đỉnh Chuyên ngành Vật lý khí quyển, Vật lý vi bụi, Ô nhiễm môi trường khí quyển Toulouse, Pháp
tacgia@gmail.com

43 Th.S Nguyễn Thị Thanh Thúy Phòng Khoa học & Công nghệ, Trường Đại học Quy Nhơn TP Quy Nhơn
banmai.qn@gmail.com

44 Trịnh Lữ Dịch giả Hà Nội
trinhlu@gmail.com

45 Nhà thơ Dương Tường Làm thơ, dịch sách Hà Nội
meaculpa@fpt.vn

46 Nhà văn Phạm Đình Trọng Viết văn, ký giả TP HCM
phamdinhtrong2006@yahoo.com.vn

47 Lại Nguyên Ân Nhà văn, nhà nghiên cứu độc lập Hà Nội
anlainguyen@gmail.com

48 TS Dương Tấn Trung Chuyên gia điện toán Sydney, Australia
trung.duong@optusnet.com.au

49 Phan Phương Đông Nhà điêu khắc TP HCM
phanphuongdong@gmail.com

50 Ngô Thị Kim Cúc Viết báo, viết văn, Biên tập viên báo “Thanh niên” TP HCM TP HCM

ntkc.dn@gmail.com

51 Bùi Như Hương Nghiên cứu, phê bình mỹ thuật bnhuongvmt@gmail.com

52 TS Đặng Đình Thi Đang làm nghiên cứu sinh sau Tiến sĩ về kỹ thuật hàng không tại Học viện Công nghệ Virginia Tech., Hoa Kỳ Virginia, U.S.A.
thid.dang@gmail.com

53 Nguyễn Đức Hiệp Atmospheric Scientist (chuyên gia khí quyển) Department of Environment & Climate Change, NSW Lidcombe NSW, Australia
Hiep.Duc@environment.nsw.gov.au

54 Hà Dương Tuấn Chuyên gia công nghệ thông tin ở Pháp, đã nghỉ hưu Antony, France
tuanhaduong@orange.fr

55 Th.S Nguyễn Hồng Quân Chuyên ngành công nghệ điều khiển học
Trường Đại học công nghiệp Đông Kinh (Tokyo Institute of Technology) đã hưu trí
Strathfield NSW, Autralia
hquan4452@gmail.com

56 GS TS Nguyễn Trường Tiến Chủ tịch VSSMGE; Chủ tịch VGI;
Chủ tịch Hội đồng khoa học và công nghệ AA-Corp; Phó Chủ tịch Hancorp; Trưởng phòng Đăng ký VIFCEA Hà Nội
truongtien@gmail.com tien.nguyentruong@gmail.com

57 Nguyễn Bá Chung Nghiên cứu văn học, dịch giả, Trường Đại học Massachusetts, Boston Massachusetts, USA

Chung.Nguyen@umb.edu

58 TS Huỳnh Kim Lâm Đang làm nghiên cứu sinh sau Tiến sĩ ngành công nghệ hóa học tại Trường Đại học Mỏ Colorado, Hoa Kỳ Colorado School of Mines
Golden, CO
hklamvn@gmail.com

59 PGS TS Quang Hà Trường Điện, Cơ khí và Hệ thống Cơ khí điện tử, Khoa công nghệ thông tin Viện Đại học Công nghệ Sydney, Australia Broadway NSW, Australia
quangha@eng.uts.edu.au

60 PGS TS Trần Cát Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường thành phố Đà Nẵng Đà Nẵng
cattrandr@gmail.com

61 Nguyễn Văn Tạc Nhà giáo hưu trí Hà Nội
tac1938@gmail.com

62 Kỹ sư Nguyễn Đình Khoa Làm việc tại Vought Aircraft Industries, Texas, Hoa Kỳ Texas, U.S.A.
kdn_j@yahoo.com

63 Nhà thơ Ý Nhi Nguyên Trưởng chi nhánh tại miền Nam NXB Hội nhà văn TP HCM
ynhi1809@gmail.com

63 Phùng Liên Đoàn TGĐ Công ty tư vấn nguyên tử và môi trường PAI Corporation, Chủ tịch sáng lập Hội Khuyến khích Tự Lập và Hội Khuyến học Việt-Mỹ Tennessee, U.S.A.
doanlphung@gmail.com

64 GS TS Vĩnh Sính Khoa Lịch sử và Cổ điển học Trường Đại học Alberta, Canada Alberta, Canada
svinh@ualberta.ca

65 Uông Đình Đức Nguyên cán bộ TCT Thép Việt Nam, hưu trí TP HCM
udduc05@yahoo.com

66 Nhà văn Bùi Ngọc Tấn Viết văn Hải Phòng
haiha_ckn2000@yahoo.com

67 PGS TS Trần Nam Bình Viện Đại học New South Wales,
Sydney, Australia
12 Colenso Cres
Daceyville NSW,
Australia
b.tran-nam@unsw.edu.au

68 Dương Khánh Phương Biên tập viên, ký giả Hà Nội
hoctagore@yahoo.com

69 Trần Minh Thảo Công dân Việt Nam Lâm Đồng, Việt Nam
trminhthao@gmail.com

70 Nhà văn Trần Thị Trường Viết văn, làm báo, biên kịch sân khấu âm nhạc Hà Nội
tanlysu@gmail.com

71 TS Lê Thành Bắc Phó thanh tra Đại học Đà Nẵng TP Đà Nẵng
lthanhbac@yahoo.com

72 Trần Hậu Yên Thế Phòng Quản lý khoa học Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam Hà Nội
tranhauyenthe@yahoo.com

73 Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo Làm thơ, viết báo, sáng tác nhạc Hà Nội
nguyentrongtao1@yahoo.com

74 Nguyễn Đức Vương Giảng viên Trường ĐH GTVT Hà Nội; Nghiên cứu sinh tại CHLB Đức Hamburg, Germany
vuongbri@gmail.com

75 Vũ Thị Thư Nhi Biên tập viên TP HCM
vuthithunhi@gmail.com

76 Trần Tiến Dũng Làm thơ, viết báo TP HCM
trantiengdung@hotmail.com

77 Trịnh Thị Thu Thủy Nhân viên ngành du lịch đưa nhiều khách QT đi Tây Nguyên Hà Nội
trinhthuyhcds@yahoo.com

78 Hà Dương Tường Điều hành trang mạng “Diễn đàn”; nguyên Giáo sư (professeur Emerite) Đại học công nghệ Compiègne Ivry,
France
tuong.ha-duong@utc.fr

79 Kỹ sư Trần Minh Khôi Kinh doanh tự do Berlin, CHLB Đức
tranminhkhoi@yahoo.com

80 GVC ThS Nguyễn Biên Cương Phó Chủ nhiệm Khoa Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa, Đà Nẵng Đà Nẵng
nbcvna@gmail.com

81 Nguyễn Ngọc Giao Dạy học, viết báo, điều hành trang mạng “Diễn đàn”; nguyên Giảng viên Université Denis Diderot (Paris VII) MAISONS ALFORT. France
nguyenngocgiao@gmail.com

82 Võ Thị Diệu Hằng Dạy học, viết văn; điều hành trang mạng “Vietsciences” Noisy le Grand, France

83 Lê Phú Khải Nhà báo tự do TP HCM
lephukhai@yahoo.com

84 Lê Tinh Tiến Kế toán CPA PS Công ty Tư vấn 91 Woodlands Ave Sydney, Australia Sydney, Australia
tinhtienle@hotmail.com

85 Nguyễn Bình Phương Hướng dẫn viên du lịch Hà Nội
binhphuongfr@yahoo.com

86 PGS TS Phạm Quang Tuấn Chuyên ngành kỹ thuật hóa (chemical engineering)
Đại học New South Wales, Sydney, Australia Lansvale NSW, Australia
phamquangtuan@optusnet.com.au

87 TS Kỹ sư Nguyễn Văn Hảo Giám đốc dự án
Waterman Quốc tế hnguyen49@optusnet.com.au

88 Nhà thơ Bùi Minh Quốc Làm thơ, viết văn, làm báo Đà Lạt
b_minhquoc@yahoo.com.vn

89 TS Lê Đình Tuyên Chuyên ngành Vật liệu kiến thiết không gian (Structural Materials for Space Applications) The Aeronautics Space Co California, U.S.A.
tdle@ca.rr.com

90 Th.S Tô Thúy Nga Giảng viên Trường Đại học Bách khoa, Đà Nẵng. TP Đà Nẵng
Tothuyngadn2002@yahoo.com

91 Trần Thị Vĩnh Tường Nghiên cứu lịch sử Việt California, U.S.A.
vtjewelry54@yahoo.com

92 Kỹ sư Phạm Danh Công ty công nghệ máy bay Vought Texas, U.S.A.
phandfw@yahoo.com

93 Kỹ sư Trương Cương
Công ty công nghệ máy bay Vought Texas, U.S.A.
firegoat@hotmail.com

94 TS Trương Phước Trường GS danh dự
Trung tâm nghiên cứu Giao thông và Hậu Cần
Phân khoa Kinh tế và Thương mại ĐH Sydney NSW 2006,
Australia; GS nghiên cứu
Trung tâm nghiên cứu Kinh tế CHLB Đức
Berlin, Germany Sydney NSW,
Australia
truongt@itls.usyd.edu.au; ttruong@diw.de

95 TS Hà Sĩ Phu Chuyên ngành sinh học Đà Lạt
thuvienhsp@yahoo.com

96 TS Đỗ Xuân Thọ Viện Khoa hoc công nghệ GTVT Hà Nội
tsdoxuantho@gmail.com

97 Nguyễn Ninh Nghiên cứu viên ngành hoá học - vật lý các chất rắn tại CNRS, Pháp Loc Maria, France
mai.nnguyen@gmail.com

98 Đỗ Bá Thành Giảng viên Đại học Quốc gia Hà nội; đang làm NCS tại Khoa Vật liệu khoa học và Kỹ thuật ứng dụng Đại học Michigan, H.H. Dow bldg, Hoa Kỳ Miami, U.S.A.
thanhdo@umich.edu

99 TS Võ Văn Châu Kỹ sư hóa vật liệu, phụ trách điều hành kỹ thuật Souffelweyersheim,
France
vovanchau@gmail.com

100 Kỹ sư Võ Minh Thế Dự án cao tốc Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây TP HCM
vominhthe@gmail.com

101 Vũ Văn Bách Dự án cao tốc Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây TP HCM
vu.van.bach@gmail.com

102 Kỹ sư Nguyễn Huy Hoàn - Đại diện Tư vấn WSP tại Đà Nẵng
- Dự án Cầu mới Nguyễn Văn Trỗi - Trần Thị Lý (Đà Nẵng)
- Hội viên hội Cầu đường Việt Nam (chi hội Đà Nẵng) TP Đà Nẵng

hoan209@gmail.com

103 TS Lương Tuấn Anh Viện khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, Hội viên Hội cơ học thủy khí Hà Nội
Tanh@vkttv.edu.vn

104 Kỹ sư Nguyễn Thế Tài Chuyên ngành vật lý kim loại, Bruxelles, Bỉ tai278@yahoo.com

105 Nguyễn Kim Luân Rue du Hal, 81190 Bruxelles, Belgique nguyenkimluan56@yahoo.fr

106 Nguyễn Văn Thịnh Giáo viên nghỉ hưu Thừa Thiên-Huế
thinhvng@yahoo.com

107 Nguyễn Văn Dũng Giáo viên nghỉ hưu Huế
uyeenr@dng.vnn.vn

108 Kỹ sư Nguyễn Anthony Công ty công nghệ máy bay Vought Texas, U.S.A.
anthonynguyen74@yahoo.com

109 Nguyễn Phạm Điền Nghiên cứu lịch sử Canberra, Australia
dienuc@yahoo.com.au

110 TS Văn Thị Hạnh Chuyên ngành sinh học TP HCM
hanhvan@itb.ac.vn

111 Kiến trúc sư Trần Thanh Vân Kiến trúc cảnh quan Hà Nội
van.oikos@gmail.com

112 Phạm Mạnh Kha Tiến sĩ Nông nghiệp,
Giám đốc cty ASAHI PLANTECH Co., Ltd. pmkha_76542@ybb.ne.jp

113 Trần Đình Lôi Việt kiều tại Mỹ California, U.S.A.

114 Nguyễn Quang Huy NCS Việt Nam tại Trường Đại học Sherbrooke, QC, Canada Quebec, Canada
huy41xf@yahoo.com

115 ThS Hà Hải Châu Master Anh ngữ ứng dụng (Úc), Master Pháp ngữ (Pháp), Nguyên Trưởng khoa Ngoại ngữ Trường đại học Y Phạm Ngọc Thạch TP HCM
hachau51@vnn.vn

116 Nhà báo Ngô Mai Phong Viết báo, ký giả Hạ Long
ngomaiphong_laodong@yahoo.com

117 BS Võ Văn Cần Nguyên trưởng khoa Y học Hạt nhân, Bệnh Viện Chợ Rẫy BC,
Canada
vovancan@gmail.com

118 Nhà văn Hoàng Ngọc Biên Viết văn, ký giả
San Jose, U.S.A.
nxb_trinhbay@yahoo.com

119 Nguyễn Trung Thuần Dịch giả, biên soạn từ điển Hà Nội
thuannt53@yahoo.com.vn

120 Kỹ sư Nguyễn Kim Công ty công nghệ máy bay Vought Texas, U.S.A.
kimchi1992@yahoo.com

121 Kỹ sư Ngô Quốc Bảo Làm việc tại L-3 Communication IS, Waco, Texas Texas, U.S.A.
quocboa@yahoo.com

122 Hồ Thị Hòa Biên tập viên NXB Tri Thức Hà Nội
ngocbaoan@gmail.com

123 Nhà thơ Nguyễn Đỗ Làm thơ, dịch sách California, USA
ngdo59@yahoo.com

124 TS Trương Văn Tân Senior Scientist Melbourne, Australia

125 Nguyễn Ngọc Diệp Assebroek, Belgium
truongviet02@yahoo.com

126 Trần Đình Lôi Việt kiều tại Mỹ California, U.S.A.

127 Nguyễn Thụy Anh dịch giả Hà Nội

128 PGS TS Lê Minh Thịnh Đại học Quốc gia Singapore Singapore
thinh.m.le@gmail.com

129 Trần Quang Hải Nghiên cứu gia âm nhạc học dân tộc tại CNRS, Pháp LIMEIL BREVANNES, France
tqh@gmail.com

130 Kỹ sư Cao Thiện Phước Chuyên ngành công nghệ thông tin, Paris, Pháp ctphuoc@orange.fr

131 Bác sĩ Vũ Văn Huân Chuyên khoa ung thư Lyon, Pháp Lyon, France
huan.vu-van@wanadoo.fr

132 ThS Nguyễn Phạm Tú Minh Thiết kế trang trí hoa Drachten, Nederland
tuminh@hetnet.nl


Xin lỗi và bổ sung:

Do sơ suất kỹ thuật trong việc liên lạc giữa tôi và GS Nguyễn Huệ Chi, người chủ trì lên danh sách những người ký tên vào kiến nghị Bauxit, các vị có tên sau đây đã ký tên vào Kiến nghị nhưng chưa được đưa vào danh sách:

1/Nhà văn Vũ Thư Hiên, Paris

harryvudin@gmail.com>

2/GSTS Nguyễn Mạnh Hùng (Nam Dao)

GS Kinh Tế học, Đại Học Laval, Quebec & viết văn
Canada

nmhung@ecn.ulaval.ca

3/ Nguyễn Kim Cương, Bác sĩ Y khoa, Hà Nội
cuongoc@fpt.vn>


Sau khi danh sách được chốt lại vào chiều 16/3/2009, các vị sau đây nhờ tôi chuyển giúp đến người chủ trì:

1/
Hà Vũ Trọng, hoạ sĩ, dịch sách, Canada
havutrong@yahoo.com

2/ GS Augustine Hà Tôn Vinh, Chủ tịch & GD điều hành Công ty Stellar Management JS Company, Hà Nội

AugVinh@StellarVietnam.com


3/ PGSTS Ngô Văn Giá
nhà giáo, nhà văn.
Chủ nhiệm Khoa Sáng tác và Lý luận- Phê bình văn học (Đại học văn hoá Hà Nọi)
email: ngo_vangia@yahoo.com.

4/ Nhà văn Hoàng Lại Giang, nguyên trưởng chi nhánh NXB Văn Học tại TPHCM
<hoanglgiang@hotmail.com>

5/ Phạm Tường Vân, nhà báo tự do, TPHCM
biet_khongbiet@yahoo.com

6/ Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, Viện Hán Nôm

Tôi xin nhờ mạng của bạn đưa giúp danh sách bổ sung này, và thành thật xin lỗi các vị có tên nêu trên vì sơ suất của chúng tôi.

7/ VUONG TRAN, RAIA, AIPM
Architect (NSW reg. 5488| QLD reg: 4015)
Transpacific Group Pty Limited
37 Marion Street, Harris Park NSW 2150
Tel: +612 9633 5986 | Fax:+612 963 33621
Director
email: vtran@transpacificgroup.com.au


8/ Thái Văn Cầu
Ghi chú: Chuyên gia khoa hoc
Địa chỉ: U.S.A.


9/ Nguyen Thi Cam Chi , tien si sinh hoc, noi cu tru Paris

10/ Trần Xuân Nam TS ( Dr. Ing ) nguyên Chủ nhiệm Khoa VTĐ Đại học Bưu Điện

11/ TS. Giáp Văn Dương

12/ Vũ Như Tuấn, Tiến sĩ (Dr. Ing.) đang làm việc tại CHLB Đức

13/ Ngô Tam Anh
Groupama, France
Email:
tamanhngo@gmail.com


14/ Nguyễn Cường.
Na Bitevni plani 1155/48
Praha 4- Nusle
Czech republic
Tel. +420 776 585499


15/ Đnh Văn Hội Kỹ Sư Nhà Báo Chủ trang WEB vietinfo.eu (Cộng Hoà Séc)

16/ Kỹ Sư Ngô Văn Chính (Cộng Hoà Séc)

17/ Trần Ngọc Tuấn nghề nghiệp nhà văn, nhà báo - Nad Lesním Divadlem 10/1117 - Praha 4 - Cộng Hoà Séc. Email: huexa1987@yahoo.com

18/ Bùi Đức Hào
Chức danh: TS KS chuyên ngành Hóa Cao Phân Tử
Thường trú: Paris, Pháp

19/ TS Nguyễn Thị Thuỷ Minh, Giảng viên Đại học Công nghệ Nanyang Singapore
Email:
thuyminhnguyen@gmail.com

20/ NGUYỄN TẤN LỘC là công dân việt nam .trình độ chuyên mônKỶ SƯ CÔNG NGHỆ HÓA SILICATtôi

21/ NGUYỄN GIA HẢO
Nơi ở : Hà nội
Nghề nghiệp : Nghiên cứu Kinh tế độc lập.
E mail :
ngiahao@gmail.com

22/ Trần Ngọc Dương, nhà văn
tranngocduongqn@gmail.com


23/ Bác sỹ Phạm Hồng Sơn,
Địa chỉ: nhà 21, ngõ 72 B-Thụy Khuê-Hà Nội
E-mail:
nhucaytrevn@yahoo.com


:24/ Nha tho ,nha bao Truong Giang -Nguyen Thu ky toa soan ,chu tich cong doan Bao Giao thong van tai truonggiang1936@gmail,com

25/ Nguyễn Minh Quân, hiện tôi đang làm NCS chuyên ngành Toán Ứng Dụng, ĐH
tiểu bang New York tại Buffalo (SUNY Buffalo), tôi xin ký tên vào bản kiến nghị
vụ khai thác Bauxite Tây Nguyên.

26/ TS Hóa học Lê Viết Bình
Nguyên giám đốc Xưởng Nghiên cứu thực nghiệm, Cty Hóa chất cơ bản miền nam
Địa chỉ: TP. Hồ Chí Minh
Email: levietbinh@yahoo.com

27/ KIEU QUOC THU, HIEN LA GIAO VIEN DAY O TRUONG THPT XUAN KHANH, SON TAY, HA NOI

28/ Thanh Thao-nha tho, nha bao-Pho chu tich Hoi dong Tho Hoi nha van Viet Nam- dia chi email:
nhathothanhthao@gmail.com xin ky ten

29/ Đỗ Quyên (Làm thơ, viết văn, làm báo - Canada)

30/ Nguyễn Tuấn Anh
Chức danh: Nghiên cứu viên
Cơ quan công tác: Viện nghiên cứu Châu Mỹ
Địa chỉ email: nguyen_ta1968@yahoo.com


31/ Bùi Mạnh Hùng, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Phó trưởng Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh

32/ Phạm Thành, email: thanhnhandan@yahoo.com.vn

33/ 1 người dân bình thường. Hiện cư ngụ tại NINH THUẬN - VIỆT NAM.
ngtuhan@zing.vn


34/ TS. NGUYỄN XUÂN DIỆN
Phó Giám đốc Thư viện, Viện Nghiên cứu Hán Nôm Bui Van Nam

35/ Nguyễn Quang Nhàn , hội viên hội VN Lâm Đồng , cán bộ công đoàn


36/ Lê Anh Hoài, Nhà văn, nhà báo
Báo Tiền phong


37/ Nhà văn Trần Hoài Dương, TPHCM

38/ Ly Hoàng Ly, nghệ sĩ thị giác, TPHCM Email: lyhoangly07@yahoo.com


39/ Trương Công Hoàng, Cu nhan kinh te .Hien dang kinh doanh chu yeu tai Phi chau ( Ghana, Togo Nigieria...)


40/ TS Âu Dương Thệ, chuyên viên Chính trị học, Chủ bút tạp chí Dân chủ & Phát triển, Đức quốc
DCvaPT@aol.com


41/ Hồ Du
Cán bộ tiền khởi nghĩa, 60 tuổi đảng. Đà lạt Lâm đồng

42/ Đoàn Nhật Hồng
Nguyên Giám đốc sở Giáo dục Lâm đồng, Đà lạt
doanminh1932@yahoo.com.vn

43/ Huỳnh Nhật Hải, cựu phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Lạt

44/ Qui-Phiet Tran, Ph.D.
Professor Emeritus of English
Schreiner University
Kerrville, Tx



45/ Huỳnh Nhật Tấn, cựu phó Giám đốc trường đảng tỉnh Lâm Đồng

46/ GS.TS. Vũ Cao Đàm Nguyên viện trưởng Viện Quản lý Khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ Hà Nội
vcd.precen@gmail.com


47/ Nguyễn Xuân Lan
Việt kiều tại Canada
Toronto, Canada
xuanlan.nguyen@


48/ Tôi tên là: Nguyễn Duy Đông
Hiện đang làm kinh doanh tại Reading, tỉnh Berkshire, UK
Địa chỉ email: dongbinh@hotmail.co.uk

49/ GS TSKH Nguyễn Hữu Việt Hưng
Giảng viên Cao cấp ĐHQG Hà Nội,
GS mời Đại học WSU (Michigan, USA),
Phó Chủ tịch Phụ trách Quan hệ Quốc tế Hội Toán học Việt Nam
Địa chỉ email
nhvhung@vnu.edu.vn


50 / Bui van Dan: 107 rue des Rabats 92160 Antony France, email: bvdk22@yahoo.fr


51/ Đào Thị Nhung
Nghiên cứu sinh chuyên nghành Vật Lý Năng Lượng Cao,
Viện Vật Lý MaxPlanck, Munich, Germany.


52/ Nguyễn Hoài Phương
Viết văn, viết báo
CHLB Đức


53/ Dạ Thảo Phương
Làm thơ.
, Tokyo, Nhạt Bản


54/ Trần Lê
Viết báo, dịch sách, điều hành trang mạng
Nhịp cầu Thế giới (Hungary)

55/ Lê Đức Ninh, tiến sĩ Vật Lý, hiện đang làm việc tại Viện nghiên cứu Max Planck, thành phố
Munich, Cộng hoà liên bang Đức.
ldninhgalileo23@yahoo.com


56/ Nguyễn Thái Linh, dịch giả
Địa chỉ: ul. Oboźna 1, 00-340 Warszawa, Ba Lan
email: thailinh@gmail.com


57/ Ngô Minh, nhà thơ, Hội Vien Hội NVVN, nhà báo, Hội viên Hội NBVN, nghề
nghiệp viết báo . Cư trú tại 11/73- Phan Bọi Chau, TP Huế, tinh Thua
Thiên Hue


58/ Ngô Minh Thuyên -nhà báo tự do.. email: ngominhthuyen28@gmail.com


59/ Bùi Văn Nam
Sinh nam 1972, tai Binh Dinh
Nghe nghiep: Designer
Email: nambui2003@yahoo.com


60/ VÕ NGỌC THỌ (VO NGOC THO)
Nơi cư trú: 44 Trần Hưng Đạo, TP Quy Nhơn, Bình Định
Hội viên Hội Văn Học Nghệ Thuật Bình Định - Nhà thơ
Email: vongoctho2004@yahoo.com


61/ Trang Hạ
phóng viên, nhà văn
Đài Bắc - Hà Nội
hòm thư: trangha75@yahoo.com

62/ Phạm Anh Tuấn, sinh 1958, hiện là cán bộ thuộc ngành giao thông vận tải kiêm dịch giả tự do. Địa chỉ: Khu 7,2 ha, nhà N2, phòng 406, phường Vĩnh Phúc, Ba đình, Hà nội.
điện thoại: 0903452122


64/ Nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, viết văn , làm thơ, làm báo, nguyên ủy viên trực Ban thường vụ, phó tổng biên tập tạp chí Lang Biang, Hội văn nghệ Lâm Đồng, e-mail :
tieudaobaocu@gmail.com,


65/ Đinh Văn Hội Kỹ Sư, nhà báo, Chủ trang WEB vietinfo.eu địa chỉ Văn Phòng IVO - Libuská 319 - 14200 Praha 4 - Cộng Hoà Séc. Email:firmaivo@seznam.cz.
Kỹ Sư Ngô Văn Chính - Tichá 142 Horovice - 26801 - Cộng Hoà Séc. Email:nguyenlethu1911@yahoo.de

66/ Nguyễn Đăng Chiến
Nghề nghiệp: Giảng viên Đại học Đà Lạt, Lâm Đồng (đang học Ph.D. tại Taiwan)
email: ndchienvl05@yahoo.com








Chủ nhật ngày 19/4/2009

Quay lại trang trước CÁC BÀI CÓ LIÊN QUAN :

TRIẺN VỌNG BÔ-XÍT TÂY NGUYÊN - TÌM HIỂU TẠI CHỖ-

ĐỂ THỰC SỰ LÀ CỦA DÂN, VÌ DÂN

THÔNG BÁO VỀ VIỆC GỬI KIẾN NGHỊ...

LỜI CÁO LỖI

MỘT TU SĨ PHẬT GIÁO TRUNG QUỐC TRỞ THÀNH NGÔI SAO NHẠC PỐP

DƯ LUẬN CỰU CHIẾN BINH TP HỒ CHÍ MINH VỀ KHAI THÁC BAUXITE TÂY NGUYÊN

DIÊN HỒNG VĂN HOÁ: BIỂU TƯỢNG SỰ ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

TRUÂN CHUYÊN GÁNH VĂN CHƯƠNG NGƯỜI VIỆT Ở LIÊN BANG NGA

KHAI THÁC BAUXITE LÀ KHÔNG HỢP PHÁP

HÌNH ẢNH PHẢN CẢM TẠI LỄ HỘI HOA

LỜI CẢM ƠN CỦA TRẦN NHƯƠNG

SUY THOÁI ĐẠO ĐỨC NGUY HIỂM HƠN KHỦNG HOẢNG KINH TẾ

MỜI THAM DỰ CUỘC THI THƠ LỤC BÁT 'NGÀN NĂM THƯƠNG NHỚ'

HÃY ĐỂ CHO YÊN TỬ ĐƯỢC... YÊN

TRUONG SƠN

Sunday April 19, 2009 - 04:03pm (PDT) Permanent Link | 2 Comments
Khai thác bô xít Tây Nguyên: 3 vấn đề, 3 kiến nghị






(TuanVietNam) - Trước thềm Hội thảo về khai thác bô xít Tây Nguyên ngày 9/4, nguyên ĐBQH Nguyễn Ngọc Trân phân tích hiệu quả kinh tế, môi trường - xã hội của các dự án bô xít Tây Nguyên và kiến nghị lấy Tân Rai làm thí điểm.





Ảnh: reychem.com





Từ tháng 11/2008, sau khi dự án “Tổ hợp bô-xít-nhôm Lâm Đồng” tại Tân Rai được khởi công ngày 26/7/2008, và tiếp đó dự án “khai thác bô-xít sản xuất alumina Nhân Cơ” (Đắc-Nông) sẽ được khởi công trong quý I-2009, và những thông tin về dự kiến hợp tác đầu tư với nước ngoài khai thác bô-xít quy mô lớn ở Tây Nguyên kèm theo bao tiêu sản phẩm từ 2007 đến 2015 có xét đến 2025, có rất nhiều bài báo trên các phương tiện thông tin đại chúng bày tỏ sự lo ngại trước quyết định khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, nhất là vào thời điểm hiện nay với sản phẩm sơ chế là alumina, đặt dấu hỏi về hiệu quả kinh tế, cảnh báo về công nghệ và hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên và xã hội.

Sau nhiều tháng chờ đợi, một cuộc hội thảo khoa học về khai thác quặng bô-xít để sản xuất alumina ở Tây Nguyên sẽ được tổ chức ngày mai, 9/4/2009 tại Hà Nội do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì với thành phần tham dự được mời gồm đại diện các Bộ ngành và các địa phương có liên quan, các nhà khoa học và hoạt động xã hội.

Dư luận mong rằng hội thảo sẽ là một sự phản biện được lắng nghe, một cuộc đối thoại xây dựng vì sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước và của vùng đất Tây Nguyên. Nhằm mục đích đó, bài viết này góp một số ý về ba nhóm vấn đề và đề xuất ba kiến nghị.

Trước tiên là về hiệu quả kinh tế. Tổng Công ty Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) chắc chắn đã có những tính toán của mình để thuyết minh là hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ có hiệu quả kinh tế tính cho suốt thời gian tồn tại của chúng, ước tính là 50 năm.

Vấn đề là các dự án này (và quy hoạch khai thác bô-xít nói chung) đã được tính toán trong thời gian mà nhu cầu nhôm, alumina của thế giới và khu vực đang lên cao, trong khi đó giá alumina trên thị trường thế giới hiện nay và trong thời gian trước mắt xuống rất thấp và chưa ai nói được là còn sẽ kéo dài bao lâu trong cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay.

Vì vậy nhà đầu tư phải xem xét lại tính toán về hiệu quả kinh tế của các dự án hiện nay (và trong quy hoạch) phù hợp với tình hình mới không thuận lợi như lúc lập luận chứng ban đầu.

Chalco, một tập đoàn lớn hàng đầu về nhôm của Trung Quốc, cho hay sẽ cắt chi tiêu tới 34%, tương đương 1,9 tỷ đôla, trong năm 2009 vì nhu cầu nhôm thế giới giảm sút mạnh. La Kiến Xuyên, chủ tịch mới của tập đoàn, thông báo ngày 30/3/2009 vừa qua [1], tập đoàn này "sẽ siết chặt các hợp đồng mua và sáp nhập tại các thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời hoãn các dự án kế hoạch để đối phó với khó khăn hiện thời".

Chắc TKV đã nhận được thông tin này và đã liên hệ đến mình và đến việc hợp tác đầu tư, để không vì khó khăn mà giãn tiến độ hoặc “treo” các dự án, và nhất là hạ thấp trình độ công nghệ, hy sinh hoặc “rút gọn” khâu xử lý chất thải bùn đỏ, thậm chí đổ bừa chất thải chưa xử lý ra môi trường như đã bắt gặp trong thời gian qua.

Trong quy hoạch khai thác bô-xít giai đoạn 2007-2015 có xét đến 2025, có việc đầu tư một tuyến đường sắt dài khoảng 270 km với chênh lệch độ cao 700 mét, đi qua một vùng địa hình khá phức tạp, để đưa sản phẩm alumina từ Tây Nguyên về xuất khẩu tại cảng Kê Gà (Bình Thuận).

Điều này nhắc chúng ta nhớ rằng chỉ số ICOR của nền kinh tế Việt Nam hiện nay khá cao, phản ánh hiệu quả đầu tư thấp trong thời gian qua. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư phải là một mệnh lệnh rõ ràng, dứt khoát, nhất là trong giai đoạn khó khăn hiện nay.

Thứ hai là về môi trường. Hiệu quả kinh tế là quan trọng, nhưng tác động lên môi trường còn quan trọng hơn nhiều, cho hôm nay và cho mai sau.

Theo TKV, do cấu trúc địa chất, bô-xit Tây Nguyên có diện phân bố rộng, thường ở trên sườn và đỉnh đồi, chiều dày các vỉa quặng trung bình 3-5m, nằm dưới lớp đất phủ với khoảng cách trung bình 0-2m.

Ảnh: reychem.com

Các dự án sẽ tận dụng các thung lũng trên cùng một địa bàn, cách nhau không xa, cho hai mục đích rất khác nhau, nằm ở hai đầu của quy trình sản xuất alumina: làm hồ tích nước trong mùa mưa phục vụ tuyển quặng và sản xuất alumina, và làm hồ chứa bùn đỏ, chất thải rất nguy hiểm từ quy trình sản xuất này [2].

Viêc tận dụng các thung lũng như đã nói không an toàn chút nào bởi lẽ bùn đỏ chứa một dung dịch kiềm đi kèm có tính ăn mòn mạnh, có thể thẩm thấu gây tác hại cho đất xung quanh và làm ô nhiễm nguồn nước, và nhất là vào mùa mưa, khi lượng nước mưa lớn [3] tích tụ ở các hồ bùn đỏ có thể tràn ra ngoài hoặc làm vỡ đập.

Nói về nguồn nước cho sản xuất alumina tại hai nhà máy, TKV cho biết nhà thầu sẽ sử dụng 100% nước mặt, không sử dụng nguồn nước ngầm, bằng cách đắp đập tạo hồ chứa và một phần điều hoà nước từ các đập hồ thuỷ điện của vùng trong mùa khô.

Xin lưu ý TKV rằng nước trong các đập và hồ thủy điện đều đã được quy hoạch để sử dụng đa mục tiêu ở hạ lưu cho dân sinh, nông nghiệp, thủy sản, … vì ở đó cũng rất cần nước vào mùa kiệt!

Báo cáo của các nhà thầu bảo đảm rằng việc xử lý ô nhiễm, chất thải bùn đỏ, sẽ được làm triệt để nhằm giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, và với phương pháp khai thác theo trình tự cuốn chiếu, “công tác hoàn thổ, phục hồi không gian sẽ được hoàn nguyên ngay sau khi khai thác xong từng khu vực”.

Trong khi đó tỉ lệ dành cho việc xử lý chất thải, đặc biệt chất thải bùn đỏ, lại chỉ chiếm 5,4 – 5,6% tổng vốn đầu tư của nhà máy trong mỗi dự án.

Chính vì vậy và mặc dù việc xử lý chất thải bùn đỏ ở các nước được dẫn chứng như là an toàn (mà theo chúng tôi biết không hẳn là như vậy), chúng tôi vẫn cho rằng môi trường là một vấn đề chưa thể yên tâm [4].

Gần đây thôi, Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa 100 mỏ bô-xít vì gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Mỏ bô-xit Nhữ An đã bị đóng cửa sau một năm hoạt động vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, cùng nhiều chứng bệnh lạ xuất hiện.

Nước này cũng ra quy định các doanh nghiệp khai thác bôxit chính quy phải trả lại hiện trạng đất đai như ban đầu sau 4 năm khai thác, nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn.

Thứ ba là về vấn đề xã hội. Nhiều bài đã phân tích sâu về tác động đến văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm rằng vấn đề xã hội gắn với vấn đề môi trường và môi trường là một điều kiện quan trọng hàng đầu cho sự ổn định cuộc sống và cho sức khỏe của người dân trên địa bàn và các địa bàn lân cận.

Các báo cáo cho biết “tổng diện tích chiếm đất của toàn bộ dự án alumina Nhân Cơ khoảng 3.570 ha, trong đó phần mỏ khoảng 2.620 ha; các công trình đập, hồ chứa nước khoảng 500 ha; phần nhà máy sản xuất alumina khoảng 150 ha; các dự án tái định canh, định cư khoảng 300 ha”. Có thể khẳng định rằng tác động lên xã hội của dự án rộng hơn khoảng không gian này nhiều.

TKV cho biết con em của Lâm Đồng và Đắc Nông đã được gửi đi đào tạo để phục vụ hai nhà máy. Hoạt động của các nhà máy sẽ kéo theo sự phát triển các ngành kinh tế khác. Kinh tế thuần nông lâm sẽ chuyển dần sang kinh tế đa ngành nghề. Thu ngân sách và thu nhập của của người dân của hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Nông sẽ tăng.

Nếu được như vậy thì rất tốt và đáng mừng. Thế nhưng Greg Zelder và Sebastian Africano, Giáo sư về Chủng tộc, Đói nghèo, và Môi trường Raquel R. Pinderhughes, Đại học Bang San Francisco đã chỉ ra rằng khai thác bô-xít hầu hết đã làm gia tăng đói nghèo cho người dân bản địa.

Yếu tố con người đã được xem trọng đúng mức chưa trong cả hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ?

Dự án Nhân Cơ chỉ cho con số 300 ha dành cho tái định canh, định cư. Nhưng số người tái định cư là bao nhiêu, họ là ai, cuộc sống vật chất và tinh thần của họ như thế nào, nguyện vọng của họ ra sao, … không thấy nói.

Công tác tái định cư của các công trình Sơn La, Dung Quất và xa hơn là Hòa Bình cho chúng ta nhiều bài học quý mà trước tiên là cần tiếp cận vấn đề xã hội sâu sắc hơn, nhân văn hơn, đậm đà tình dân tộc, nghĩa đồng bào hơn.

Ảnh: reychem.com





Từ những ý kiến trên đây, xin đề xuất ba kiến nghị:

1. Nếu không thể dừng, lấy dự án Tân Rai làm dự án điểm. Tập trung chỉ đạo và yêu cầu tập đoàn thầu theo phương thức EPC thực hiện dự án đúng các cam kết, đặc biệt việc xử l‎ý an toàn nhất chất thải bùn đỏ. Giám sát việc thực hiện. Làm cho tốt công tác tái định cư. Tổng kết kinh nghiệm.

2. Tập trung xây dựng cho xong dự án quy hoạch tổng thể khai thác bô-xit Tây Nguyên có báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) song hành trước khi triển khai bất kỳ dự án nào mới.

3. Khi dự án quy hoạch hoàn thành, nếu một trong năm tiêu chí (tổng vốn đầu tư; tác động lên môi trường; số dân di dời tái định cư; đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh hoặc có di tích quốc gia có giá trị đặc biệt quan trọng về lịch sử, văn hóa; đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định) chạm giới hạn cho phép thì Chính phủ trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư đúng theo Nghị quyết 66/2006/QH11 của Quốc hội.

Khai thác bô-xit Tây Nguyên có ý nghĩa vô cùng quan trọng về nhiều mặt, cần được tiến hành từng bước chắc chắn. Quặng vẫn nằm đó trong lòng đất và chờ đợi được khai thác với công nghệ sạch và tiên tiến, trong một quy hoạch chặt chẽ và toàn diện. Chỉ có như vậy nó mới góp phần vào sự phát triển đất nước một cách bền vững.

  • Gs. Nguyễn Ngọc Trân

Khai thác bô - xít: Câu chuyện Ấn Độ và Haiti

Câu chuyện Ấn Độ




Tại Ấn Độ “vấn đề” các nền văn hoá bản địa ở các vùng đất giàu bauxite đã trở thành điểm bạo loạn nóng bỏng giữa dân cư và chính phủ.

Năm 1998 công ty Norsk-Hydro của Na Uy đã tìm thấy bauxite ở bang Orissa. Vấn đề của công ty là 2100 gia đình ở 24 làng đã cản trở.

Trong 32 triệu dân của bang Orissa, có bảy triệu thổ dân tập trung ở các vùng giàu quặng là các hạt Raigada, Koraput và Kalahandi nơi họ chiếm đến 80% dân cư.

Chỉ riêng ở Orissa có gần 64 triệu ha đất trồng trọt và được chiếm giữ một thời, hiện đang được khai mỏ và ước tính có 50.000 người tị nạn môi trường.

Dân bộ tộc và thổ dân ở Ấn Độ chỉ chiếm 8% dân số nhưng lại chiếm đến hơn 40% dân bị di dời.

Ở Ấn Độ các bộ lạc, chứ không phải chính phủ, kiểm soát đất bộ lạc. Điều này có nghĩa là các bộ lạc phải quyết định liệu các công ty khai khoáng có thể được phép khai mỏ hay không.

Một nhóm môi trường trong vùng đã tổ chức một cuộc điều tra cho thấy 96% dân cư trong hạt chống lại dự án bauxite.

Cảnh sát vùng đã dùng vũ khí chống lại người dân địa phương, hiển nhiên cảnh sát hoạt động vì lợi ích của công ty, và đã bắt hầu hết các chủ đất ít nhất một lần và ép buộc họ ký bán đất cho công ty.

Tháng 12/ 2000 đã có các cuộc bạo loạn chống lại công ty và các kế hoạch của họ để khai khoáng ở trong vùng, trong đó cảnh sát đã giết chết 2 người.

Các tổ chức nhân quyền tin rằng Norsk-Hydro đã đồng loã trong việc giết người bởi vì cảnh sát đã ép dân địa phương ký bán đất, cơ bản họ đã trở thành tổ chức đánh thuê không chính thức của công ty.

Nếu công ty đồng loã, nó vi phạm các nguyên tắc một và hai của Hiệp ước Toàn cầu (Global Compact) của Liên Hiệp Quốc.

Nguyên tắc một của Hiệp ước nói rằng các công ty đồng ý “hỗ trợ và tôn trọng sự bảo vệ các quyền con người quốc tế trong phạm vi ảnh hưởng của họ”.

Nguyên tắc hai đòi hỏi các công ty “đảm bảo các công ty của riêng mình không đồng loã trong các vụ lạm dụng các quyền con người”.

Những cáo buộc này chỉ ra vấn đề lớn hơn về các công ty xuyên quốc gia lớn tương tác ra sao với dân địa phương trong đòi hỏi của chúng đối với nguồn lực tự nhiên và nguyên liệu.

Các cộng đồng địa phương không được coi là cần thiết nội tại cho đất nước – thay vào đó lại là sự bỏ rơi dân địa phương không cho họ tận dụng các nguồn lực mà họ sở hữu.

Bởi vì sự sao nhãng nhận thức này, các nhà đầu tư nước ngoài coi tình hình như tình huống do nghĩa vụ của họ đối với nền kinh tế toàn cầu (chẳng nhắc tới ví tiền của họ) mà họ khai thác các vùng này.

Trong nhiều trường hợp lời cam kết với các nền văn hoá bản địa không được cả công ty lẫn chính phủ tính đến, để người ta phải lưu ý đến các mối tương tác giữa các chính phủ và các công ty tương ứng.

Câu chuyện Haiti




Tiếp sau việc khám phá ra Bauxite năm 1943 ở Jamaica, các công ty đã ngó tới khả năng có bauxite tại các đảo khác ở Mỹ Latin.

Hè năm đó công ty Reynolds Metals đã tìm thấy bauxite in Haiti và tiến hành ký hợp đồng tô nhượng với chính phủ Haiti.

Giống hầu hết các hợp đồng giữa các công ty siêu quốc gia và các chính phủ các nước chậm phát triển, hợp đồng này rất thiên vị cho công ty.

Hợp đồng cho Reynolds “độc quyền ưu tiên tiến hành thăm dò và khai thác quặng bauxite và tất cả các quặng khác chứa hay có thể chứa nhôm,” với hầu như toàn bộ diện tích Haiti được quy định.

Thoả thuận kéo dài 60 năm sau khi ký, buộc chính phủ chấp nhận các điều khoản ở giai đoạn đầu của quá trình mặc cả mà có thể không còn thích hợp trong tương lai.

Yếu tố chính ở đằng sau sự chấp nhận các điều kiện này là sự thực rằng chính phủ Hoa Kỳ đã hỗ trợ cho đàm phán của Reynolds vì 2 lý do chủ yếu:

Cầu về nhôm đã tăng do Chiến tranh Thế giới II và, khi đó, chính phủ Mỹ đã thử phá thế độc quyền của Alcoa trong công nghiệp nhôm.

Cùng với cú “thúc” của chính phủ Hoa Kỳ, đã có các lý do khác để chính phủ Haiti tin rằng hợp đồng là tốt cho đất nước:

Hợp đồng có hứa về việc làm (cho dù công ty chỉ thuê công nhân không có kỹ năng và không có hứa hẹn gì về đào tạo các vị trí quản lý hay hành chính).

Haiti cũng nhận được một khoản royalty (tiền thuê mỏ) gắn với sản xuất bauxite – khi đó royalty là 30,5 cent/tấn.

Năm 1963 hợp đồng được đàm phán lại và royalty thực sự bị giảm xuống 20 cent/tấn!

Chính phủ cũng đã tin rằng công ty sẽ thêm vào cho cơ sở hạ tầng của đất nước.

Tất cả cái mà đất nước nhận được dưới dạng hạ tầng là một đoạn đường dài 8 dặm chỉ để chuyên chở alumina đã tinh luyện sang Hoa Kỳ - đường này ít có tác động đến toàn nền kinh tế.

Công ty cũng đã xây 1 nhà máy điện, cơ sở hạ tầng nước, và 1 bệnh viện chỉ để công ty và nhân viên của nó sử dụng.

Cùng với những “giám sát” này của chính phủ, đối với dân chúng cái lớn nhất mà chính phủ đã làm, là đi thoả thuận giúp ngăn chặn đình công, tạo ra một liên minh gây rối loạn để chặn ngay cả các hình thức sơ đẳng nhất của sự trao quyền cho lao động.

Cần lưu ý rằng số lao động do Reynolds sử dụng là nhỏ (khoảng 0,5%) so với phần còn lại của lực lượng lao động 45.000 người.

Loại thảo thuận này củng cố khái niệm về đồng loã xảy ra với cách cư xử của chính phủ, đặc biệt các chính phủ ở các nước đang phát triển, phụ thuộc vào công nghiệp hoá, và các công ty xuyên quốc gia không có trách nhiệm giải trình nào đối với công dân của các nước nơi chúng khai thác tài nguyên của họ.

Trích từ: "Bauxite and Aluminium: From A to Z”, của các tác giả Greg Zelder, Sebastian African, Raquel R. Pinderhughes, State University at San Fransisco, California, 2003



[1] Theo Wall Street Journal ngày 29.3.2009 và BBC ngày 30.3.2009.

[2] Cả hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ đều chọn phương pháp thải ướt bơm bùn đỏ lõng ra bãi thải vì “đỡ tốn kém hơn phương pháp thải khô, và thích hợp với các vùng có các thung lũng dễ tạo thành hồ chứa”.

[3] Lượng mưa trung bình nhiều năm ở Tây Nguyên là từ 2000 -2500 mm/năm, tập trung trong 3 đến 4 tháng.

[4] Tôi đã gửi đến Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tài liệu “Bauxite and Aluminium: From A to Z”, của các tác giả Greg Zelder, Sebastian African, Raquel R. Pinderhughes, State University at San Fransisco, California, 2003, trong đó có phần trình bày các tác hại đến môi trường và xã hội, với các dẫn chứng ở Ấn Độ và Haiti.


Wednesday April 8, 2009 - 06:20pm (PDT) Permanent Link | 0 Comments

Add vuquang21 to your personalized My Yahoo! page:

Add to My Yahoo!RSS About My Yahoo! & RSS
1 - 5 of 85 First | < Prev | Next > | Last

HIGHLIGHTED POSTS