Dân tộc Việt Nam đã đạt được một thắng lợi lớn trước nguy cơ tàn phá Tây Nguyên.--> Click here Reply
Xây dựng dân chủ, Bảo toàn lãnh thổ, Canh tân đất nước. Xin mời đọc thêm tại: http://hoangcodinh.multiply.com
Căn cứ theo Điều Lệ 76, Phần 8
của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982
Liên quan đến khu vực Bắc Biển Đông
Căn cứ theo Điều Lệ 76, Phần 8
của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982
Liên quan đến khu vực Bắc Biển Đông
1. Dẫn nhập
Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Việt Nam), một trong những quốc gia duyên hải mà bờ biển mở ra Biển Đông, có khoảng 3 260 cây số dọc dài theo biển và có chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như trên hơn 3000 hòn đảo và mảnh đảo bao phủ một phần rộng lớn của Biển Đông. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo thứ tự, nằm ở phiá bắc và ở phiá đông-nam của Biển Đông. Việt Nam cho rằng có đủ căn bản để thực thi chủ quyền, để áp dụng luật pháp quốc gia và quyền hạn xử lý tại các vùng lãnh hải và thềm lục địa của Việt nam, căn cứ theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982).
Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (“Việt Nam”) đã ký kết UNCLOS 1982 vào ngày 10 tháng 12 năm 1982 và đã phê chuẩn công ước này vào ngày 23 tháng 6 năm 1994
Chiếu theo các điều khoản của UNCLOS 1982 và sự sắp đặt của thiên nhiên, cũng như những đặc tính của bờ biển và thềm lục địa của mình, Việt Nam quan niệm có đủ căn bản để xác minh quyền mở rộng thềm lục địa vượt đến 200 hải lý (hl) kể từ Đường Cơ Bản, điểm khởi đầu để đo lường bề rộng của lãnh hải thuộc về nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Căn cứ vào Phần 3 thuộc Phụ Chương I của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban, Đệ Trình này là một phần của đệ trình mô tả giới tuyến tận cùng của một phần thuộc về thềm lục địa, vượt đến 200 hl, bắt đầu từ Đường Cơ Bản, điểm khởi đầu để đo lường bề rộng của lãnh hải thuộc về nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đệ Trình này đề cập đến thềm lục địa mở rộng của Việt Nam: Bắc Phần (VNM-N) thuộc về Việt Nam.
Đệ Trình của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về thềm lục địa mở rộng đã được soạn thảo bằng cách sử dụng những dữ liệu thâu nhập từ những nghiên cứu chuyên môn vào năm 2007, 2008 và những dữ liệu có tính chất công cộng, gồm các dữ liệu về độ sâu, từ lực, trọng lực và địa chấn.
Đệ Trình về thềm lục địa mở rộng của Việt Nam - Bắc Phần (VNM-N) này có liên quan đến những vùng như sau:
- Đường biên về phiá bắc là đường cách đều giữa đường cơ bản lãnh hải thuộc về Việt Nam và đường cơ bản lãnh hải thuộc về Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa,
- Đường biên về phiá đông và về phiá nam là những giới tuyến tận cùng của thềm lục địa mở rộng, như đã được quy định trong Đệ Trình này chiếu theo Điều Lệ 76 (8) của UNCLOS 1982,
- Đường biên về phiá tây là giới hạn 200 hải lý (hl) kể từ Đường Cơ Bản, điểm khởi đầu để đo lường bề rộng của lãnh hải thuộc về nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
2. Những điều khoản đặc biệt của Điều Lệ 76 được sử dụng để dẫn chứng
Những giới tuyến tận cùng được mô tả trong Đệ Trình này có căn cứ ở các điều khoản thuộc Phần 1, 4, 5 và 7 của Điều Lệ 76.
3. Thành viên của Uỷ Ban đã cố vấn trong việc soạn thảo Đệ Trình này
Không một thành viên nào thuộc Uỷ Ban Quy Hạn Thềm Lục Địa Mở Rộng (Uỷ Ban) đã hỗ trợ Việt Nam để soạn thảo Đệ Trình này.
4. Không có tranh chấp
Chiếu theo Phần 2 (a) thuộc Phụ Chương I của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban, Việt Nam cần thông báo cho Uỷ Ban biết rằng hiện nay có một đồng thuận chung cho rằng vẫn tồn tại những chồng chéo có liên quan đến quyền lợi của các quốc gia duyên hải láng giềng về các vùng thuộc thềm lục địa mở rộng, đề tài được bàn đến trong Đệ Trình này. Tuy nhiên, căn cứ vào các điều khoản của UNCLOS 1982, Việt Nam quan niệm rằng không có vấn đề tranh chấp nào liên quan đến khu vực thềm lục địa mở rộng được bàn đến trong Đệ Trình này.
Hơn nữa, Việt Nam muốn bảo đảm cùng Uỷ Ban rằng, chiếu theo Điều Lệ 76 (10) của UNCLOS 1982, Điều Lệ 9 thuộc Phụ Chương II của UNCLOS 1982, Quy Định 46 và Phụ Chương I của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban, Đệ Trình này sẽ không gây tổn thương đến những đề tài liên quan đến việc phân định lãnh hải giữa Việt Nam và các quốc gia duyên hải láng giềng.
Việt Nam đã có những cố gắng để bảo đảm rằng sẽ không có sự phản đối đến từ các Quốc gia duyên hải láng giềng khác.
5.2 Mô tả chi tiết về những giới tuyến tận thuộc thềm lục địa mở rộng của Việt Nam : Bắc Phần (VNM-N)
Việt Nam đã phác hoạ những giới tuyến tận cùng thuộc thềm lục địa mở rộng của Việt Nam Bắc Phần (VNH-N) bằng cách áp dụng hai phương thức : Công thức 1% độ dày của trầm thích (công thức Gardiner) và Nguyên tắc “Chân của Bờ triền” (Foot Of the Slop – FOS) + 60 hl (Công thức Hedberg)
Phù hợp với hai tiêu chuẩn này, 45 điểm cố định đã được thiết lập và phác hoạ những giới tuyến tận cùng thuộc thềm lục địa mở rộng của Việt Nam : Bắc Phần (VNH-N). Những giới tuyến tận cùng được mô tả trong Hình 1.
| |
| Hình 1: Ranh giới phía ngoài của thềm lục địa mở rộng Việt Nam: khu vực Miền Bắc (VNM – N) |
Danh sách các toạ độ địa lý của các điểm cố định để mô tả giới tuyến tận cùng của khu vực VNH-N và các chiều dài của những đường nối được liệt kê trong Bảng 1 (từ trang 6 trở đi).
6. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trong việc soạn thảo Đề Trình này
Đệ Trình này cùng với tất cả các bản đồ, con số, tài liệu đính kèm, phụ lục và dữ liệu đã được soạn thảo bởi một đội ngũ liên ngành, thuộc các cơ quan sau đây:
Bộ Ngoại giao
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bộ Khoa học và Kỹ thuật
Viện Địa vật lý và Địa chất dưới biển
Cục Nghiên cứu và Địa hình Việt Nam
Cục Nghiên cứu Thủy văn học và Địa hình, Hải quân Việt Nam
PETROVIETNAM
Cố vấn khoa học và kỹ thuật: Trung tâm Quốc gia Hải dương học, Southampton, Vương Quốc Anh
Nguồn: Submission to the Commision on the Limits of the continental shelf
pursuant to Article 76, Paragraph 8 of the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982
Partial Submission in Respect of Vietnam’s Extended Continental Shelf: North Area (VNM – N)
Part I – Executive Summary. April 2009.
Nguyễn Huy Đức chuyển ngữ
Gửi lên Uỷ Ban Quy Hạn Thềm Lục Địa Mở Rộng
Căn cứ theo Điều Lệ 76, Phần 8 của
Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982
Liên quan đến khu vực phía nam Biển Đông
Gửi lên Uỷ Ban Quy Hạn Thềm Lục Địa Mở Rộng
Căn cứ theo Điều Lệ 76, Phần 8 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982
Liên quan đến khu vực phía nam Biển Đông
Phần 1 : Dẫn nhập & tóm lược
1. Dẫn nhập
1.1 Đệ Trình này lên Uỷ Ban Quy Hạn Thềm Lục Địa Mở Rộng (“Uỷ Ban”) đã được soạn thảo chung và trong sự hợp tác giữa nước Mã Lai và nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (sẽ được gọi chung là “Hai Quốc Gia Duyên Hải”), căn cứ vào Điều Lệ 76 của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (“UNCLOS 1982”), chiếu theo các Nguyên tắc Khoa học và Kỹ thuật Chỉ đạo của Uỷ Ban Quy Hạn Thềm Lục Địa Mở Rộng (“CLCS/11/Add.1”) (“Nguyên Tắc Chỉ đạo”) và chiếu theo các Quy định về Thủ tục của Uỷ Ban (“Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban”), ngõ hầu phác thảo giới tuyến tận cùng của thềm lục địa mở rộng thuộc về hai nước.
1.2 Nước Mã Lai đã ký kết UNCLOS 1982 vào ngày 10 tháng 12 năm 1982 và đã phê chuẩn công ước này vào ngày 14 tháng 10 năm 1996. Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (“Việt Nam”) đã ký kết UNCLOS 1982 vào ngày 10 tháng 12 năm 1982 và đã phê chuẩn công ước này vào ngày 23 tháng 6 năm 1994
1.3 Chiếu theo Phần 3 thuộc Phụ Chương I của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban, Đệ Trình Chung này chỉ liên quan đến một phần của thềm lục địa mở rộng của Hai Quốc Gia Duyên Hải. Như sẽ được chỉ dẫn trong Sơ Đồ 1 và sẽ được mô tả trong đoạn 5.1, Đệ Trình này liên quan đến một khu vực hoàn toàn hướng về đất liền. Vùng này nằm ở vòng ngoài cùng, ở vùng cạnh biên, thuộc về bờ lề lục địa của Hai Quốc Gia Duyên Hải. (“Khu Vực Được Xác Định”). Dưới phương thức đơn phương hay song phương, Hai Quốc Gia Duyên Hải có thể nộp thêm những đệ trình có liên quan đến những khu vực khác.
2. Các điều khoản thuộc Điều Lệ 76 của UNCLOS 1982 được sử dụng để dẫn chứng
2.1 Các giới tuyến thuộc thềm lục địa mở rộng nằm trong Khu Vực Được Xác Định của Hai Quốc Gia Duyên Hải có căn bản trong điều khoản thuộc Điều Lệ 76 (4) và (5) của UNCLOS 1982.
3. Thành viên của Uỷ Ban đã cố vấn trong việc soạn thảo đệ trình chung này
3.1 Trong quá trình soạn thảo đệ trình này, Hai Quốc Gia Duyên Hải đã nhận được sự hỗ trợ của ông Abu Bakar Jaafar, thành viên Uỷ ban Quy hạn Thềm lục địa mở rộng (1997-Nay). Ngoài ra không có thêm tham vấn nào của thành viên khác thuộc Uỷ Ban.
4. Tranh chấp
4.1 Hai Quốc Gia Duyên Hải cần cho Uỷ Ban biết rằng hiện có một số tranh chấp chưa được giải quyết trong Khu Vực Được Xác Định thuộc Đệ Trình Chung này. Đệ Trình Chung này đã nghiên cứu điều khoản thuộc Điều Lệ 76 (10) của UNCLOS 1982, Điều Lệ 9 thuộc Phụ Chương II của UNCLOS 1982, Quy Định 46 của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban, và các Phần 1, 2 và 5 thuộc Phụ Chương I của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban.
4.2 Chiếu theo những điều khoản trên, Hai Quốc Gia Duyên Hải muốn bảo đảm cùng Uỷ Ban rằng, trong phạm vi chấp nhận được, Đệ Trình Chung này sẽ không gây tổn thương những đề tài liên quan đến việc phận định ranh giới giữa các Quốc gia có bờ biển đối mặt hay cận sát.
4.3 Hai Quốc Gia Duyên Hải đã có những cố gắng để bảo đảm rằng sẽ không có sự phản đối đến từ các Quốc gia duyên hải láng giềng khác. Hai Quốc Gia Duyên Hải xác nhận rằng Đệ Trình này phù hợp với Phần 5 (b) thuộc Phụ Chương I của Quy Định về Thủ Tục của Uỷ Ban.
5. Mô tả giới tuyến của thềm lục địa mở rộng trong Khu Vực Được Xác Định
5.1 Những giới tuyến đã được phác hoạ và giới hạn qua:
- Điểm giao tuyến của những vòng cung, cách Mã Lai 200 hải lý, là giới tuyến của Mã Lai và của Phi Luật Tân, về phiá Đông (Điểm A)
- Điểm giao tuyến của hai vòng cung hội tụ lại, cách Mã Lai 200 hải lý, là giới tuyến của Mã Lai , từ Điểm A về hướng Tây-Nam (Điểm B và C)
- Điểm giao tuyến cách Mã Lai 200 hải lý, là giới tuyến của Mã Lai và cũng là đường phân định được công nhận qua Hiệp ước giữa Chính phủ Mã lai và Chính phủ Cộng hoà Nam Dương về phân định thềm lục địa giữa hai Quốc gia năm 1969, về hướng Tây-Nam (Điểm D)
- Điểm 25, căn cứ theo Hiệp ước nêu trên, về hướng Tây-Bắc (Điểm E)
- Điểm 25, căn cứ theo Hiệp ước giữa Chính phủ Cộng Hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hoà Nam Dương về phân định thềm lục địa năm 2003, về hướng Tây-Bắc (Điểm F)
- Điểm giao tuyến căn cứ theo Hiệp ước (VN&ND) vừa nêu trên, về phiá Tây-Bắc (Điểm G)
- Và những vòng cung, cách Việt Nam 200 hải lý, là giới tuyến của Việt Nam, về phiá Đông-Bắc (Điểm H và I)
Những giới tuyến này bao gồm 810 điểm cố định và được liệt kê trong Bảng 1 (từ trang 6 trở đi).
6. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trong việc soạn thảo Đề Trình Chung này
6.1 Đệ Trình Chung này cùng với tất cả các bản đồ, con số, tài liệu đính kèm, phụ lục và dữ liệu đã được soạn thảo bởi các cơ quan nhà nước của Hai Quốc Gia Duyên Hải sau đây:
Các cơ quan thuộc Chính phủ Mã Lai
(a) Hội đồng An ninh Quốc gia trực thuộc Phủ Thủ tướng
(b) Bộ Ngoại giao
(c) Chưởng lý viện
(d) Cục Nghiên cứu và Địa hình
(e) Cục Khoáng sản và Địa chất
(f) Trung tâm Thủy văn học Quốc gia, thuộc Hải quân Hoàng gia Mã Lai
(g) Petroliam Nasional Berhad (PETRONAS)
Các cơ quan thuộc Chính phủ Cộng Hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(a) Bộ Ngoại giao
(b) Bộ Tài nguyên và Môi trường
(c) Bộ Khoa học và Kỹ thuật
(d) Viện Địa vật lý và Địa chất dưới biển
(f) Cục Nghiên cứu và Địa hình Việt Nam
(g) Cục Nghiên cứu Thủy văn học và Địa hình, Hải quân Việt Nam
(h) PETROVIETNAM
7. Sơ đồ và toạ độ
| |
| Sơ đồ 1: Khu vực được ấn định tại phần phía nam của Biển Nam Trung Hoa |
7.1 Sơ đồ 1 mô tả giới tuyến của thềm lục địa mở rộng trong Khu Vực Được Xác Định, đề tài của Đệ Trình Chung này. Những toạ độ địa lý của World Geodetic System 1984 (WGS84) về những giới tuyến của thềm lục địa mở rộng trong Khu Vực Được Xác Định, cũng như các những phương pháp tính toán được liệt kê trong Bảng 1 (từ trang 6).
| |
| Sơ đồ 2: Rìa mé ngoài của địa giới và khu vực được ấn định tại phần phía nam của Biển Nam Trung Hoa |
7.2 Sơ đồ 2 minh hoạ khu vực ở vòng ngoài cùng, thuộc bờ lề lục địa, được thiết lập để phụ lục cho Đệ Trình Chung này. Những toạ độ địa lý của WGS84 về các điểm cố định được dùng để thiết kế khu vực ở vòng ngoài cùng thuộc bờ lề lục địa được liệt kê trong Bảng 2 (từ trang 24 trở đi).
Nguồn: Join Submission to the Commision on the Limits of the Continental Shelf
pursuant to Article 76, Paragraph 8 of the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982
in respect of the southern part of the South China Sea
- Part I: Executive Summary
Malaysia & Socialist Republic of Vietnam – May 2009
Nguyễn Huy Đức chuyển ngữ
http://mldcvietnam.blogspot.com/2009/05/tai-lieu-e-trinh-cua-viet-nam-gui-len.html
Trong những ngày gần đây dư luận trong và ngoài nước quan tâm nhiều tới bản Kiến Nghị ký ngày 12/4/2009 do ba vị giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Thế Hùng và Phạm Toàn đề xuất, yêu cầu dự án khai thác bô-xit tại Tây Nguyên cần phải được đưa ra Quốc Hội để cứu xét trước khi tiến hành. Kiến nghị này đã được hưởng ứng bởi hàng trăm chuyên gia và đồng bào thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, ở trong và ngoài nước. Gần như chưa bao giờ có một sự đồng thuận rộng rãi như vậy từ trước tới nay. Vì tính chất đặc biệt quan trọng này mà bản Kiến Nghị Ngày 12/4 Yêu Cầu Quốc Hội Cứu Xét Về Dự Án Bô-xit Tây Nguyên đã làm lu mờ diễn tiến và kết quả của buổi Hội Thảo trước đó 3 ngày cũng liên hệ tới vấn đề này.
Vào ngày 9 tháng 4, 2009 một cuộc hội thảo quan trọng về việc khai thác bô-xit tại Tây Nguyên đã được diễn ra tại Hà Nội dưới sự chủ tọa của Phó Thủ Tướng CSVN Hoàng Trung Hải. Đây là buổi hội thảo hứa hẹn bởi Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 2, 2009 sau khi tuyên bố ”Dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là chính sách lớn của Việt Nam, và cương quyết cho tiến hành dự án…”.
Trong buổi Hội Thảo nêu trên 11 báo cáo và 23 ý kiến đã được trình bầy về các dự án bô-xit Tây Nguyên.
Quan điểm của phía Nhà Nước thì vẫn bám vào các nguyên tắc tổng quát mà không xét tới các yếu tố cụ thể liên hệ tới các dự án đang cần được xem xét, điển hình là phát biểu của Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công thương Nguyễn Mạnh Quân:
“Việt Nam có trữ lượng bô-xít lớn. Thời gian qua, tài nguyên này ngủ yên trong lòng đất và đã đến lúc chúng ta phải khai thác, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bô-xít được xác định là nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực, góp phần ổn định an ninh - chính trị trên địa bàn.”
Quan điểm này đã bị đả phá là hoàn toàn không đi đôi với thực tế qua các nhận định khoa học và cụ thể của các chuyên gia.
Kết luận, buổi hội thảo đã đi tới giải pháp đề nghị là:
“Chỉ nên thí điểm dự án Tân Rai (Lâm Đồng), tạm dừng triển khai dự án Nhân Cơ (Đăk Nông) để nghiên cứu, tổng kết rồi đi tới quyết định triển khai tiếp hay không.”
Bản chất của giải pháp đề nghị này ra sao, phải chăng đó chỉ là một luận điệu nhằm mục đích lừa mị, một kết luận có tính chất bàn xuông hay một bước lùi của các thành phần chủ trương dự án? Sau đây là vài tóm tắt về nội dung buổi Hội Thảo để có ý niệm rõ hơn về bản chất và giá trị của cuộc họp bàn này. Trước tiên, cần phải nhắc lại rằng:
1. Nguyên tắc hợp tác giữa CSVN và Trung Cộng trong dự án bô-xit Tây Nguyên đã được đặt ra từ hơn tám năm trước, vào tháng 12 năm 2001 giữa Giang Trạch Dân và Nông Đức Mạnh. Sau khi dự án chính thức tiến hành vào tháng 11 năm 2007, nguyên tắc hợp tác CSVN & Trung Cộng lại được xác định một lần nữa giữa Hồ Cẩm Đào và Nông Đức Mạnh vào tháng 6 năm 2008. Một tháng sau đó nhà máy đầu tiên của chương trình bô-xit Tây Nguyên chính thức khai trương bởi Hoàng Trung Hải tại Tân Rai, Lâm Đồng, tiếp theo là chương trình khai thác bô-xit tại Nhân Cơ, Dak Nông được tiến hành.
2. Vào hai ngày 22 và 23 tháng 10 cuộc hội thảo giữa các khoa học gia và các nhà văn hóa đã đưa nguy cơ khai thác bô-xit Tây Nguyên ra ánh sáng công luận. Những người lên tiếng phản đối đầu tiên việc khai thác bô-xit tại Tây Nguyên là các khoa học gia trong guồng máy ĐCSVN như TS Nguyễn Thành Sơn, Ông Nguyễn Trung, TS Nguyễn Đông Hải, Nhà văn Nguyên Ngọc, Tướng Võ Nguyên Giáp vv… Sau khi Nguyễn Tấn Dũng xác định dự án khai thác bô-xit tại Tây Nguyên là chính sách lớn của đảng CSVN thì làn sóng phản đối lan rộng qua thành phần đối kháng ở trong và ngoài nước, giới ký giả và cộng đồng dân báo (Blogger). Từ đó, nguy cơ bô-xit trở thành hiện thực, gần gụi với mọi người, tuy rằng đối với môi trường quốc nội vấn đề thông tin mới chỉ giới hạn trên mạng Internet.
3. Hầu hết các tổ chức đấu tranh cho dân chủ ở trong và ngoài nước đều có lên tiếng phản đối dự án khai thác bô-xit tại Tây Nguyên, trong số đó đảng Việt Tân hiện là tổ chức tham gia tích cực hơn cả trong việc báo động nguy cơ khai thác bô-xit tới đồng bào và dư luận quốc tế. Đảng viên Việt Tân đã tới các hiện trường Dak Nông và Lâm Đồng để ghi lại hình ảnh tiến hành của hai dự án và Đảng Việt Tân đã chính thức lên tiếng báo nguy vào ngày 20/3/2009. Ngoài ra, nhiều cán bộ Việt Tân cũng đã lên tiếng giải thích nguy cơ về bô-xit trên nhiều diễn đàn truyền thông bằng Việt ngữ và ngoại ngữ.
4. Trong khi dư luận đồng bào đặt nặng vào nguy cơ ô nhiễm môi trường và họa xâm lăng của Trung Cộng qua hàng ngàn nhân công từ Trung Quốc gửi qua Tây Nguyên thì một yếu tố thứ ba có thể ảnh hưởng tới tình trạng hợp tác giữa CSVN và Trung Cộng trong vụ bô-xit Tây Nguyên, có tính chất rất quan trọng, đó là tình trạng suy xụp của thị trường Alumina và kim loại Nhôm trên thế giới trong năm 2008 và thời gian kế tiếp.
Theo nguồn tin từ BBC thì:
”Tập đoàn Nhôm Trung Quốc (Chinalco), nhà đầu tư của dự án khai thác bauxite khổng lồ ở Tây Nguyên, vừa thông báo lợi nhuận năm 2008 giảm tới gần 100% so với một năm trước đó và chắc sẽ thua lỗ trong quý đầu 2009. Chinalco, cũng là công ty sản xuất nhôm lớn nhất Trung Quốc, cho hay sẽ cắt chi tiêu tới 34%, tương đương 1,9 tỷ đôla, trong năm nay vì nhu cầu nhôm thế giới giảm sút mạnh. Tân Chủ tịch Chinalco La Kiến Xuyên nói tại một cuộc họp báo tổ chức hôm thứ Hai 30/03 ở Thượng Hải rằng Chinalco "sẽ siết chặt các hợp đồng mua và sáp nhập tại các thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời hoãn các dự án kế hoạch để đối phó với khó khăn hiện thời". Nguyên nhân dẫn đến thua lỗ, theo tập đoàn này, là giá nhôm xuống quá thấp trên thị trường quốc tế. Ông La nói Chinalco đã giảm công suất tới 40% và sản lượng nhôm cũng giảm 24%.
5. Tình trạng kinh tế của Chinalco đã có âm hưởng trên lời tuyên bố của Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải: “Quy hoạch bô-xit được chuẩn bị trong điều kiện kinh tế thế giới, khu vực phát triển nhanh, nhu cầu nhôm tăng nhanh, do đó dự kiến sản lượng lớn quá tham vọng. Đến nay, do khủng hoảng, các ngành đều phải xem xét, điều chỉnh lại quy hoạch theo con số dự báo mới. Việc điều chỉnh quy hoạch là cần thiết. Nếu không điều chỉnh mà vẫn tiếp tục dự án thì sẽ không hiệu quả.”
Ông yêu cầu công ty TKV, trách nhiệm chươngtrình bô-xit Tây Nguyên, là phải: “Tính lại hiệu quả và cân đối tài chính của dự án. Khác với hai năm trước, bây giờ khi đồng vốn là cả một vấn đề, tập đoàn cần phải cân bằng, bố trí vốn cho từng giai đoạn đảm bảo hiệu quả kinh tế.”
Kết quả buổi Hội Thảo ngày 9/4/2009.
Buổi hội thảo đã đi tới giải pháp đề nghị là:
“ Chỉ nên thí điểm dự án Tân Rai (Lâm Đồng), tạm dừng triển khai dự án Nhân Cơ (Đăk Nông) để nghiên cứu, tổng kết rồi đi tới quyết định triển khai tiếp hay không.”
Lý do của đề nghị này được đại diện Nhà Nước nhấn mạnh vào khía cạnh kinh tế, vào tình trạng suy thái chung trên thế giới, nghĩa là không phải vì Nhà Nước vô trách nhiệm đối với nhu cầu bảo vệ môi trường sống của người dân và độc lập quốc gia. Trong khi đó Chinalco, công ty mẹ của dự án bô-xit Tây Nguyên đang có khó khăn kinh tế thực sự.
Trong tình huống này, có nhiều xác suất lời tuyên bố của Hoàng Trung Hải không phải chỉ là lời bàn xuông mà sẽ là bước lùi thực sự. Bước lùi này có tính chất giai đoạn hay vĩnh viễn sẽ tùy thuộc ở nỗ lực đấu tranh tiếp tục của người dân VN và cả tình hình thị trường Nhôm trên thế giới. Tuy nhiên,dầu cho thị trường có thuận lợi trở lại như cách đây 2 năm, thì theo các con số của TS. Nguyễn Văn Ban, nguyên Trưởng ban Dự án Nhôm của Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam chứng minh, dự án Tân Rai và Nhân Cơ sẽ không hiệu quả.
Ngoài ra, trong buổi hội thảo, và từ nhiều tháng qua, một số vấn đề căn bản đã được nêu lên để phản đối dự án này củaNhà Nước : Quốc phòng, xâm lấn trá hình qua việc nhập nội hàng ngàn nhân công Trung Quốc, hủy diệt nếp sống văn hóa địa phương và nhất là nguy cơ phá hoại và đe dọa môi sinh. Yếu tố sau cùng này đã được ghi nhận qua phát biểu của Hoàng Trung Hải trong phần đúc kết hội thảo, ông Hải yêu cầu:
- TKV phải thực hiện nghiêm túc quản lý khôi phục môi trường khai thác mỏ, giảm thiểu ảnh hưởng đến nông nghiệp, đảm bảo không lãng phí đất.
- Tập đoàn cũng cần lập thiết kế kỹ thuật cho hồ chứa bùn đỏ để thẩm định.
Thời gian 5 tháng qua cũng là cơ hội mà hầu hết các thành phần quần chúng từ trong tới ngoài đảng CSVN, quốc nội tới hải ngoại, nhất loạt lên tiếng phản đối việc khai thác bô-xit tại Tây Nguyên.
Căn cứ trên bản chất “nói một đàng, làm một nẻo” của CSVN, các cuộc tranh đấu của quần chúng cần phải tiếp diễn một cách kiên trì thì mới mong những điều hứa hẹn trở thành hiện thực và phải làm sao chấm dứt ngay cả phân nửa dự án tại Tân Rai dầu cho dưới danh nghĩa là “thí điểm”. Vì với hết cả dữ kiện cụ thể vô cùng thuyết phục đã được nêu lên, còn có gì để mà thí nghiệm. Chẳng lẽ phải tiếp tục tàn phá một phần quê hương và lỗ lã thêm vài trăm triệu Mỹ kim để cứu vãn cho thể diện (?) của chế độ? Kết quả “thí nghiệm” khai thác than bởi TNK, cũng có sự hợp tác của cả chục ngàn công nhân Trung Quốc từ hơn 20 năm qua, đã biến Quảng Ninh thành vùng “Quảng Ninh Đen” nghèo khổ không đủ sao mà nay còn toan biến các đồi trà xanh tại Lâm Đồng thành một vùng sa mạc Lâm Đồng Đỏ ?
Sự việc Nhà Nước CSVN phải thay đổi do sự đòi hỏi của quần chúng là điều không dễ nhưng không phải là chưa từng xẩy ra. Vụ đánh thuế 10% trên số tiền đồng bào hải ngoại gửi về nước hay cấm đoán người có vòng ngực nhỏ không được lái xe gắn máy đã phải dẹp bỏ nhanh chóng, xa hơn là sự đầu hàng của chính sách bao cấp, là những bằng chứng cụ thể.
Chúng ta nên coi kết quả của cuộc hội thảo 9/4/2009 như thắng lợi của 5 tháng tranh đấu của quần chúng trong và ngoài nước và cần tiếp tục nỗ lực để đảm bảo các hứa hẹn của CSVN phải thành hiện thực. Cuộc vận động cho kiến nghị ngày 12/4/2009 yêu cầu Quốc Hội cứu xét trước khi thi hành dự án khai thác bô-xit tại Tây Nguyên nói lên ít ra những điều sau đây: Thứ Nhất là mặc dầu có lời hứa hẹn của Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải trong buổi Hội Thảo ngày 9/4/2009 tạm ngưng khai thác bô-xit tại Nhân Cơ, người dân VN chưa thể nào tin ở những lời người CS nói mà cần phải nhìn rõ những gì người CS làm. Thứ Nhì là khi phải chấm dứt khai thác bô-xit tại Nhân Cơ (Đắc Nông) thì chẳng có lý do gì để thí nghiệm khai thác tiếp bô-xit tại Tân Rai (Lâm Đồng).
Việc cứu xét bởi Quốc Hội về vấn đề khai thác bô-xit tại Tây Nguyên cũng sẽ phải căn cứ trên các dữ kiện khoa học và kinh tế đã được toàn thể giới khoa học và chuyên gia nêu lên từ nhiều tháng qua, kết quả cũng sẽ chỉ là phải bảo vệ mầu xanh cho Tây Nguyên, duy trì canh nông và chăn nuôi để mỗi tấc đất thật sự là một tấc vàng chứ không biến phần đất quê hương này thành một sa mạc chết.
Hoàng Cơ Định
THÔNG BÁO VỀ THU THẬP CHỮ KÝ VÀ GỬI KIẾN NGHỊ VỤ BAUXITE | |
| Tập thể | |
|
|
|
|
THÔNG BÁO
Thưa quý Anh Chị,
Chúng tôi sẽ thông báo đến quý Anh Chị các diễn biến kế tiếp.
Chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây, lo lắng trước vận mệnh nước nhà về vụ khai thác bauxite ở Tây Nguyên, xin kính gửi quý cơ quan bản kiến nghị này.
Thưa quý cơ quan,
Thưa quý cơ quan,
Thưa quý cơ quan,
Thưa quý cơ quan,
Việt Nam, ngày 12 tháng 4 năm 2009
Thứ tự Họ và tên Ghi chú cần thiết Địa chỉ và địa chỉ email
02 GS TS Nguyễn Thế Hùng Trường Đại học Bách khoa, Đà Nẵng, Phó Tổng thư ký Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam TP Đà Nẵng
03 Phạm Toàn Dạy học, viết văn, dịch sách Hà Nội
04 GS TS Hoàng Tụy Nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam Hà Nội
09 GS TSKH Nguyễn Đăng Hưng GS thực thụ danh dự Trường Đại học Liège, Bỉ TP HCM
10 GS TS Nguyễn Văn Tuấn Supervisor Đại học Y khoa Australia, Viện Đại học New South Wales, Sydney, Australia Sydney NSW 2010
13 GS Lê Xuân Khoa Nguyên GS thỉnh giảng Trường cao học Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Johns Hopkins, Washington, DC California, U.S.A.
15 TS Nguyễn Quang A Chủ tịch Hội IDS Hà Nội
16 GS TS Nguyễn Quang Riệu Nguyên Giám đốc Nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp và Đài Thiên văn Paris Paris, France
17 GS TS Ngô Vĩnh Long Khoa Lịch sử
20 GS TS Phạm Xuân Yêm Nguyên Giám đốc Nghiên cứu CNRS và Đại học Pierre et Marie Curie, Paris, Pháp pxuanyem@gmail.com
22 GS TS Đinh Tiến Cường Giảng dạy toán học ở Đại học Pierre et Marie Curie, Paris, và thành viên của Institut Universitaire de France dinh@math.jussieu.fr
23 GS TS Đỗ Đăng Giu Giảng dạy vật lý ở Đại học Paris Sud; nguyên Giám đốc Nghiên cứu CNRS giu.dodang@gmail.com
24 GS TS Trịnh Xuân Thuận Chuyên gia ngành thiên văn, Đại học Virginia, Mỹ txt@virginia.edu
25 PGS TS Hoàng Dũng Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TP HCM TP HCM
29 Nhà báo Tống Văn Công Nguyên Tổng biên tập báo “Lao động” TP HCM
30 Kỹ sư Ngô Hoàng Long - Tư vấn kỹ thuật cầu đường, công trình ngầm
31 Nhà văn Võ Hồng Viết văn, dạy học, đã nghỉ hưu Nha Trang
33 Kỹ sư Phạm Duy Hiển LDDK “Vietsovpetro”, dịch sách Vũng Tàu
34 Kinh tế gia Vũ Giản Chuyên gia tư vấn kinh tế, tài chính, Bộ Kinh tế TS Genève, ThụySĩ
37 Mai Thái Lĩnh Nhà giáo, nhà nghiên cứu, cựu Phó Chủ tịch HĐND TP Đà Lạt ht.linh2008@gmail.com
39 PGS TS Đoàn Phan Tân Nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Việt Nam Hà Nội
40 Nhà thơ Trần Nhương Làm thơ, viết văn kiêm hội họa, Hội Nhà văn Việt Nam truongnhan_hnv@yahoo.com
41 Trần Lương Nghệ sĩ thị giác Hà Nội
42 TS Phạm Văn Đỉnh Chuyên ngành Vật lý khí quyển, Vật lý vi bụi, Ô nhiễm môi trường khí quyển Toulouse, Pháp
44 Trịnh Lữ Dịch giả Hà Nội
45 Nhà thơ Dương Tường Làm thơ, dịch sách Hà Nội
46 Nhà văn Phạm Đình Trọng Viết văn, ký giả TP HCM
49 Phan Phương Đông Nhà điêu khắc TP HCM
50 Ngô Thị Kim Cúc Viết báo, viết văn, Biên tập viên báo “Thanh niên” TP HCM TP HCM
51 Bùi Như Hương Nghiên cứu, phê bình mỹ thuật bnhuongvmt@gmail.com
52 TS Đặng Đình Thi Đang làm nghiên cứu sinh sau Tiến sĩ về kỹ thuật hàng không tại Học viện Công nghệ Virginia Tech., Hoa Kỳ Virginia, U.S.A.
53 Nguyễn Đức Hiệp Atmospheric Scientist (chuyên gia khí quyển) Department of Environment & Climate Change, NSW Lidcombe NSW, Australia
56 GS TS Nguyễn Trường Tiến Chủ tịch VSSMGE; Chủ tịch VGI;
57 Nguyễn Bá Chung Nghiên cứu văn học, dịch giả, Trường Đại học Massachusetts, Boston Massachusetts, USA Chung.Nguyen@umb.edu
59 PGS TS Quang Hà Trường Điện, Cơ khí và Hệ thống Cơ khí điện tử, Khoa công nghệ thông tin Viện Đại học Công nghệ Sydney, Australia Broadway NSW, Australia
62 Kỹ sư Nguyễn Đình Khoa Làm việc tại Vought Aircraft Industries, Texas, Hoa Kỳ Texas, U.S.A.
63 Nhà thơ Ý Nhi Nguyên Trưởng chi nhánh tại miền Nam NXB Hội nhà văn TP HCM
64 GS TS Vĩnh Sính Khoa Lịch sử và Cổ điển học Trường Đại học Alberta, Canada Alberta, Canada
65 Uông Đình Đức Nguyên cán bộ TCT Thép Việt Nam, hưu trí TP HCM
66 Nhà văn Bùi Ngọc Tấn Viết văn Hải Phòng
67 PGS TS Trần Nam Bình Viện Đại học New South Wales,
69 Trần Minh Thảo Công dân Việt Nam Lâm Đồng, Việt Nam
70 Nhà văn Trần Thị Trường Viết văn, làm báo, biên kịch sân khấu âm nhạc Hà Nội
73 Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo Làm thơ, viết báo, sáng tác nhạc Hà Nội
75 Vũ Thị Thư Nhi Biên tập viên TP HCM
76 Trần Tiến Dũng Làm thơ, viết báo TP HCM
77 Trịnh Thị Thu Thủy Nhân viên ngành du lịch đưa nhiều khách QT đi Tây Nguyên Hà Nội
78 Hà Dương Tường Điều hành trang mạng “Diễn đàn”; nguyên Giáo sư (professeur Emerite) Đại học công nghệ Compiègne Ivry,
79 Kỹ sư Trần Minh Khôi Kinh doanh tự do Berlin, CHLB Đức
80 GVC ThS Nguyễn Biên Cương Phó Chủ nhiệm Khoa Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa, Đà Nẵng Đà Nẵng
81 Nguyễn Ngọc Giao Dạy học, viết báo, điều hành trang mạng “Diễn đàn”; nguyên Giảng viên Université Denis Diderot (Paris VII) MAISONS ALFORT. France
82 Võ Thị Diệu Hằng Dạy học, viết văn; điều hành trang mạng “Vietsciences” Noisy le Grand, France
84 Lê Tinh Tiến Kế toán CPA PS Công ty Tư vấn 91 Woodlands Ave Sydney, Australia Sydney, Australia
86 PGS TS Phạm Quang Tuấn Chuyên ngành kỹ thuật hóa (chemical engineering)
87 TS Kỹ sư Nguyễn Văn Hảo Giám đốc dự án
89 TS Lê Đình Tuyên Chuyên ngành Vật liệu kiến thiết không gian (Structural Materials for Space Applications) The Aeronautics Space Co California, U.S.A.
90 Th.S Tô Thúy Nga Giảng viên Trường Đại học Bách khoa, Đà Nẵng. TP Đà Nẵng
92 Kỹ sư Phạm Danh Công ty công nghệ máy bay Vought Texas, U.S.A.
93 Kỹ sư Trương Cương
94 TS Trương Phước Trường GS danh dự
95 TS Hà Sĩ Phu Chuyên ngành sinh học Đà Lạt
97 Nguyễn Ninh Nghiên cứu viên ngành hoá học - vật lý các chất rắn tại CNRS, Pháp Loc Maria, France
98 Đỗ Bá Thành Giảng viên Đại học Quốc gia Hà nội; đang làm NCS tại Khoa Vật liệu khoa học và Kỹ thuật ứng dụng Đại học Michigan, H.H. Dow bldg, Hoa Kỳ Miami, U.S.A.
100 Kỹ sư Võ Minh Thế Dự án cao tốc Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây TP HCM
101 Vũ Văn Bách Dự án cao tốc Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây TP HCM hoan209@gmail.com
105 Nguyễn Kim Luân Rue du Hal, 81190 Bruxelles, Belgique nguyenkimluan56@yahoo.fr
106 Nguyễn Văn Thịnh Giáo viên nghỉ hưu Thừa Thiên-Huế
107 Nguyễn Văn Dũng Giáo viên nghỉ hưu Huế
108 Kỹ sư Nguyễn Anthony Công ty công nghệ máy bay Vought Texas, U.S.A.
109 Nguyễn Phạm Điền Nghiên cứu lịch sử Canberra, Australia
111 Kiến trúc sư Trần Thanh Vân Kiến trúc cảnh quan Hà Nội 112 Phạm Mạnh Kha Tiến sĩ Nông nghiệp,
113 Trần Đình Lôi Việt kiều tại Mỹ California, U.S.A.
116 Nhà báo Ngô Mai Phong Viết báo, ký giả Hạ Long
117 BS Võ Văn Cần Nguyên trưởng khoa Y học Hạt nhân, Bệnh Viện Chợ Rẫy BC,
119 Nguyễn Trung Thuần Dịch giả, biên soạn từ điển Hà Nội
120 Kỹ sư Nguyễn Kim Công ty công nghệ máy bay Vought Texas, U.S.A.
121 Kỹ sư Ngô Quốc Bảo Làm việc tại L-3 Communication IS, Waco, Texas Texas, U.S.A.
123 Nhà thơ Nguyễn Đỗ Làm thơ, dịch sách California, USA
124 TS Trương Văn Tân Senior Scientist Melbourne, Australia
126 Trần Đình Lôi Việt kiều tại Mỹ California, U.S.A.
128 PGS TS Lê Minh Thịnh Đại học Quốc gia Singapore Singapore
130 Kỹ sư Cao Thiện Phước Chuyên ngành công nghệ thông tin, Paris, Pháp ctphuoc@orange.fr
132 ThS Nguyễn Phạm Tú Minh Thiết kế trang trí hoa Drachten, Nederland
Xin lỗi và bổ sung: Do sơ suất kỹ thuật trong việc liên lạc giữa tôi và GS Nguyễn Huệ Chi, người chủ trì lên danh sách những người ký tên vào kiến nghị Bauxit, các vị có tên sau đây đã ký tên vào Kiến nghị nhưng chưa được đưa vào danh sách: 1/Nhà văn Vũ Thư Hiên, Paris 2/GSTS Nguyễn Mạnh Hùng (Nam Dao)
7/ VUONG TRAN, RAIA, AIPM 10/ Trần Xuân Nam TS ( Dr. Ing ) nguyên Chủ nhiệm Khoa VTĐ Đại học Bưu Điện 11/ TS. Giáp Văn Dương 12/ Vũ Như Tuấn, Tiến sĩ (Dr. Ing.) đang làm việc tại CHLB Đức 13/ Ngô Tam Anh
16/ Kỹ Sư Ngô Văn Chính (Cộng Hoà Séc) 17/ Trần Ngọc Tuấn nghề nghiệp nhà văn, nhà báo - Nad Lesním Divadlem 10/1117 - Praha 4 - Cộng Hoà Séc. Email: huexa1987@yahoo.com 18/ Bùi Đức Hào 19/ TS Nguyễn Thị Thuỷ Minh, Giảng viên Đại học Công nghệ Nanyang Singapore 21/ NGUYỄN GIA HẢO 22/ Trần Ngọc Dương, nhà văn
25/ Nguyễn Minh Quân, hiện tôi đang làm NCS chuyên ngành Toán Ứng Dụng, ĐH 26/ TS Hóa học Lê Viết Bình 27/ KIEU QUOC THU, HIEN LA GIAO VIEN DAY O TRUONG THPT XUAN KHANH, SON TAY, HA NOI 28/ Thanh Thao-nha tho, nha bao-Pho chu tich Hoi dong Tho Hoi nha van Viet Nam- dia chi email: 29/ Đỗ Quyên (Làm thơ, viết văn, làm báo - Canada) 30/ Nguyễn Tuấn Anh
32/ Phạm Thành, email: thanhnhandan@yahoo.com.vn 33/ 1 người dân bình thường. Hiện cư ngụ tại NINH THUẬN - VIỆT NAM.
38/ Ly Hoàng Ly, nghệ sĩ thị giác, TPHCM Email: lyhoangly07@yahoo.com
46/ GS.TS. Vũ Cao Đàm Nguyên viện trưởng Viện Quản lý Khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ Hà Nội
49/ GS TSKH Nguyễn Hữu Việt Hưng
55/ Lê Đức Ninh, tiến sĩ Vật Lý, hiện đang làm việc tại Viện nghiên cứu Max Planck, thành phố
62/ Phạm Anh Tuấn, sinh 1958, hiện là cán bộ thuộc ngành giao thông vận tải kiêm dịch giả tự do. Địa chỉ: Khu 7,2 ha, nhà N2, phòng 406, phường Vĩnh Phúc, Ba đình, Hà nội.
66/ Nguyễn Đăng Chiến
| |
| Chủ nhật ngày 19/4/2009 | |
Quay lại trang trước CÁC BÀI CÓ LIÊN QUAN :
| DƯ LUẬN CỰU CHIẾN BINH TP HỒ CHÍ MINH VỀ KHAI THÁC BAUXITE TÂY NGUYÊN |
| |
|