Yahoo! 360° News | Beta Feedback
Start your own Yahoo! 360° page

Close blog!--> Click here Reply

1 - 5 of 128 First | < Prev | Next > | Last

q Full Post View | List View

Be your self!

Các kiểu tử hình ngày xưa :(
Các kiểu tử hình ngày xưa :( magnify

Tòa án thời xưa của Việt Nam

- Chém ngang lưng: xử tử mấy tên lính trông coi quốc khố đã có sáng kiến ăn cắp vàng bằng cách dùng gỗ hương hình nong hậu môn ra để dấu vàng vào đó (khi quan coi kho vào kho vàng đều phải khỏa thân, không còn chỗ nào dấu vàng khả dĩ khác. Cách xử hình này tương đối nhân đạo nhất khi mà nạn nhân sẽ chết trong khoảng 10 phút thôi. Trong truyện tả khi bị chém ngang lưng, phạm nhân không chết ngay, mà hay tay còn đủ sức lê phần người trước "bơi bơi" một đoạn như hình con chuồn chuồn, trong khi thân sau vẫn nằm đó, ruột quấn mấy vòng quanh sân.

- Đai diêm vương: thi hành với một tên thái giám dám cả gan ăn cắp súng săn của vua. Trong phép tử hình này, nạn nhân bị mấy đao phủ dùng một cái đai da thắt chặt vào đầu, chỉ còn chừa lỗ hai mắt ra. Hai đao phủ sẽ lựa thế xiết chặt cái đai dần dần. Phạm nhân sẽ đau đớn vật vã trong vòng 1 tiếng trước khi mắt và óc phọt ra ngoài theo hai lỗ đã đặt trước của đai diêm vương.

- Tùng xẻo: theo lời của đao phủ thì phép này ngày càng trở nên khó thực hiện và mất đi nghệ thuật. Người đao phủ càng giỏi thì càng thẻo được nhiều miếng thịt của phạm nhân trước khi phạm nhân chết. Thời nhà Minh có đao phủ thẻo được đến hơn 3000 miếng thì phạm nhân mới chết. Đến gần cuối thời nhà Thanh, trong bối cảnh của truyện Đàn Hương Hình thì tay đao phủ bậc nhất cũa triều đình chỉ có thể thẻo đúng 500 miếng mà thôi. Có thể tưởng tượng được sự đau đớn của phạm nhân khi bị cắt đi từng miếng thịt, đến lúc chết thì thân thể hầu như đã cạn máu. Trong truyện, phạm nhân là một người can trường, bị hành quyết do dám âm mưu ám sát Viên Thế Khải. Anh ta không kêu tiếng nào để tỏ lòng dũng cảm, cho đến khi bị cắt đi của quý (do các quan lớn muốn phạm nhân phải kêu gào để thị chúng).

- Đàn hương hình: đây là hình phạt kinh hoàng nhất. Phạm nhân sẽ sống vật vã từ 5 ngày đến 2 tuần tuỳ theo yêu cầu của quan trên. Đao phủ sẽ dùng một thanh gỗ hương hình vót nhọn một đầu, nấu trong dầu mấy ngày để trơn tru bóng loáng và không thấm máu. Phạm nhân được bó chặt trong tấm da, để hở phần hậu môn. Thanh gổ sẽ được xuyên từ đó lên đến vai một cách khéo léo để không hủy hoại cơ quan nội tạng của phạm nhân. Phạm nhân chịu cơn đau đớn giày vò nhưng không thể chết được do đao phủ luôn đổ sâm vào miệng để duy trì sự sống của y. Hình phạt này được thực hiện cho một người dân dám nổi dậy giết mấy sĩ quan người Đức và phá đường tàu sắt chạy qua huyện Cao Mật.

-Dao rọc giấy: Đầu tiên buộc chặt nạn nhân vào ghế, dùng kẹp banh cái miệng của nạn nhân ra, sau đó lấy con dao dọc giấy, bẻ từng đoạn từng đoạn, đổ vào miệng nạn nhân, tất nhiên là nó còn vướng ở cuống cổ, làm sao đây? Đun một ấm nước sôi đổ vào ---> òng ọc òng ọc, máu từ miệng phun ra lóe tóe mà nạn nhân chưa chết ngay đâu!!!

-Tự lột da: Kiểu này ở Trung Á, Timur rất thích sử dụng, kẻ phạm tội bị chôn xuống đất, chỉ hở đầu ra, cạo sạch tóc, lấy bột làm thành một cái vòng trên đầu, rạch da đầu rồi đổ dầu sôi lên đó, ngập hết vòng bột. Dầu sôi sẽ theo vết rách trên da đầu từ từ thấm vào da, gây cho người bị hành hình ngứa ngáy, đau đớn khủng khiếp. Dầu thấm hết lại đổ, cứ thế khoảng 5h đồng hồ thì dầu tràn ngập hết dưới da, người bị hành hinh đau đơn cực độ, nhảy vọt lên khỏi hố, người thì ra nhưng bộ da ở lại, he he, kiểu này sau đó thường đi kèm với việc xát muối anh chàng tội nghiệp kia rùi phơi nắng, thêm hai ngày nữa mới chít.

-Bánh xe công lý: Kiểu này người Thổ rất khoái dùng, dùng một bánh xe to, buộc nạn nhân lên đó rùi xoáy, kiểu buộc dây sẽ khiến càng xoay, các khớp xương càng lệch khỏi vị trí, kéo hết cỡ thì kẻ khốn khổ kia sẽ bị gãy lần lượt từ xương tay đến xương chân, xương sống, xương sườn, đến khi gãy cổ thì chết.

-Nhục hình sám hối: Nạn nhân nổi tiếng nhất là William Wallace, tội nhân bị buộc vào cọc, buộc thừng vào hai chân, sau đó kéo căng ra, dùng rao rạch hai bên đùi, dùng tấm da tẩm muối đặt lên. Mỗi lần kéo căng ta thì vết dứt càng rộng, lại đắp thêm da tẩm muối, người bị hành hình sẽ đau đớn cực độ đến khi phải xưng tội. nếu vẫn chưa nhận tội thì dùng búa vồ đập hết các ống xương, chưa nhận thì dùng dao nhọn biến thành thái giám, còn chưa chịu nhận nữa thì đóng định vào gót chân, móc mắt, rút gân..v.v Cuối cùng là chặt đầu. Nghe nói xưa nay chỉ có môi Wallace là chịu nổi từ đầu chí cuối, kiểu này xài thời Trung Cổ ở châu Âu.

-Thả vào tổ kiến: Ở New Ghuine có loài kiến đỏ khổng lồ, mỗi con dài cỡ 1 phân, các phậm nhân giết người, hấp diêm bị hội đồng kết tội sẽ bị bôi mật ong, trói kiểu bánh tét rồi thả vào tổ kiến. Người chịu đựng dẻo dai nhất nghe nói là 3 ngày sau mới chết.

-Cù cho chết: Người da đỏ Trung Mỹ dùng kiểu này trước khi người châu Âu tới, trói nạn nhân vào cọc, buộc chặt hai chân, dùng lông công cù vào bàn chân cho phạm nhân cười đến tắc thở mà chết. Bên Tàu có Trình Giảo Kim cũng chết kiểu này, xem ra vui vẻ nhất.

-Các kiểu treo cổ:
-Loại cổ điển
: dùng thòng lọng, dây treo hay cái quái gì cũng được xiết cổ cho chết, quá bình thường.

-Treo gãy cổ: Thấy kiểu treo cổ kia mất mỹ quan quá, nạn nhân thường lè lưỡi, tím mặt sau khi chết, người Anh bèn phát minh kiểu mới, gút dây được thắt khéo sao cho vừa với kích thước cổ người bị xử tử, nạn nhân bị buộc thêm một bao cát dưới chân, đứng trên một hầm sập, khi hầm sập mở ra, người bị xử tử bị giật mạnh xuống dưới, gút thắt sẽ bẻ gẫy xương cổ nạn nhân, chết ít đau đớn hơn và cũng sạch sẽ hơn.

-Treo dứt đầu: Người Trung Đông du nhập kiểu treo gãy cổ, nhưng thấy không hoành tráng lắm, bèn thay dây thừng băng dây thép bén, nạn nhân bị giật một cái sẽ đứt đầu luôn, vừa gọn nhẹ vừa khủng bố. Saddam bị treo chết kiểu này.

Các kiểu xử bắn:

-Kiểu cổ điển: Một tiểu đội gồm 10 người được bắt thăm, mỗi người được phát một cây súng trường, trong đó có một cây lắp đạn giả, khi có hiệu lệnh thì bắn. Sau đó sĩ quan chỉ huy sẽ kiểm tra và cho 1 phát ân huệ( chết rồi cũng ân huệ 1 phát).


-Một chọi một
: Người Trung Quốc thấy kiểu cổ điển lích kích quá, đằng nào cũng bắn bể sọ, vậy thì chơi 1 phát tiết kiệm đạn hơn. Phạm nhân bị trói quỳ dưới đất, người thi hành án đứng đằng sau, dí súng vàu đầu, khi có lệnh bắn luôn, thường thì dùng AK, nhưng đôi khi thuận tiện thì người ta dùng súng ngắn. Kiểu này được áp dụng trong thời kỳ Cách mạng văn hóa và đến nay vẫn áp dụng ở một số nơi.

-Bắn bằng đại liên: Thừa kế kinh nghiệm của bậc tiền bối Đức, người Thái Lan chơi sang hơn người TRung Quốc nhiều, xài hẳn một khẩu M60, trường bắn hẹp, phạm nhân bị trói trước mũi súng, cò súng được buộc dây,khi có lệnh thì người xử quyết ngồi trong nhà kéo dây, súng bắn hết đạn mới ngừng. ( chắc phạm nhân sau đó biến thành cái rổ luôn).

Xử tử tập thể:
-Chôn sống
: Ví dụ nổi tiếng nhất là Bạch Khởi chôn sống 40 vạn quân Triệu ở Trường Bình ,Hạng Vũ chôn sống 20 vạn quân Tần ở Hàm Cốc, chắc cũng không có gì bình luận thêm. Có thể kể thêm vụ Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn nho ...

-Hơi ngạt: Phát xít Đức chiếm ngôi quán quân về món này, người Do Thái, tù binh, kẻ chống đối, du kích, tội phạm hình sự đều xử ráo. Nạn nhân được cho biết là sẽ đi tắm, cởi hết đồ vào một căn phòng lớn, thiết kế kiểu phòng kín( lột hết đồ để sau này cho người Đức xài chứ, đem chôn uổng tiền). Nhưng thay cho nước tắm là hơi ngạt, chết chồng đống lên nhau, mỗi mẻ giết được chừng trăm mạng, đem xác đi thiêu, mỡ nấu xà phòng, răng vàng thì bẻ ra tích trữ, kiếm được khối tiền.

-Cuốc chết người: Cái anh Khơ me đỏ xem ra chiếm huy chương vàng môn cuốc chết người, thằng nào lười lao động cứ lôi ra một góc, cuốc cho một cái lên đầu cho tỉnh cái đầu óc, chữa bệnh lười biếng, sơ sơ cuốc chết triệu rưởi mạng. Nhưng thấy cuốc vẫn chưa đã, anh Khơ Me đỏ còn chơi trò lấy lá dứa cứa họng, nhét lựu đạn vào chỗ kín phụ nữ, đóng đinh vào sọ..v.v

-Rỏ nước: đặt tội nhân nằm ngửa, khóa tay chân, khóa ót, khóa đầu lại ko cho quay đi đâu hết, cách mặt khoảng 10 cm có để 1 cái ống nằm ngang, cho nước chảy vào ống đó, rỏ từng giọt lỏng tỏng lên giữa trán. 1 lát sau tội nhân phát điên, 1 lát sau nữa muốn tự sát, 1 lát nữa cắn lưỡi chảy máu, nhịn thở.

1, Ngũ mã phanh thây: 5 con ngựa, buộc vào 2 tay, hai chân, và đầu, 5 người cưỡi ngựa sẽ đánh cho ngựa chạy ra 5 hường. Và...roạt, người tử tù bị phanh làm 6 mảnh. Nạn nhân khá nổi tiếng của cách này là Tô Tần bên tàu.

2, Treo ngược: Cách này khá phổ biến thời Edo bên Nhật, nạn nhân bị treo ngược lên cây, phơi nắng, không ăn uống, ai khỏe độ vài ngày sẽ phun máu từ mắt mũi, tai mà chết.

3, Kéo ngựa: Cách này của người Mông Cổ, dùng trừng phạt những kẻ trộm cắp và phản bội bộ lạc. Nạn nhân bị cột hai tay vào một đoạn dây dài được nối với một con ngựa, một kỵ sỹ sẽ điều khiển ngựa kéo lê nan nhân trên một đoạn đường toàn đá sỏi cho tới chết.

4, Mổ bụng moi tim, chặt đầu: Đây là cách mà người Maya hành hình kể thù. Nạn nhân bị đưa lên một bàn đá, có 4 người giữ tay chân, đao phủ dùng một con dao sắc nhọn, rạch ngực nạn nhân, moi quả tim còn đang đạp của họ, nạn nhân chưa chết ngay, sau đó đao phủ chặt đầu, đem cắm vô cọc, còn cơ thể thì vứt cho thú hoang ăn thịt.

5, Thiêu sống: Cách này tồn tại vào khoảng giữa thế ky 12-17 ở châu Âu, nạn nhân bị buộc vô cọc hình chữ thập, bên dưới chất củi lửa và họ bị thiêu cho đến chết

6, Bỏ đói: Cách nay do một số quản ngục nhà Thanh nghĩ ra, nạn nhân bị nhốt trong một cái lồng nhỏ bằng cái chuồng chó. Bị bỏ đói, nhưng không theo cách thường, ngày nào bọn quản nguc cũng đem một bát cơm với thức ăn thơm lừng trước mặt tử tù, nạn nhân có thể thò tay ra khỏi lồng, nhưng họ không thể với tới bát cơm đó, nhiều nạn nhân đã chết vì bị điên cuồng do không chịu nổi sự đau đớn về tinh thần nên đã tự sát.
Sưu
Tuesday June 16, 2009 - 04:24pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments
Nhà ngoại cảm số 1 Viẹt Nam Phan Thị Bích Hằng, xoắn thật :-s
Nhà ngoại cảm số 1 Viẹt Nam Phan Thị Bích Hằng, xoắn thật :-s magnify
Phan Thị Bích Hằng sinh ra và lớn lên ở một ngôi làng nghèo thuộc xã Khánh Hòa, Yên Khánh,

Ninh Bình.

Năm 1990, khi 17 tuổi, vừa thi đại học về, Hằng cùng một cô bạn gái đang đi trên đường

bỗng có một con chó nhảy xổ ra cắn.

Hằng bị cắn vào chân trái, cô bạn gái bị cắn vào tay trái.

Vài ngày sau khi bị chó cắn, Hằng nhận được giấy báo đỗ đại học.

Khoảng một tháng sau, cô bạn đột nhiên không nói được nữa, hàm răng cứng lại.

Nghĩ là bị đau răng, Hằng đưa cô bạn đi khám. Bác sĩ kiểm tra và khẳng định không phải do

đau răng. Sau khi khám xét, bác sĩ bảo bạn gái của Hằng có triệu chứng của người bị bệnh

dại.Tưởng như đất dưới chân sụt xuống, tử thần đã nắm tay mình dắt đi, Hằng nói như người

mất hồn: “Đúng như vậy. Cháu và cô bạn đều bị một con chó cắn”.

Sau hôm đó, Hằng cũng hôn mê bất tỉnh. Cô bạn thân thì đã qua đời.

Gia đình đưa cô đi chữa trị nhiều nơi, song các bác sĩ, thầy lang đều lắc đầu, bởi bệnh này từ

xưa đến nay không ai chữa khỏi.

Khi đến nhà một ông thầy lang theo Thiên Chúa giáo, ông xem xét rồi nói một câu an ủi:

“Chúa lòng lành sẽ che chở cho con”.

Sau đó, ông bảo người con trai ra nghĩa địa lấy một mảnh ván mà người ta vừa bốc lên hôm

trước, rồi bào chế với vài vị thuốc.

Để giành giật giữa sự sống và cái chết, gia đình Hằng liền cho cô uống ngay vị thuốc khủng

khiếp này.

Sau khi uống thuốc, ông thầy lang bảo với bố mẹ Hằng: Sau ba tiếng đồng hồ cháu sẽ cảm

thấy nóng khắp người, lên cơn sốt mê man, nói sảng, thậm chí lên cơn điên cắn xé.

Nếu ba ngày sau cháu hết cơn thì cháu sống được còn nếu lên cơn trở lại thì cháu không sống

được nữa. Tôi rất muốn cứu cháu nhưng khả năng của tôi chỉ có vậy.

Đúng như lời ông thầy lang nói, 9h tối Hằng lên cơn cắn xé điên cuồng, đến 11h đêm mới

thiếp đi.

Ngày thứ nhất, ngày thứ hai không thấy triệu chứng gì. Ngày thứ ba, khi cùng người anh trai

của cô bạn gái đã mất ra mộ thắp hương thì đột nhiên Hằng cảm thấy có một luồng khí lạnh

chạy dọc sống lưng.

Hằng liền nói: “Anh đưa nhanh em về, em sắp lên cơn điên rồi”. Từ đấy, Hằng không còn biết

gì nữa.

Đến 1h sáng hôm sau, gia đình không còn hy vọng bởi Hằng đã hoàn toàn tắt thở.

Bình thường, những người trẻ tuổi như Hằng ở quê được khâm liệm rất nhanh rồi đem chôn,

không tổ chức lễ tang, kèn trống.

Thế nhưng, có một ông cụ dạy chữ nho ở làng rất giỏi tử vi vào nhà Hằng, sau một hồi tính

toán, ông bảo: “Thứ nhất, chưa qua giờ Thìn không được khâm liệm cháu; thứ hai, cứ để nó

nằm như thế, không được thắp hương”.

Lúc đó, một ông bác sĩ nói: “Tốt nhất đậy mặt cháu lại, để gia đình đi chuẩn bị cho cháu, tại

sao cụ lại nói vậy”.

Ông cụ đó nói tiếp: “Các anh thì có cả một nền y học hiện đại, còn tôi chỉ là tàn hương nước

thánh, nhưng tôi khẳng định nó không chết”.

Nghe cụ già và bác sĩ tranh cãi, gia đình Hằng rất hoang mang, không biết xử trí thế nào.

Thế nhưng, ai đi mua gỗ đóng quan tài cứ đi, ai ngồi chờ xem lời ông cụ linh ứng thế nào thì

cứ chờ.

Hồi khắc khoải chờ chết, Hằng có hỏi bố (bố Hằng là quân nhân): “Vì sao những vị lãnh đạo

khi chết người ta lại bắn bảy loạt đại bác”, bố Hằng trả lời: “Để linh hồn mau siêu thoát”.

Nghe bố nói vậy, Hằng liền bảo: “Khi con mất bố bắn cho con bảy phát đạn để con mau siêu

thoát trở về với gia đình mình”.

7h sáng hôm đó bố Hằng mới về đến nhà. Trông thấy đứa con gái tội nghiệp tắt thở nằm đó

ông không kìm được nước mắt.

Nhớ lời hứa với đứa con gái, ông lôi súng ngắn ra bắn. Tiếng súng nổ làm Hằng bật tỉnh dậy

và phản xạ đầu tiên là lao ra phía tiếng súng gọi “Bố ơi!”.

Hằng đạp phải những chiếc vỏ đạn và ngã rất mạnh xuống sân. Mọi người liền khiêng cô vào

trong nhà.

Sau khoảng nửa tiếng, Hằng tỉnh lại hoàn toàn. Khi đó, một cảm giác rất kỳ lạ đến với cô.

Thân thể dường như mất trọng lượng, như đang bay và nhìn mọi người như ở một thế giới

khác.

Theo lời Hằng, trong thời gian 30 phút bất tỉnh do trượt ngã đập đầu xuống sân, cô thấy bà

nội và bà ngoại (cả hai đều đã mất) gọi cô.

Hằng thấy mình đang đi qua một cây cầu bắc qua con sông lớn với mây mờ sương khói bao

phủ.

Phía bên kia cầu, bà ngoại cùng rất nhiều người đứng vẫy tay, bà nội thì đứng bên bờ này

kéo lại.

Cố vùng vẫy, Hằng tuột khỏi tay bà. Đúng lúc đó thì tiếng súng làm Hằng giật mình tỉnh dậy.

Mọi người đều vui mừng khôn xiết, coi việc Hằng sống lại là chuyện thần kỳ.

Vài tháng sau, khi khỏe mạnh hẳn, Hằng thường đi lung tung, không có định hướng.

Điều kỳ dị là nhìn mặt mọi người Hằng có thể biết được họ còn sống lâu hay sắp chết.

Một số người đang khỏe mạnh song lại cứ như có ai đó nói với cô rằng họ sắp chết, thế là cô

tìm họ nói cho họ biết rằng họ sắp chết.

Không ít lần cô bị ăn đòn vì... độc mồm, độc miệng. Ngày đó, trong làng có ông Vũ Văn Trác,

50 tuổi, rất khỏe mạnh và quý mến Hằng. Ngày Hằng còn bé, có cái bánh, cái kẹo ông đều

dành cho.

Một hôm, gặp ông Trác đi làm đồng về, Hằng bảo: “Ông ơi, chắc là ông sắp mất rồi. Ông đừng

đi làm nữa cho khổ!”.

Nghe Hằng nói thế, ông Trác cầm cái roi trâu quát: “À, tưởng là con cô giáo mà tao không

dám đánh à? Bố mày có là đại tá thì hôm nay tao cũng phải cho mày một trận”.

Khi ông Trác cầm roi trâu đuổi, Hằng còn vừa chạy vừa quay lại bảo: “Ông sẽ chết thật mà”.

Ông Trác tức sôi máu đánh Hằng một trận, cô đau phát khóc, nhưng vừa khóc vừa khẳng

định vài ngày nữa ông sẽ chết.

Hôm ấy những người chứng kiến được bữa cười ra nước mắt. Nhưng rồi, vài ngày sau loa

truyền thanh xã thông báo ông Trác chết thật. Thông tin ấy làm cả làng sợ hãi.

Tiếp sau ông Trác là ông Bùi Văn Trai, Chủ nhiệm HTX thêu xuất khẩu xã Khánh Hòa.

Ông Trai là bạn rất thân của mẹ Hằng. Hôm đó, giữa hội trường UBND xã, rất nhiều người

chứng kiến, Hằng nói: “Đến tháng giêng là chú chết đấy, có bao nhiêu hợp đồng xuất khẩu

chú bàn giao hết đi, nếu không đến lúc ấy lại không kịp”.

Ông Trai bực mình nói với bố mẹ Hằng rằng: “Anh chị phải về dạy bảo con, chứ cứ để nó

huyên thuyên như thế là không được”.

Không ngờ, đầu tháng giêng ông Trai chết thật. Sau chuyện đó cả làng bảo Hằng bị ma ám,

nói ai chết là người ấy chết. Người ta cứ nhìn thấy Hằng là tránh xa.

Mọi người trong gia đình Hằng đều đau khổ. Mẹ Hằng là giáo viên dạy giỏi nhiều năm, các

phụ huynh đều rất tin tưởng khi con cái họ học lớp bà chủ nhiệm, nhưng biết chuyện của

Hằng thì đều xin cho con chuyển lớp.

Hằng ra sức thuyết phục mọi người rằng cô không bị thần kinh, những chuyện đó là do cô

nhìn thấy, nhưng không ai tin.

Cha mẹ Hằng đưa cô đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác khám thần kinh, rồi đưa đi gặp

hết “cậu nọ, cô kia” cúng bái.

Mặc dù khi đó Hằng có khả năng phán đoán được tình trạng sức khỏe, thậm chí cả suy nghĩ

của người khác, song Hằng đau khổ đến nỗi chỉ mong quên hết khả năng ấy đi.

Theo lời kể của Hằng, một ngày, trong cơn tuyệt vọng, Hằng ao ước được "nhìn thấy" bà nội

và bà ngoại, những người cô rất yêu quý.

Thế rồi, kỳ lạ thay, vào ngày giỗ bà nội, Hằng “nhìn thấy” bà nội (bà chết khi Hằng 10 tuổi)

về, bế theo một đứa trẻ và dắt theo một đứa nữa.

Hằng nói chuyện với bà, rồi kể cho mọi người nghe. Ông nội nghe Hằng nói liền kể rằng đó là

hai đứa con của ông đã mất lúc tám tháng và ba tuổi.

Lúc này, mọi người mới kinh hoàng nhận ra rằng, Hằng có khả năng đặc biệt.

Ngôi làng Hằng đang sống có ngôi chùa Dầu rất cổ. Khi nhà Trần đánh tan Chiêm Thành, bà

Huyền Trân Công Chúa không về Thăng Long mà vào tu ở ngôi chùa này.


Sau này gia tộc họ Trần cũng về đây ở, rồi chết đi thì chôn luôn ở quanh chùa.

Một lần, Hằng vào nhà ông chú ruột chơi rồi bảo rằng, trong vườn nhà chú có bóng người.

Nhà chú Hằng ai cũng mắc bệnh kỳ lạ, teo một bên chân, ngoẹo một bên đầu về bên phải,

nên ông rất tin lời Hằng nói.

Thế là hai chú cháu đào bới thử mảnh vườn. Không ngờ thấy một lớp ngói đã mục, rồi đến

một lớp đất đỏ.

Gạt lớp đất đỏ ra thì thấy lớp quách bằng hợp chất gồm vỏ hến, vôi, mật. Phá lớp này ra thì

thấy cỗ quan tài chạm trổ rất đẹp bằng gỗ ngọc am.

Bật nắp quan tài thấy xác ướp người đàn ông. Sau này, các nhà sử học xác định ngôi mộ có

tuổi 700 năm.

Chính gia đình Hằng cũng để thất lạc mộ cụ bốn đời. Nhiều lần, bố Hằng nhờ đồng đội về đào

bới mà không thấy.

Đúng ngày giỗ cụ, Hằng thử đi tìm. Không ngờ, Hằng “nhìn” thấy mộ cụ nằm trên đường đi.

Hằng liền rủ mấy người anh ra đường đào.

Mấy anh bảo vệ xã nhìn thấy thì bảo: “Chết dở thật. Con ông bộ đội rỗi việc đi phá đường”.

Hằng khẳng định dưới lòng đường có mộ thì mấy anh bảo vệ bảo: “Thế thì đem cuốc xẻng ra

đào thử xem con dở hơi này nó nói có đúng không!”.

Khi đào sâu gần 2m thì xuất hiện một tấm gỗ có khảm chữ Hán. Hằng liền đem rửa mảnh gỗ

đi rồi mang cho ông nội đã 80 tuổi đọc.

Ông nội Hằng đọc thấy hai dòng chữ ở hai mặt tấm gỗ là “Âm thủy quy nguyên” và “Vinh quy

bái tổ” thì lăn ra khóc.

Bao nhiêu năm nay đã nhiều đêm ông không nhắm mắt được vì đã để thất lạc mộ tổ.

Lúc này, mọi người không còn nghi ngờ gì về khả năng đặc biệt của Hằng nữa.

Nhưng bố Hằng, là một cán bộ được rèn luyện trong môi trường quân ngũ, tính tình cứng rắn,

chỉ tin vào khoa học nên vẫn chưa tin vào khả năng của Hằng.

Ông bỏ cả việc cơ quan để ở nhà trông Hằng, đuổi hết những người tìm đến “cầu thánh, cầu thần”.
Để chứng minh với bố rằng cô không bị thần kinh, không bị hoang tưởng di chứng chó dại

cắn, cô xin bố cho đi thi đại học và hứa chắc chắn sẽ thi đỗ.

Để bố tâm phục khẩu phục, Hằng quay ngoắt sang ôn thi khối A, ĐH Kinh tế quốc dân, cho dù

năm trước cô thi khối C.

Chỉ có 15 ngày ôn thi, kể từ khi xin bố, vậy mà Hằng đã thi đỗ với số điểm khá cao, 24 điểm.

Khi đó, Hằng đã là cộng tác viên của Viện Khoa học thể dục - thể thao. Một số cán bộ có tâm

huyết của Bộ VH-TT đã đi theo Hằng để nghiên cứu rất tỉ mỉ về khả năng tìm mộ.

Hằng đã nhờ những vị cán bộ này cho người về giúp cô khảo sát lại di tích lịch sử chùa Dầu

quê cô có từ đời nhà Trần.

Hằng về, “nói chuyện” với những người xây chùa, tất nhiên là đã chết cách đây 700 năm,

trong đó có cả nhũ mẫu của Huyền Trân Công Chúa, là bà Phan Thị Vinh.

Người xưa đã kể tỉ mỉ cho Hằng biết tòa sen như thế nào, bát hương ra sao, có bao nhiêu sắc

phong từ các đời vua.

Những gì Hằng thu thập đều được các cơ quan quản lý văn hóa xác nhận đúng.

Với những tài liệu, hiện vật thu thập được, Phòng văn hóa đã trình lên tỉnh, tỉnh trình lên bộ

và sau đó chùa Dầu được công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

Những gì Phan Thị Bích Hằng làm được cho đời thực sự trân trọng, không lý lẽ gì có thể bác bỏ.

Đã có hàng ngàn gia đình tìm lại được người thân, đã có cả ngàn hài cốt liệt sĩ được trở về

đất mẹ sau bao nhiêu năm nằm nơi rừng sâu núi thẳm, mà nhiều đồng đội, người thân đi tìm

không thấy.

Thậm chí, qua Bích Hằng, lịch sử đã phải viết thêm những trang hào hùng về trận đánh khốc

liệt ở cánh rừng K'Nác, huyện K'Bang, tỉnh Gia Lai.

Nơi đây, dòng Đắk Lốp đã nhấn chìm 400 thi thể chiến sĩ và cả những chiến công của họ nếu

không có nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vượt rừng, lội suối tìm hài cốt của họ để đồng

đội đưa về nghĩa trang liệt sĩ, mang lại niềm an ủi cho các gia đình.

Theo CAND


[Phan 1]

(...)

Thật ra đến dự buổi nói chuyện hôm nay, tôi cũng không biết bắt đầu từ đâu, bởi vì quá trình làm việc của tôi đã 14 năm, rất nhiều lần trong các hội nghị, tôi đã phát biểu và nói chuyện về những việc tôi đã làm. Năm 1989, sau một tai nạn hy hữu, tôi đã vượt qua được cõi chết trở về và tự nhiên có những khả năng đặc biệt. Sau quá trình tìm hiểu gần 1 năm, đến năm 1990, tôi phát hiện ra khả năng của mình không phải là ảo giác, mà là sự thật qua nhiều cuộc kiểm nghiệm của bản thân cùng những người thân trong gia đình. Đó là một khả năng khoa học chưa lý giải dược, gọi dễ hiểu là giác quan thứ 6. Kể từ tháng 4 năng 1990, sau sự kiện tìm lại được ngôi mộ ông tổ 4 đời của tôi, cả đại gia đình cũng như xóm làng họ tộc mới khẳng định cô bé này không bị di chứng sau bệnh dại, không phải thần kinh hoang tưởng, mà là một con người hoàn toàn bình thường. Cái không bình thường tôi nhìn thấy, nghe thấy là khả năng tiềm ẩn của con người. Nói nôm na như dân gian thì như thế là được trời cho lộc. Những ngày đầu tôi cũng gặp nhiều cay đắng, lộc đâu chẳng thấy. Cho đến bây giờ, để được đứng trước câu lạc bộ có các cô các chú, các anh, các chị, được sự mến mộ của nhiều người, đem lại niềm vui cho một số gia đình, tôi phải trải qua một quá trình không dễ dàng tự phấn đấu khẳng định bản thân, vượt qua mặc cảm với cộng đồng xã hội, đấu tranh với nội tộc người thân. Bố mẹ tôi có những cảm giác khó tả khi sinh ra người con không phát triển theo quy luật tự nhiên, trải qua những tháng ngày rất căng thẳng, đau khổ, không ít những đêm thức trắng vì con mình lớn lên chuẩn bị đến trước cổng trường đại học lại bị một tai nạn như vậy, rồi lại âm âm dương dương không hiểu thế nào.

Hôm nay, tôi cũng chỉ muốn đề cập đến hiện tượng tôi đã thấy và làm trong mười mấy năm qua, tôi không dám tham vọng buổi nói chuyện này có thể giải thích hiện tượng đó là gì. Cơ chế của hiện tượng, bản chất ra sao là một câu hỏi lớn với tất cả chúng ta, không những Bộ môn Cận tâm lý, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, mà còn rất nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Tôi từng được rất nhiều tổ chức nước ngoài mời phỏng vấn để hy vọng tìm ra cơ chế hiện tượng nhưng cho đến thời điểm này, vẫn chỉ là sự ghi chép tổng hợp chứ chưa có lời giải thích nào hợp lý.

Năm 1990, tôi bị *** dại cắn trong 1 tai nạn xảy ra với 2 người. Tôi là người đầu tiên. Người thứ 2 là cô bạn cùng tuổi học cùng lớp, vì cố tình đánh đuổi con ***, che chở cho tôi. Tôi bị cắn vào chân trái, còn bạn bị cắn vào bàn tay trái. Ở tuổi 17, hai đứa thấy hoàn toàn bình thường, quên ngay việc bị *** cắn, coi như không có chuyện gì xảy ra. Tôi chỉ mong bạn được đi học đại học vì tôi đã được gọi vào trường rồi. Sau thời gian khoảng gần một tháng, bạn tôi có triệu chứng lên cơn sốt, co giật và nhiều triệu chứng khác. Chúng tôi sinh ra ở một vùng nông thôn tỉnh Ninh Bình, điều kiện đến bệnh viện bấy giờ không phải khó khăn, nhưng cha mẹ mải làm việc, thêm nữa nghĩ chúng nó đang tuổi mới lớn, chuyện sứt sẹo chân tay là chuyện thường không ai để ý đến. Ngày cuối cùng tôi gặp lại bạn, bạn tôi không nói được nữa, hàm răng cứng lại thì lại nghĩ là đau răng, đi nha khoa kiểm tra nhưng hoàn toàn không phải. Về đến nhà, có một bác sĩ ở bệnh viện quân y 5 Ninh Bình nói tất cả biểu hiện của cô bé này cho thấy là người bị bệnh dại. Đứng cạnh bác sĩ, nghe thấy như vậy, hơn ai hết, chỉ tôi biết bạn bị *** cắn, và cảm thấy tử thần bắt đầu nắm tay mình. Tôi chỉ nói với bác sĩ được một câu “Đúng như vậy”. Bác sĩ hỏi tại sao, tôi trả lời “Vì cháu cũng bị *** cắn. Hai đứa bị cùng một lúc”. Khi tôi ngất đi rồi tỉnh lại, bạn tôi đã qua đời. Lúc ấy, mọi người mới biết, tay tôi chỉ buộc rất đơn giản chiếc khăn mùi xoa, vết thương vẫn chưa khỏi, bị nhiễm trùng vì làm những việc khác.

Gia đình đưa đi chữa nhiều nơi nhưng họ đều lắc đầu bệnh này không thể chữa khỏi từ xưa đến nay. Đến nhà một ông thầy lang theo Thiên Chúa Giáo, ông nói câu đầu tiên “Chúa lòng lành sẽ che chở cho con”. Ông nói với người con trai ra nghĩa đĩa lấy ngay một mảnh ván thô của người bốc mộ ngày hôm qua, thêm một vài vị thuốc bào chế cho tôi. Để giành giật giữa cái sống với cái chết, cái gì tôi cũng uống, cái gì tôi cũng ăn, hy vọng lấy 1 phần nghìn sự sống. Uống thuốc rồi, ông dặn sau ba tiếng đồng hồ, cháu sẽ cảm thấy nóng khắp người, lên cơn sốt mê man, lên cơn sảng, thậm chí lên cơn điên cắn xé, xong thì hết cơn, theo dõi nếu 3 ngày sau cháu hết cơn thì ông bà yên tâm con mình sống, còn nó lên cơn trở lại thì cháu không sống được nữa, tôi rất muốn cứu cháu nhưng khả năng của tôi chỉ đến thế. 7 giờ tối tôi uống thuốc, 9 giờ tối tôi lên cơn đúng như lời ông thầy lang, khoảng 11h đêm tôi thiếp đi. Ngày thứ nhất, ngày thứ hai không thấy triệu chứng gì. Ngày thứ ba, ông anh cô bạn từ bên Đức nghe tin em mất về, tôi cùng gia đình ra mộ bạn thắp hương vì từ hôm bạn mất, tôi không được ra mộ. Tạm biệt bạn từ ngôi mộ quay trở lại, cách ngôi mộ độ 30 met, tôi cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Tôi nói: “Đưa nhanh em về, em bị điên rồi”, từ đấy không biết gì nữa.

Đến lúc 1h đêm, gia đình không còn tia hy vọng, tôi hoàn toàn tắt thở. Ở quê, những người trẻ được khâm niệm rất nhanh, không bao giờ tổ chức lễ tang kèn chống, bởi ông nội còn, bố mẹ còn. Có một ông cụ, là ông thầy dạy chữ nho ở làng, rất giỏi tử vi, sau một hồi tính toán, ông bảo: thứ nhất, chưa qua giờ Thìn, không được khâm niệm cháu; thứ hai, cứ để nó nằm như thế, không được thắp hương. Bác sĩ nói tốt nhất đậy mặt lại, để gia đình đi chuẩn bị cho cháu, tại sao cụ lại nói như vậy để người ta nuôi một hy vọng bệnh hoạn. Ông cụ nói: Các anh thì cả một nền ý học hiện đại, tôi thì chỉ tàn hương nước thánh, nhưng tôi khẳng định nó không thể chết. Cả gia đình tôi rất hoang mang. Năm đó thị trường chưa như bây giờ, việc mua đồ rất khó khăn. Mọi người ai đi mua gỗ cứ đi, ai ngồi chờ cứ chờ. 1 giờ đêm, tôi chính thức tắt thở.

Bố tôi công tác ở xa. Trong những ngày tôi khắc khoải chờ chết sau sự ra đi của bạn, tôi hỏi bố tôi năm 1988 tổng bí thư Lê Duẩn mất, họ bắn 7 loạt đại bác để làm gì, bố tôi trả lời để linh hồn mau siêu thoát. Tôi nói, khi con mất, con không vinh dự được bắn đại bác, bố bắn cho con bảy phát đạn, con cũng mau siêu thoát để trở về với bố mẹ. 7 giờ sáng, bố tôi về. Bố tôi khóc, có bao nhiêu đạn trong bao ông bắn hết. Tôi nghe tiếng nổ tỉnh dậy, phản xạ đầu tiên là lao ra phía đó, gọi “Bố ơi!”. Tôi đạp phải những các tút bật lại và ngã xuống sân. Mọi người đưa vào trong phóng. Sau khoảng nửa tiếng, tôi tỉnh lại hoàn toàn, cảm giác không trọng lượng, như đang bay, nhìn mọi người như ở một thế giới khác. Trong 30 phút bất tỉnh vì ngã đập đầu xuống sân, tôi thấy bà nội và bà ngoại, cả hai người đã mất, gọi tôi. Tôi đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, bà ngoại bên kia vẫy tay, bà nội thì đứng bên bờ bên này kéo lại. Bên kia còn có rất nhiều người đang đón mà không biết là ai. Tôi tuột khỏi tay bà, hốt hoảng vì sợ ngã nên gọi “Bà ơi!”, đó cũng là câu mọi người nghe tôi nói đúng lúc tỉnh dậy.

Tâm trạng trong gia đình vẫn nghĩ sự tỉnh lại chỉ là tạm thời. Tất cả mọi người sẵn sàng chuẩn bị tinh thần đón chờ cái chết sẽ đến với tôi. Bản thân tôi cảm thấy hoàn toàn bình thường, mọi sinh hoạt đều trở lại bình thường như cũ, không có gì thay đổi.


[Phan 2]


Khi nhìn mặt những người xung quanh mình, tự nhiên tôi cảm giác cuộc sống của họ còn được bao nhiêu. Vài tháng, tôi đi lăng nhăng, thấy ai sắp chết là tôi nói cho họ biết, không ít lần bị ăn đòn, ăn chửi. Trong làng có ông Vũ Văn Trác nhà ở gần trường học, mới hơn 50 tuổi, khỏe mạnh, quý tôi, đi đâu về nhìn thấy cũng bảo “Chào cô giáo ạ!”, cái gì có cũng cho tôi. Tôi là con nhà giáo, ngày nhỏ học rất giỏi. Một hôm, tôi nhìn ông bảo: “Ông ơi, chắc là ông sắp chết rồi. Thôi ông đừng đi làm nữa cho khổ! Ông về đi!”. Ông sững sờ:” Cô giáo nói tôi cái gì đấy?”. “Cháu bảo là ông sắp mất rồi, đừng đi làm nữa!”. Sẵn cái roi đánh trâu đi cày về, ông quay lại:” À, tưởng là con cô giáo mà tao không dám đánh à? Bố mày có là đại tá, chứ là đại tướng thì hôm nay tao cũng phải cho mày một trận, láo toét!”. Tất cả mọi người ở làng hai bên đường chứng kiến ông này rất quý con bé này sao hôm nay lại đuổi đánh nó dữ dằn thế. Tôi vừa chạy vừa quay lại bảo: ”Không, ông chết thật mà.” Đến nhà, ông nội tôi chắp tay: ”Tôi lạy ông! Cháu nó bị dở dở ương ương, nhà tôi đã khổ lắm rồi. Thôi, ông đừng làm cháu khổ thêm nữa, ông đừng đánh nó, ông biết nó hâm rồi mà.” Ông kia quyết không tha: “Tại sao nó rủa tôi sắp chết? Tôi không tha cho con này, tôi phải đánh cho nó một trận.” Ông đánh được mấy cái, tôi đau, tức, khóc những vẫn bảo: “Cháu bảo ông chết thật rồi ông không tin cháu à? Thử mấy ngày nữa thì sẽ biết, chỉ từ nay đến 15 tháng 7 thôi…”. Cuộc sống cứ như thế trôi qua, đến ngày truyền thanh 3 cấp của xã đọc tin cáo phó cụ Vũ Văn Trác chết hồi 2 giờ chiều ngày 15/7, cả làng ngã ngửa ra. Thời gian tôi nói và thời gian ông mất quá gần.

Tiếp đến là chú Bùi Văn Chai (Trai?), chủ nhiệm hợp tác xã thêu xuất khẩu xã Khánh Hòa nơi tôi sống, bạn rất thân của mẹ tôi. Đó là năm 1989. Tôi bảo chú, giữa hội trường ủy ban nhân dân xã, rất nhiều người chứng kiên, đến tháng giêng là chú chết đấy, có bao nhiêu hợp đồng xuất khẩu chú bàn giao lại hết đi, nếu không đến lúc đấy chết lại không kịp. Chú nói: “Anh chị phải về dạy bảo con. Cứ để nó luyên thuyên như thế là không được.” Đầu tháng giêng, chú bị đau bụng, đi khám bệnh và được phát hiện bị hoại tử đường ruột. 24 tháng giêng chú mất. Người ta bảo tôi bị ma ám, nói ai là người ấy chết, tốt nhất là tránh đi.

Bố mẹ tôi, ông tôi, tất cả người thân trong gia đình đều đau khổ. Mẹ tôi là giáo viên dạy giỏi nhiều năm, các phụ huynh học sinh trước đây rất tin tưởng phấn khởi cho con học lớp mẹ tôi, giờ lại tự động chuyển con sang lớp khác. Tôi ra sức thuyết phục gia đình, tôi hoàn toàn bình thường, những cái đó là tôi nhìn thấy thật, nhưng không ai tin, kể cả bố mẹ. Sau đó, tôi được đưa đi hết bệnh viện này bệnh viện khác, khám thần kinh rồi đủ thứ, đưa đi ông thầy nọ bà thầy kia cúng bái, chuyển mộ.

Tôi phán đoán được tình trạng sức khỏe người ta như thế nào, rồi phán đoán được suy nghĩ của người ta. Tôi ước gì một ngày nào đấy ngủ một giấc dậy quên khả năng ấy đi. Nhiều người suy nghĩ rất tốt, nhưng những suy nghĩ xấu xa lại nhiều hơn.

Tôi ao ước nhìn thấy bà nội và bà ngoại, những người tôi yêu quý. Bà nội tôi mất lúc tôi mới 10 tuổi, hình dáng tôi vẫn nhớ. Đúng ngày giỗ bà nội mồng 6 tháng 10, tôi thấy bà nội về, mang theo 2 đứa trẻ, một đứa đang bế, một đứa dắt tay. Ông nội tôi bảo đó là 2 đứa con của ông, đã mất lúc 8 tháng và 3 tuổi, thế này thì không thể không tin lời tôi. Có lẽ trời cho ăn lộc hay thế nào đây?

Làng tôi có ngôi chùa bà Huyền Trân Công Chúa đã tu. Ở Chiêm Thành về, bà không lấy chồng nữa mà về tu ở đấy. Gia tộc họ Trần, ông Trần Thái Tông và một số công thần nhà Trần cũng về đấy. Cả một bãi rộng mênh mông mà bây giờ là sân vận động bóng đá từng gọi là Mả Nhà Trần. Tôn thất nhà Trần chết đi đều chôn ở khu vực này. Nhà ông chú ruột tôi ai cũng bị bệnh kỳ lạ, teo một bên chân, ngoẹo một bên đầu, hoàn toàn về bên phải. Tôi bảo chú, ngày xưa tôi chơi ú tim trẻ con buổi tối rất hay nhìn thấy bóng người trong vườn nhà chú. Hai chú cháu ra đào bới, thấy một lớp ngói, như ngói lợp của một cái lăng lâu năm đã mục, gạt ra thấy một lớp đất đỏ, gạt lớp đất đỏ thấy một cỗ quan tài đồ sộ. Người ta nghiên cứu lớp vỏ bên ngoài là vỏ hến, vôi, mật trộn lẫn với nhau, không phải bê tông nhưng vô cùng rắn. Bên trong có một quan tài chạm trổ óng ánh rất đẹp, bật nắp ra thấy hình một người đàn ông nằm dọc, nước vàng khánh. Tôi là người đầu tiên nhảy xuống thò tay sờ thấy tan hết ra toàn xương người với những đồng tiền, một vài vật dụng linh tinh. Ủy ban xã vào lập biên bản, cán bộ văn hóa đến làm việc. Ở cơ quan cấp huyện, cấp xã, họ cũng chỉ dừng lại ở mức độ đó. Ngôi mộ được xác định là của một ông tướng đời Trần, có thể cách đó khoảng 700 năm. Tôi rất tiếc, nếu ngày ấy nhận thức của tôi sâu hơn, rộng hơn một chút, báo cho cơ quan văn hóa tỉnh, khảo cổ ngôi mộ sẽ thu lại rất nhiều di vật. Rốt cục, những con *** đá, những vật nhỏ xíu trong quan tài, mỗi người đến xem lấy một thứ. Những đồng tiền bị bốc đi, mài, bẻ vì tưởng là vàng, nhưng nó là hợp chất gì đó, chẳng phải đồng, chẳng phải vàng, hình tròn, đục lỗ xuyên vào nhau.

Sau sự kiện trên, đến nhà nào tôi cũng hỏi có mất mộ không, hễ mất tôi xin tìm giúp. Dân làng cũng thử nhờ tôi xem sao. Sau vài lần tìm thấy, người ta gọi tôi là “cô”, thấy tôi đi qua bèn chắp tay “Lạy cô ạ”, “Xin cô”.

Chính bản thân gia đình tôi cũng mất mộ cụ tứ đời, bao nhiêu lần bố tôi đưa cả đại đội bộ đội về đào mà không thấy. Đúng ngày giỗ cụ 12 tháng tư, tôi thử đi tìm. Trớ trêu, ngôi mộ nằm trên đường đi, tôi rủ thêm người anh trai ra đào. Mấy chú bảo vệ ở xã nhìn thấy bảo: Con ông bộ đội đi ra phá đường. “Không, cháu nhìn thấy có mộ ở đây”. “À, thế thì đem xẻng cuốc ra đây thử đào xem con dở hơi này nó nói có đúng không?”. Sâu gần 2 met, tôi với tay lên mới tới mặt đất thì thấy một tấm bên trên khảm chữ không đọc được. Hai anh em đem rửa, cả họ đang ăn cỗ. Ông nội tôi hơn 80 tuổi được gọi, chạy ra đến nơi, đọc một bên là “Ẩm thủy quy nguyên”, một bên là “Vinh quy bái tổ”. “Đúng mộ ông nội tôi đây rồi”, ông lăn ra khóc.

Hồi đó, rất đông người đến nhờ tôi nhưng bị bố tôi đuổi. Bố tôi thậm chí xin nghỉ công tác ở nhà canh con gái, sợ nó làm việc gì không phải với bà con làng xóm. Từ đây tôi bớt bị sự kìm kẹp của bố tôi.

Đấy cũng chỉ là một phần rất nhỏ những ngày đầu tiên tôi có khả năng. Tâm trạng gia đình, bản thân tôi, của thầy cô bạn bè khó tả lắm, cho đến vài năm sau còn chưa hết ngỡ ngàng. Khi tôi tìm thấy cụ tứ đời, tìm cho bà con trong làng, mọi người xác nhận đây là khả năng có thật, không phải luyên thuyên, không phải hoang tưởng di chứng bị *** dại cắn.

Trước đấy, mọi người còn bảo tôi học chuyên, học nhiều nên bị ngộ chữ. Tôi xin bố mạnh dạn cho tôi đi thi, xem con có học được không, nếu con quên hết kiến thức văn hóa, bảo con thần kinh thì con chịu, nếu không bố phải cho con học, không được giữ con ở nhà. Bố tôi đồng ý. Là dân khối xã hội, nhưng cố tình chứng minh cho bố, tôi quay ngoắt sang thi khối A, Đại học kinh tế quốc dân. Tôi chỉ có 15 ngày, từ lúc thuyết phục được bố cho đến khi tôi thi. Quá quyết tâm, tôi đỗ với kết quả không ngờ, gần 24 điểm.

Trong thời gian đi học, tôi cũng có làm cho rất nhiều người, ví dụ các thầy các cô ở các trường đại học biết. Bố tôi ra điều kiện, ai đến nhờ, để lại cho ông chứng minh thư hoặc sổ hộ khẩu, đưa tôi đi, phải có một người đi theo, làm việc xong đưa tôi về nhà báo cáo kết quả xong ông trả lại. Sau khi xin nghỉ hưu, bố tôi được bầu làm bí thư đảng ủy xã, chủ tịch hội cựu chiến binh. Nhà tôi đông khách kinh khủng, xã bực mình, đem bố tôi ra kiểm điểm, kỷ luật, định khai trừ khỏi đảng. Trong một năm ở nhà, tôi cũng làm trưởng ban tổ chức thiếu niên nhi đồng, phó bí thư xã đoàn, sau đó lên bí thư xã đoàn. Tôi học đối tượng đảng, thi rất xuất sắc được 10 điểm, nhưng không ai cho kết nạp đảng vì mê tín dị đoan. Khi đưa bố tôi ra kỷ luật, tôi xin gặp ủy ban kiểm tra đảng, những người làm quyết định kỷ luật, nói: Tôi đã 18 tuổi, đủ tư cách pháp nhân và năng lực hành vi để chịu mọi trách nhiệm về hành động của mình. Không có lý do nào việc tôi làm bố tôi phải chịu. Mà tôi là quần chúng trong đoàn thể thôi, không phải đảng viên. Nếu tôi là đảng viên, bố tôi là bí thư chi bộ thì rõ rang kỷ luật bố tôi. Thế là người ta yêu cầu tôi làm gì đó để chứng minh tôi có khả năng thực sự đem lại lợi ích cho quê hương làng xã.

Hồi đó, tôi đang cộng tác với Viện Khoa học thể dục thể thao, do bác Nguyễn Văn Cừ làm viện trưởng. Bác Cừ, một số anh trong ban quản lý di tích lịch sử, nhất là anh Nguyễn Văn Chiến, trợ lý của bác Cừ,cầm máy ghi âm theo tôi nhiều lần để nghiên cứu. Anh Chiến rất giỏi tử vi, một chân hơi tập tễnh vì bị tật từ nhỏ. Ở Bộ văn hóa có chú Phí Đình Thiệm, cô Hoàng Thị Vân và nhiều người ủng hộ nhiệt liệt, về động viên bố mẹ tôi. Bố tôi bảo, nếu các bác các chú tin cháu nó có khả năng thì cứ việc nghiên cứu nhưng phải lưu lại trên báo cáo giấy tờ để sau này có cái trình bày với các cơ quan đoàn thể.

Tôi đi cộng tác trong thời gian khá dài, khoảng 6 tháng. Tôi xin các bác các chú cho người giúp tôi về khảo sát lại di tích lịch sử chùa Dầu quê tôi từ đời nhà Trần, 700 năm nay. Tôi về khám phá, kiểm nghiệm thông tin, nói chuyện, tiếp xúc với những nhân vật đã xây dựng chùa, tất nhiên là chết cách đây 700 năm rồi, trong đó có cả bà Phan Thị Vinh, nhũ mẫu của Huyền Trân Công Chúa, họ nhiều đời của nhà tôi. Chùa bị giặc Pháp đốt, phá tan tành, những bát hương đá bị vùi xuống đất. Người xưa cho tôi biết tòa sen như thế nào, bát hương ra sao, có bao nhiêu sắc phong chứng chỉ từ các đời vua. Những gì tôi thu thập được xác nhận hoàn toàn đúng bởi ban văn hóa. Huyện trình lên tỉnh, tỉnh trình lên bộ. Chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa. Kết quả để bố tôi không bị kỷ luật đảng chính là những thông tin tôi mò mẫm lấy được từ cõi âm.






[Phan 3]


Những ngày ấy tôi làm việc hết sức khó khăn. Để nói chuyện được cũng không đơn giản. Lúc đầu tôi không biết nói chuyện, chỉ nhìn thấy người, hình dáng họ như thế nào, họ già, họ trẻ, họ đen, họ trắng, họ béo, họ gầy. Có trường hợp nhìn giống nhau dẫn đến sự nhầm lẫn. Tôi có tìm cho một gia đình bác ấy là liệt sĩ chống Pháp, chết ở trận Chùa Cao - Ninh Bình. Tôi tìm thấy bác ở một bờ ruộng gần bốt Chùa Cao. Ừ đây mặt vuông chữ điền này, râu quai nón này, giống anh con trai duy nhất của bác, đúng ngôi mộ này rồi. Gia đình đắp đất lên, để đấy chuẩn bị về chôn vào nghĩa trang.

Tôi rất phấn khởi vì thành tích của mình đạt được, đến tối ngủ tự nhiên thấy có một bác bộ đội giật giật chân dậy và ở đó có 2 người. “Này này, dậy! Cậu dậy đây tớ bảo cái này. Hôm nay cậu làm thế là cậu làm không được nhé. Cậu nhầm. Cậu chỉ mộ cậu liên lạc của tớ. May mà vợ con tớ chưa đem về đấy. Nếu mà đem về có phải tớ vẫn còn nằm lại mà cậu liên lạc lại được cả nhà tớ kêu bằng bố.” Tôi bảo: “Cháu không hiểu” Bác ấy nói:” Đây này nhìn đây này, cậu liên lạc nó mới chỉ 23 tuổi, còn bác đã ba mấy tuổi rồi. Bác có cái mụn ruồi ở mũi, cháu nhìn thấy chưa, rất là to. Ngày xưa bố vợ suýt không đồng ý vì báo cái mụn ruồi đấy là chết yểu, chết non, con gái ông ý sẽ góa chồng sớm. Dù mụn ruồi nhưng tớ vẫn đẹp giai nên tớ vẫn lấy được. Đây này, bây giờ nhìn nhé. Ở cái chỗ đất đây này, bác ném cành hoa vạn thọ ở chỗ này nhé. Mai cháu nhớ phải lên sớm không trẻ con nó nghịch nó làm mất.”

Hôm sau, sáng dậy sớm, một mình tôi đi xe xuống chỗ mô đất nhà người ta đắp, vẫn còn thấy chân hương, hoa cắm, đồ cúng thì trẻ con lấy hết rồi. Tôi nhìn ra cách đấy khoảng 5 mét. Mặc dù là mùa đông nhưng tôi vã mồ hôi. Trên nền cỏ ướt đâm sương muối, một cành cúc vạn thọ nằm ngay thẳng. Đầu hoa thì vào đầu ống ấy còn cuống hoa thì vào chân. Tôi về báo tin cho gia đình ngay. Thật ra lúc ấy rất khó nói. Tôi phải mạnh dạn xin lỗi gia đình là tôi nhầm. “Như thế là thế nào? Lấy gì làm bằng chứng? Hôm qua đã cả hình cả dáng đúng như thế rồi…” “Cháu nhìn thấy ông ấy có cái mụn ruồi trước cửa mũi này này, cái mụn ruồi cảm giác nó che lấp cả lỗ mũi ấy.” Bà cụ òa lên khóc: “Đúng chồng tôi rồi”. Gia đình họ lại chuẩn bị xe pháo đi cùng tôi xuống vị trí để nhận. Chỉ có từng này đất đã đến hài cốt của bác dưới ruộng hàng ngày vẫn chồng cấy lúa mà người ta không biết. Sau đó, bác được gia đình đưa về quê, còn cậu liên lạc được đưa vào nằm trong nghĩa trang Chùa Cao.

Phải 5 năm sau, khoảng 1995, khi tôi bắt đầu khả năng nói chuyện, tôi quay trở lại đúng địa điểm đó, hỏi chú tên là gì, quê quán ở đâu để tôi về báo cho gia đình chú. Chú trả lời:” Lúc ấy chú nói nhiều lắm mà cháu không nghe thấy. Chú tên là Đỗ Viết Định, ở làng Vũ Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. Bây giờ nhà chú chẳng có ai đâu, vì nhà chuyển đi ra ở thị xã Ninh Bình rồi. ” Làng Vũ Lâm có hành cung Vũ Lâm của nhà Trần. Tôi lần mò về, người ta bảo ông này liệt sĩ từ lâu rồi, giờ hỏi ông ấy làm gì. Người ta chỉ tôi ra thị xã Ninh Bình tìm người thân xuống nhận. Lúc ấy chỉ có bố mẹ chú thôi, chú chưa có vợ có con, anh em thì mỗi người đi làm ăn một nơi.

Trường hợp đầu tiên để tôi phát hiện ra khả năng nghe nói là trường hợp của mẹ giáo sư Mai Hữu Khuê, trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân. Khi tôi đi tìm, thấy có một bà cụ, nghe như có tiếng nói, cái miệng lắp bắp mà không hiểu nói gì. Chỗ đấy là một vũng nước rất bẩn. “Cụ ơi cụ, cụ nói cái gì đấy”. Tôi nghe thấy cụ gọi “Cháu ơi!”, tim tôi muốn vỡ ra. Tôi sướng quá, tôi nghe được rồi. “Bà tên là Kình, nhắn hộ cho bà, mộ bà ở đây mà các con bà về tìm mãi không thấy”. Con bà là Khuê. Tôi quay ra nói với dân làng. Dân làng bảo con bà ấy làm to lắm. Đúng rồi, bà Kình mẹ ông Khuê. Nhà bác Tạ Thị Thược ở làng Thành Mỹ, Hoa Lư, Ninh Bình nói biết ông Khuê mà hình như còn là họ hàng gọi là cậu, nhắn tin cho gia đình về nhận ngôi mộ của bà cụ.

Từ đấy chuyển sang một giai đoạn dở hơi tiếp. Tôi đi hỏi hết các ngôi mộ xem họ nói gì. Về hỏi người nhà mình thì chuyện gì mình cũng biết rồi, cứ ba đời bốn đời nhà người ta lôi ra kể, nói chuyện. Nhưng tôi vẫn chưa tin khả năng nghe của mình. Mãi đến đợt tôi giúp gia đình đại tá Tạ Doãn Địch ở 24A Tăng Bạt Hổ tìm được mười mấy ngôi mộ. Sau khi giúp xong cũng nói chuyện với các cụ nhưng rất ít, bởi tôi chỉ nói mình tôi hay chứ không dám cho mọi người biết rằng mình biết nói.

Đêm hôm ấy, một cô bé chạy về, ôm mặt khóc: “Tại sao lại không tìm tôi, tìm hết mọi người thiếu mỗi mình tôi?”. “Cô là ai?”. Cô dắt tay ra chỉ vào đống đá :”Đây này, cháu lên cháu sẽ nhìn thấy đống đá hộc (?). Cô tên là Đóa”. “Cô người nhà ai?”. Cô bảo: “Người nhà mà hôm qua cháu vừa đi tìm mộ xong”. Hôm qua tôi chỉ tìm đúng cho nhà bác Tạ Doãn Địch. Tôi viết thư lên, nhà bác nói đấy chính là bà cô chết lúc hơn mười tuổi. Gia đình về khai quật, vứt hết đá ra, dưới lớp đất lấy được hài cốt của một cô bé hơn mười tuổi, bây giờ xấy mộ lại rồi. Tôi phát hiện thêm một điều, khi mình làm nhầm cho người ta, lập tức người ta phản hồi lại ngay. Tôi rất mừng, có sự phản hồi mới biết mình đúng hay không, nếu không thì cứ u u mê mê thế thôi. Chí ít đến lúc đấy có 2 trường hợp người ta phản hồi lại là sai. Một người là nhầm lẫn, một người là thiếu sót.

Ở cõi âm là như thế, người ta rất rõ ràng, ranh giới giữa sự thật và không thật không bị mập mờ. Tôi cảm thấy họ rất trọng tình nghĩa, chỉ có một chút quan hệ dây mơ rễ má, họ sẵn sàng nhắn nhủ cho nhau.

Ví dụ, cháu gặp người này cháu nói chuyện, tìm mộ xong rồi ông lại bảo: “Này, cho bác nhắn này, nhà bác còn một bà…” họ như này như này mất mộ nằm ở chỗ này chỗ này. Nói đùa, như thế đâm ra tôi bị vạ lây, đáng lẽ chỉ phải tìm mỗi một người, tự nhiên phải tìm bao nhiêu người. Những ngày đầu tiên tôi chưa có kinh nghiệm, người ta nói đến lúc nào tôi phải nói đến lúc đấy, người ta nhắn gì tôi cũng phải nghe, nhất là đi ra nghĩa trang liệt sĩ thì cứ ngồi mấy tiếng đồng hồ không bao giờ ghi hết nổi. Đến giờ, tôi biết cách ngắt vì sức khỏe mình đến mức độ nào thôi. Không nói được nữa thì cháu xin lỗi cụ, hôm khác cháu sẽ gặp lại.

Những năm tháng đầu tiên ấy, tôi tìm được rất nhiều liệt sĩ nhắn nhủ như vậy, có khi họ là đồng đội. Ví dụ, “Chú có thằng bạn chết trong Bình Dương”, về gặp chú bảo mộ nó đang nằm ở chỗ đấy, lô cao su số mấy, ai là người phụ trách lô cao su ấy, hàng ngày đi cạo mụ cao su. Tôi báo cho gia đình về tìm được. Đó là trường hợp tìm cho liệt sĩ Nguyễn Văn Nhợi ở Vĩnh Phúc. Tôi được cho biết, đi lên lô cao su ấy, của nông trường ấy, có một chị đang cạo mủ cao su, có đặc điểm là bao giờ cũng đi cùng con, mẹ đi trước con theo sau. Gia đình họ vào tìm, bảo cả nông trường có cô này không có chồng nhưng có một đứa con, đi đấu cũng dắt theo lẽo đẽo. Bác bảo ở lô cao su ấy, cái bát cạo mủ gần gốc cây bác nằm bị mẻ…
Năm ngoái, bộ môn chúng tôi nghiên cứu đề tài TK06, có nghĩa là “Tìm ngược”, người chết tìm người sống. Bình thường thì người sống chúng ta đi tìm lại ông bà cha mẹ, anh em ruột thịt bị mất. Vừa rồi, đề tài TK06 làm ngược lại. Chúng tôi đã tìm, bước đầu có kết quả khả quan đáng vui mừng. Người âm nhắn đi đến địa chỉ này, địa chỉ kia, tìm cho tôi cháu này, con này, cuối cùng đều tìm được tất cả, thậm chí thân nhân của những người chết đói, chết bom ở Hợp Thiện, nhất là tìm liệt sĩ thì khá nhiều, về các vùng quê tìm mộ cho các gia đình cụ nọ nhắn cho cụ kia cũng tương đối nhiều.

Thursday June 11, 2009 - 02:41pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments
Tìm được hài cốt nhờ "gọi hồn"
Tìm được hài cốt nhờ "gọi hồn" magnify
Tìm được hài cốt nhờ "gọi hồn"


Sau mấy phút dán mắt vào tấm hình cô Khang, chị Hằng bỗng hớn hở: “Cháu chào cô ạ. Cháu là Phan Thị Bích Hằng. Bác Phương nhờ cháu mời cô về để hỏi hài cốt của cô hiện nay ở đâu?”. Rồi chị Hằng quay sang phía GS Phương hạ giọng: “Có một người đàn ông về đây cùng với cô Khang. Chú ấy nói tên là Sơn”. GS Phương rùng mình xúc động.

Cuộc tìm mộ bằng sự hướng dẫn của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã coi như thất bại. Mặc dù thất vọng lắm, song GS Trần Phương vẫn thử lần cuối với nhà ngoại cảm nổi tiếng nhất, mà nhiều người ở Hà Nội biết đến, đó là Phan Thị Bích Hằng.

Mọi người đồn đại rằng, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng có khả năng “gọi hồn”, song GS Phương vẫn không tin trên đời lại có linh hồn. Việc gặp chị Hằng ngoài tìm kiếm thông tin về ngôi mộ cũng là kiểm nghiệm xem có linh hồn thật hay không. Buổi tiếp xúc với nhà ngoại cảm hôm đó chỉ có GS và hai chị em gái của ông. GS dặn trước hai người không được nói gì kẻo để lộ thông tin cho “thầy bói nói dựa”.

Khác với anh Nhã, chị Hằng yêu cầu GS đặt lên bàn một chiếc cốc, một vốc gạo để cắm hương, một ngọn nến và một bức ảnh của cô Khang. Khi đó chị Hằng nói rằng: “Bác không thờ trong căn phòng này bao giờ nên có thể cô Khang khó về”. Nghe chị Hằng nói vậy, GS Phương giật mình. Chẳng những ông không thờ bao giờ mà từ 10 năm nay ông không ở ngôi nhà này, mà giao cho con ở.

Sau đó, theo lời kể của GS Phương, “linh hồn” cô Khang đã về theo tiếng gọi của chị Hằng. Chuyện này được ông chép lại rất tỉ mỉ:

Sau mấy phút dán mắt vào tấm hình cô Khang, chị Hằng bỗng hớn hở: “Cháu chào cô ạ. Cháu là Phan Thị Bích Hằng. Bác Phương nhờ cháu mời cô về để hỏi hài cốt của cô hiện nay ở đâu?”. Rồi chị Hằng quay sang phía GS Phương hạ giọng: “Có một người đàn ông về đây cùng với cô Khang. Chú ấy nói tên là Sơn”. GS Phương rùng mình xúc động. Người tên Sơn chính là người anh, người đồng chí, người bạn thân thiết nhất của ông đã hy sinh.

Qua “phiên dịch” của chị Hằng, “linh hồn” cô Khang nói: “Anh không có duyên rồi. Anh đi tìm em, đối mặt với em rồi mà không đến được với em. Từ hôm anh đến, mấy chị em trong Đội Hoàng Ngân của em cứ bảo sao lâu không thấy anh Phương trở lại. Chỗ em nằm chỉ cách chỗ anh đào ba bước chân về phía bờ ao”.

GS Phương hỏi: “Vậy em nằm trên vườn hay dưới ao?”. “Đến bờ ao cũng còn 3 bước chân nữa. Phía trên em chừng 2m là chị Nguyễn Thị Bê, đội viên Đội Nữ du kích Hoàng Ngân, quê ở ngay làng La Tiến. Cách chỗ em nằm cũng chừng 2m về phía đông là một người đàn ông bị bắt từ Hải Dương về, em không biết tên, ba cái mộ dường như nằm trên một đường thẳng. Hai người kia bị giết cùng một ngày với em.

Chúng cột tay ba người lại với nhau rồi vứt xuống sông lúc nửa đêm. Dân phòng ta có đi tìm nhưng không thấy. Mãi mấy ngày sau xác mới nổi lên. Dân vớt được mới đem về đây chôn. Xa hơn còn 7 người nữa cơ. Mấy người nổi lên trước thì dân còn cho được manh chiếu, còn nổi lên sau thì đến manh chiếu cũng không có nói gì đến quan tài”.

Sau đó, “cô Khang” còn chỉ dẫn tỉ mỉ chỗ cô nằm, với các đặc điểm về cây cỏ xung quanh mà GS Phương nhận ra ngay. GS Phương hỏi tiếp: “Em có biết chỗ em nằm thuộc đất của ai không?”. “Cô Khang” bảo không biết đang nằm trên đất của ai.

Chị Hằng nhìn vào khoảng không hỏi: “Hài cốt của cô còn nguyên vẹn không?”, thì “cô Khang” nói với GS Phương: “Chúng đánh em gãy xương sườn, gãy xương cánh tay và xương đòn tay bên phải, gãy hai chiếc răng hàm trên bên phải, dập gò má bên trái. Xương cốt hiện nay vẫn còn nhưng đã mủn, vì chôn có quan tài đâu”.

GS Phương hỏi với ý tứ điều tra: “Răng em màu gì?”. “Bây giờ màu đen”. Ông vội cãi: “Nhưng trước đây răng em trắng cơ mà?”. “Cô Khang” nói tiếp: “Em chưa nói hết. Răng em đen xỉn do bùn đất ngâm vào chứ không phải đen hạt na. Ngày xưa, các anh ấy hay trêu em là có hàm răng đẹp nhất, tươi tắn nhất đội du kích. Nếu anh có đào nhầm sang mộ khác thì anh vẫn có thể nhận ra ngay, vì hàm răng của em không thể lẫn được.

Cả khuôn mặt em cũng vậy. Tuy gò má bên trái có bị dập, nhưng cả khuôn mặt thì vẫn còn. Anh có thể dễ dàng nhận ra em. Nhưng khi đào anh phải cẩn thận, vì chỉ cần xúc một xẻng đất là nó vỡ ra ngay”.

Nghe “cô Khang” nói vậy, GS Phương xúc động trào dâng. Mặc dù chỉ được nhắc đến một cách kín đáo, nhưng ông nhận ra ngay những đặc điểm của người em gái. Người con gái đã lìa đời 50 năm mà vẫn không quên niềm tự hào về nhan sắc của mình, được các chàng trai ngưỡng mộ. Nghĩ vậy, lòng ông chợt xót xa.

“Cô Khang” còn dặn tiếp: “Khi đào, anh chú ý cổ tay em vẫn còn cái vòng bằng sắt. Thực ra đó là cái còng sắt chúng xích tay em vào tay người đàn ông bị bắt ở Hải Dương”. GS Phương hỏi: “Nếu tìm được hài cốt của em thì đưa em về quê mình, cạnh mộ bố mẹ hay là đưa em về nghĩa trang liệt sĩ của huyện, nơi anh Sơn đang nằm?”.

“Cô Khang” nói: “Mẹ bảo em rằng: Con là phận gái thì về với bố mẹ để sau này cháu chắt còn viếng thăm, hương khói cho con. Nhưng anh Sơn thì bảo: Em đã đi theo Đội du kích Hoàng Ngân em cứ về nghĩa trang liệt sĩ. Tổ quốc ghi công mình đời đời người ta thắp hương cho mình chứ đâu chỉ có con cháu trong gia đình”.

Sau một hồi GS Phương trò chuyện cùng em gái, thì “anh Sơn” lên tiếng “trò chuyện” với ông. GS Phương xúc động quá, không kìm được lòng, thốt lên như muốn khóc: “Trời ơi, anh Sơn!”.

Người tên Sơn hơn GS Phương 4 tuổi, từng là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Hưng Yên, Sơn Tây, Hà Đông, được điều vào bộ đội khi thành lập Đại đoàn 320 làm Trưởng ban Tuyên giáo của Đại đoàn. Anh hy sinh trong chiến dịch Hà Nam Ninh, vào tháng 6/1951.

Để kiểm nghiệm tiếp tính xác thực của “linh hồn”, GS Phương đưa cho chị Hằng bức ảnh đã thủ sẵn trong túi định bụng sẽ hỏi “linh hồn” về người này, nếu “linh hồn” không nhận ra thì hẳn là chuyện tào lao, những câu giao tiếp như với "linh hồn" chỉ là do Hằng bịa ra cho sinh động.

Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng xem ảnh và bảo đúng là bác Sơn, nhưng trông già hơn trong ảnh. Thực tế, bức ảnh chụp năm 1948 trong tư thế rất bảnh trai, khi GS Phương đang công tác ở Sơn Tây.

“Anh Sơn” nói: “Chú tìm em Khang mà không nói với anh một câu. Lần sau báo trước cho anh, anh sẽ dẫn đường chú đến tận nơi. Ai khoanh cho chú chỗ ấy là họ hiểu biết đấy. Cũng may là khúc sông ấy hơi cong lại, xác em mình dạt vào, nếu không đã trôi tuột đi rồi”. GS Phương hỏi: “Anh bảo sẽ dẫn đường cho em, nhưng làm cách nào em nhận ra được?”.

“Anh Sơn” nói tiếp: “Anh không thể nắm tay chú nhưng anh sẽ tìm một con vật nào đấy, con ong, con bướm chẳng hạn, rồi sai khiến nó để nó dẫn đường cho chú. Chú cứ đi theo nó đến chỗ nó đậu”.

Sau khi trao đổi vài thông tin quanh chuyện tìm mộ thì “linh hồn” cô Khang và anh Sơn biến mất. Khi đó, cuộn băng ghi âm 90 phút cũng vừa hết. GS Phương đã nghe đi nghe lại cả trăm lần cuốn băng này và ông không thể nào bác bỏ những sự thật hiển nhiên của cái gì đó gọi là “linh hồn”. Vậy nên, ông tiếp tục tiến hành cuộc tìm mộ người em gái lần thứ hai.

GS Phương cùng anh em trong nhà tiếp tục xuống địa điểm đào bới lần trước. Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng cùng đi để chỉ địa điểm cho chính xác. Chị Hằng đến gần gốc nhãn, ngắm nghía một lát rồi cắm hương xuống đất. Lấy bó hương làm tâm, chị vạch một ô hình chữ nhật để đào.

Nhìn bó hương của chị Hằng, GS Phương thấy nó cách chỗ đặt quả trứng lần trước 2m ra phía bờ ao, nhưng lại lui về hướng đông 1m. So với điểm con bướm đậu và cây que thì cũng xê dịch chừng 1m về hướng đông.

Trong khi thợ đào đất chuẩn bị làm việc, nhà ngoại cảm Bích Hằng đặt ảnh cô Khang dưới gốc cây vải phía cuối cái hố rồi nói: “Thưa cô, chỗ cô nằm thì cháu đã vạch theo tọa độ cô chỉ dẫn rồi, cô xem đã thật chính xác chưa để chỉ bảo cho cháu. Còn hài cốt thì như hiện trạng cháu nhìn thấy còn rất ít, khi bốc lên có thể mủn ra. Vậy xin cô cho phép bốc lẫn cả đất mang về. Nếu không được đầy đủ thì cô cũng thông cảm cho...”.

“Anh Sơn” nói chen vào qua sự “phiên dịch” của Bích Hằng: “Cứ bốc cho bằng hết, dù ít dù nhiều thì cũng là máu thịt của em mình. Không bỏ vừa trong tiểu thì đắp lên mộ cho em”.

“Cô Khang” lại nói tiếp: “Nếu có cách gì làm cho cụ Đặng Đình Giám sống lại thì gia đình mình khỏi mất công đi tìm kiếm. Rất tiếc là đã gặp cụ ở âm phủ mất rồi. Em bị chúng nó ném xuống sông, khi xác nổi lên gặp lúc triều cường, dạt vào một khúc quanh nên được cụ Giám vớt lên kéo qua một cái rãnh nước. Cụ bảo: Mấy vị chết ở đây, nếu đói khát, khi nào ông An lên hương thì vào mà xin lộc”.

Sau một hồi trò chuyện trên trời, dưới bể liên quan đến những hài cốt ở quanh khu vườn, chị Hằng “xin phép cô Khang” cho bắt đầu đào mộ.

Đào hết lớp đất “vượt thổ” thì chị Hằng ra lệnh cho thợ ngừng đào. Chị nhảy xuống hố lấy dầm gạt nhẹ từng lớp cát đen. Chưa đến một gang tay thì vướng ngay vào thanh củi mục. Nạy lên, ngâm vào nước thì nhận ra đó là một khúc tre già, ruột tre đã phân hủy hết, nhưng đốt và cật tre thì vẫn còn nguyên. Mọi người đều kinh ngạc khi biết thông tin về cái cán thuổng đã được báo trước.

Riêng GS Phương thì mừng khôn xiết vì đây là dấu hiệu đáng tin cậy nhất để nhận biết nấm mộ này đích thực là mộ em gái ông. Cái cán thuổng (nhà ngoại cảm nói trước đó rằng, khi người chôn xác đào đất bị gãy thuổng đã chôn luôn cán làm dấu) đã bị vùi dưới đất cách đây 50 năm, người đời không ai tạo ra nó và cũng không thể nhìn thấy nó được. Sự chính xác đã đạt đến mức chi tiết.


au khi tìm thấy cán thuổng, chỉ gạt vài lớp cát mỏng là phần cốt cô Khang hiện ra. Khi chôn, người ta đã đặt cô nằm nghiêng, người hơi cong, mặt nhìn về hướng nam, đầu về hướng đông, chân về hướng đông nam, trùm lên sọ là một mảng tóc đen, rồi đến đốt xương cổ nhìn rất rõ. Nhưng khi bốc lên thì tóc vụn ra như tro, những đốt xương nguyên vẹn mủn ra như những chiếc bánh quy thấm nước.

Mọi người cũng tìm được 5 chiếc răng. Xem xét kỹ thì đúng là răng trắng (chứ không phải nhuộm đen như phụ nữ thời đó), nhưng do ngâm lâu trong bùn nên ngả sang màu đen xỉn. Còn chiếc còng sắt thì tìm mãi không thấy. GS Phương nhận định, có thể qua nhiều năm trong bùn đất nó đã han gỉ rồi tan vào đất mất rồi.

Sau khi tìm mộ, nhà ngoại cảm Bích Hằng nói với GS Phương: “Lần này đi tìm mộ cô Khang, cháu thương cô quá. Cháu hỏi cô rằng cô chỉ cho cháu móng tay cô ở đâu để cháu tìm thì cô giơ hai bàn tay lên trước mặt cháu, nói: Chúng nó rút hết móng tay của cô rồi còn đâu mà tìm”. GS Phương bàng hoàng kinh ngạc vì điều này chỉ có mình ông biết.

Sau khi cô Khang bị giặc sát hại, Huyện ủy Phù Cừ gửi riêng cho ông một bản báo cáo kể rõ cô Khang bị bắt, bị tra tấn, bị giết hại như thế nào. Trong những cực hình mà địch sử dụng có việc dùng kìm rút hết móng tay, rồi cắm kim vào đó. Chúng còn gí điện, xiên gậy vào người rồi treo lên cành cây mà đấm đá đến chết.

Khi nhận được bản báo cáo đó, ông Phương đã khóc rất nhiều, tuy nhiên, ông giữ kín điều này, không cho ai biết để rồi phải đau lòng. Khi được chị Hằng kể lại điều đó, ông có một niềm tin chắc chắn người nằm dưới mộ đích thực là em gái của ông, không ai khác được.

Công việc thu vét hài cốt xong xuôi thì nắng chiều đã tắt. Mọi người vây quanh gốc cây vải, nơi đặt bàn thờ tạm. Đến nhá nhem tối, gia đình GS Trần Phương mới đưa hài cốt của cô Khang về nhà. Hai ngày sau, lễ truy điệu nữ du kích anh hùng Trần Thị Khang (tên thật là Vũ Thị Kính) đã diễn ra trang trọng tại nghĩa trang liệt sĩ của huyện với sự có mặt của hàng ngàn người.

Khuôn mặt của GS Phương đầy vẻ xúc động và mãn nguyện. Nỗi day dứt sau nửa thế kỷ của ông là lời hứa với mẹ sẽ tìm hài cốt em gái về giờ mới thực hiện được. Tuy nhiên, những bí ẩn của thế giới tâm linh huyễn hoặc sẽ vẫn còn ám ảnh ông mãi mãi, bởi ông là một nhà khoa học, không tìm ra được lời giải cho những hiện tượng kỳ bí này, lòng ông khó có thể nguôi ngoai...

Trích:
Nhà nghiên cứu, đại tá Đỗ Kiên Cường, phân viện phó Phân viện Vật lý y sinh học, trung tâm khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự (Bộ Quốc phòng): Các lí do nghi ngờ ngoại cảm:

1. Sự tiến bộ không ngừng là tiêu chí của một khoa học tốt, nhưng môn ngoại tâm lý thì không đạt được một tiến bộ đáng kể nào sau cả trăm năm.

2. Ngoại cảm được định nghĩa một cách khác thường, không phải theo nghĩa nó là cái gì mà theo nghĩa nó không là cái gì!

3. Các tuyên bố về chứng cứ khoa học của ngoại cảm thường bị cách ly khỏi quan điểm thông thường của môn thống kê học.

4. Các nghiên cứu ngoại cảm thường mắc lỗi giản lược trong phương pháp luận.

5. Ngoại cảm không liên quan với bất cứ một lý thuyết khoa học đã được xác lập nào.

6. Tính lặp lại là điều cốt tử của các khoa học thực nghiệm. Ngoại cảm không thỏa mãn tiêu chí này.

7. Ngụy tạo, lừa gạt là bạn đồng hành với ngoại cảm trong suốt tiến trình lịch sử.

GS Phương còn hỏi ngày giỗ cô Khang là ngày nào thì “cô Khang” trả lời: “Đối với anh Phương thì ngày nào mà giỗ chả được. Em bị chúng nó bắt có được bóc lịch đâu mà biết ngày. Chỉ nhớ một hôm vào khoảng 18 hay 19 gì đó thằng quan tư bảo: “Bọn mày cứng đầu đến ngày 24 mà không khai thì bắn bỏ”. Anh cứ lấy ngày ấy là được, còn ngày âm lịch thì em không biết là ngày nào”. Sau này so ra thì mới biết ngày 24/5/1950 là ngày 10/5 âm lịch.




Những linh hồn ở K’nak và nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng
Trong trận đánh K’nak tại Tây Nguyên, 400 chiến sĩ Quân giải phóng cùng với hàng trăm du kích, dân công đã hy sinh. Sự thật bi tráng này sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn dưới dòng Đắk Lốp nếu không có hành trình tìm anh trai đầy nước mắt của anh Phạm Văn Mẫn.

Trong kỳ trước của phóng sự, tôi có nhắc đến công lao của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng với việc dựng lại sự thật lịch sử của trận đánh K'Nak ở Tây Nguyên đầy bi tráng. Trong trận đánh này, 400 chiến sĩ Quân giải phóng cùng với hàng trăm du kích, dân công đã hy sinh dưới mưa bom bão đạn của địch.

Sự thật bi tráng này sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn dưới dòng Đắk Lốp nếu như không có sự phát hiện của các nhà ngoại cảm và hành trình tìm anh trai đầy nước mắt của anh Phạm Văn Mẫn, Giám đốc Công ty S-fone. Sau khi bài báo phát hành, anh Mẫn và nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng gọi tôi đến để cung cấp thêm những sự thật lịch sử và câu chuyện hết sức kỳ lạ này.

Tại ngôi nhà 34 Hòa Mã, Hà Nội, vào ngày 7/3/2007, trong khói hương nghi ngút, trầm mặc, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng chắp tay trước bàn thờ, nói giọng nghèn nghẹn: “Kính mong anh Thành và vong linh các liệt sĩ phù hộ để các nhà ngoại cảm tìm được nốt những liệt sĩ còn nằm dưới dòng Đắk Lốp và trong rừng rậm K'Nak ở Tây Nguyên...”.

Anh Phạm Văn Mẫn cũng chắp tay, nói với giọng thành kính: “Dù tìm thấy anh rồi nhưng em sẽ vẫn tiếp tục đi tìm những liệt sĩ còn nằm lại ở K'Nak. Hàng năm, em vẫn thực hiện lời anh dặn là vào K'Bang trong những ngày lễ, ngày thương binh - liệt sĩ để thắp hương cho các liệt sĩ còn chưa tìm thấy hài cốt để các liệt sĩ đỡ cô quạnh.

Cả nước sẽ chung tay đóng góp xây dựng đài tưởng niệm và nghĩa trang liệt sĩ K'Bang để người đời sau không quên các anh, các bác, các chú đã phải đổ xương máu như thế nào để đất nước có được như ngày hôm nay...”.

Trở lại hành trình đi tìm mộ liệt sĩ đầy nước mắt của anh Phạm Văn Mẫn. Anh Mẫn sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở Xuân Trung, Xuân Trường, Nam Định. Năm 1964, khi Mẫn mới 10 tuổi, người anh Phạm Văn Thành lên đường nhập ngũ.

Anh đi giữa lúc chiến trường vô cùng ác liệt. Gia đình chưa nhận được một lá thư, một dòng nhắn gửi thì đã nhận được giấy báo tử. Sét đánh ngang tai, người mẹ già im lặng, chiều chiều ra gốc đa đầu làng ngồi khóc, vái lạy về phương Nam.

Cậu bé Mẫn thương anh mắt nhòe lệ. Cậu vẫn nhớ cái ngày anh Thành lên đường nhập ngũ. Lúc lên xe, anh đã dúi vào tay Mẫn nắm cơm, khẩu phần ăn mà đơn vị đã phát cho anh trước lúc lên đường.

Ngay khi đất nước thống nhất, dù mới 21 tuổi, Mẫn vẫn quyết chí ngang dọc Nam - Bắc đi tìm anh, cho dù trên tay chỉ có vẻn vẹn một thông tin: “Hy sinh ở mặt trận phía Nam”. Ngày đó, có một nhân chứng, hiện đã 80 tuổi nói mơ hồ rằng: “Có thể liệt sĩ Phạm Văn Thành đã được an táng vào nghĩa trang nào đó rồi”.

Lúc bắt xe khách, khi đi xe máy, lúc thì cuốc bộ dọc đường Trường Sơn, hễ gặp nghĩa trang nào là anh Mẫn cũng rẽ vào và lần từng ngôi mộ để tìm tên Phạm Văn Thành. Suốt bao nhiêu năm trời, cứ kiếm được đủ tiền tàu xe, anh lại lên đường.

Nhiều khi cũng nản, nhưng mỗi lần về thăm quê, lại gặp người mẹ già ngồi ở gốc đa đầu làng, đón anh hỏi về thông tin phần mộ anh Thành, anh lại quyết tâm hơn. Những tháng năm vất vả tìm anh trai, thương mẹ già ngóng đợi khiến mái tóc anh Mẫn bạc sớm. Giờ đây, ở cái tuổi ngoài 50, những sợi tóc trắng đã trùm kín mái đầu.

Năm 1990, khi vào nghĩa trang Vĩnh Thạnh (Bình Định), anh thấy một ngôi mộ đề: Liệt sĩ Phạm Văn Thành, không quê quán, không ngày mất. Không hiểu vì sao, khi tìm thấy ngôi mộ này, lòng anh trào dâng xúc động và rất tin tưởng đây là người anh trai của mình.

Tuy nhiên, khi trình bày nguyện vọng được đưa hài cốt “anh trai” về thì người quản trang từ chối kịch liệt, bởi anh không đưa ra được bằng chứng nào khẳng định đây là ngôi mộ của anh trai anh. Còn liệt sĩ có tên Phạm Văn Thành thì ở nước ta có đến cả trăm.

Không có cách nào thuyết phục được người quản trang, anh Mẫn tiến hành... đào trộm. Đêm ấy, nai nịt gọn gàng, cuốc xẻng sắc lẹm, đợi khi người quản trang ngủ say, anh lẻn vào nghĩa trang.

Khi vừa chuẩn bị đào mộ thì mây mù ùn ùn kéo đến che lấp ánh trăng, giông gió nổi lên, sấm chớp đùng đùng rồi mưa như trút nước khiến anh không thể tiến hành đào mộ. Đêm hôm sau, anh thuê thêm vài người nữa, cũng lẻn vào nghĩa trang lúc ban đêm để đào trộm.

Đêm hôm đó giông gió cũng lại nổi lên, sấm chớp đùng đùng, một tia sét đánh thẳng xuống khu nghĩa trang khiến mọi người chạy tán loạn. Không nhụt chí, anh lại tiếp tục tiến hành đào trộm khi đã có sự chuẩn bị chu đáo.

Lần này, dù trời có mưa cũng quyết chí phải bốc được hài cốt anh lên đưa về quê hương. Thế nhưng, đang đào dở thì bị người quản trang vác gậy đuổi. Ngẫm lại mọi sự kiện xảy ra, anh Mẫn nghĩ rằng: phải chăng người nằm dưới mộ không phải anh mình nên đã ngăn không cho mình mang về?

Thất vọng với suy nghĩ ấy, vả lại người quản trang đã tỉnh táo hơn, nên không còn cách nào đào trộm được, anh đành phải ra Bắc.

Một thời gian sau, lại có một nhân chứng khẳng định: Anh Thành phải được an táng ở Tây Nguyên chứ không phải ở Bình Định. Thế rồi, anh Mẫn lại tìm được ngôi mộ trong một nghĩa trang ở Tây Nguyên, ghi: Trần Văn Thành, quê miền Bắc, hy sinh năm 1965.

Quê miền Bắc và năm hy sinh đã đúng, nhưng liệt sĩ này lại là họ Trần chứ không phải họ Phạm. Với suy nghĩ, giấy báo tử có khi còn nhầm tên họ, huống chi là tấm bia mộ, nhầm lẫn là chuyện thường, nên anh rất tin người nằm dưới nấm mồ này là anh trai mình.


Bích Hằng đang tìm mộ liệt sĩ bên hồ Đắk Lốp


Cũng lại như lần trước, người quản trang nhất định không cho anh mang hài cốt về. Lúc này, anh đã có nhiều "kinh nghiệm" đào trộm mộ nên anh tin chắc sẽ thành công.

Sau khi báo cáo với gia đình, chính quyền xã Xuân Trung về việc... tìm thấy mộ liệt sĩ Phạm Văn Thành, anh Mẫn tiếp tục lên đường vào Tây Nguyên. UBND xã đã chuẩn bị mọi thủ tục để tổ chức thật long trọng lễ đón hài cốt liệt sĩ trở về quê hương.

Trong chuyến đi ấy, chiếc xe khách anh Mẫn ngồi không hiểu sao đang chạy tự dưng quay ngang ra giữa đường rồi chết máy. Mấy lần đào mộ cũng vậy, đều gặp mưa gió, sấm chớp khiến anh không thể đào được.

Sau một lần bị người quản trang tóm được dọa báo với công an thì cũng hết hy vọng đào trộm luôn. Anh Mẫn nghĩ rằng, những lực cản vô hình đó đã nhắc nhở anh rằng đó không phải là ngôi mộ của anh trai mình.

Đến năm 2000, sau khi việc tìm kiếm ở các nghĩa trang bế tắc, anh Mẫn quyết định đi tìm gặp toàn bộ nhân chứng ở Quân khu V, từng biết đến trận đánh ở K'Nak để nắm thông tin chính xác hơn.

Anh đã gặp được rất nhiều người ở mọi miền Tổ quốc, trong đó, lưu tâm nhất là cựu chiến binh Nguyễn Trọng Ẩm, nguyên Tiểu đoàn phó, phụ trách hậu cứ. Ông Ẩm khẳng định chính tay ông đã đào hố an táng anh Thành cùng 7 liệt sĩ khác. Một vài nhân chứng nữa cũng khẳng định giống nhau là đã kéo được thi thể anh Thành và 7 liệt sĩ nữa ra khỏi trận đánh và chôn cách mép suối Đắk Lốp 25 m, gần trạm Trung phẫu.

Thế là hành trình đào đất tìm mộ vô cùng gian khổ đã diễn ra. Cứ mỗi năm 5-6 lần, anh Mẫn lại “trốn” cơ quan vào biệt Tây Nguyên, lội bộ trong rừng mấy tiếng đồng hồ tìm đến dòng Đắk Lốp. Mỗi lần vào Tây Nguyên, anh lại tổ chức đón các cựu chiến binh cùng đi, những người từng tham gia trận đánh và biết về nơi chôn cất anh Thành.

Các nhân chứng đều đã già yếu, trí nhớ giảm sút nên không nhớ chính xác địa điểm chôn vì sau 40 năm địa hình, địa vật đã thay đổi quá nhiều. Dòng Đắk Lốp khi xưa giờ đã bị chặn lại làm đập thủy điện và dự trữ nước. Thậm chí, cả trạm Trung phẫu giữa rừng khi xưa họ cũng không nhớ chính xác chỗ nào nữa.

Tát biển mò kim, anh Mẫn cứ căng dây từ mép suối lên bìa rừng 25 m rồi đào sâu xuống lòng đất 2 m. Sau nhiều lần đào bới, một con hào có chỗ rộng đến gần 1 mét, dài hơn 500m hình thành bên dòng Đắk Lốp, anh Mẫn tốn kém không biết bao nhiêu công sức, tiền của, nhưng tuyệt nhiên không thấy bộ hài cốt nào.


.




Những linh hồn ở K’nak và nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng
Tiếp theo


Cũng từ những năm tháng bỏ công sức đi tìm anh trai, gặp gỡ các nhân chứng lịch sử mà anh Mẫn mới biết đến một trận đánh khốc liệt năm xưa. Và cũng chính từ cuộc đi tìm mộ đầy gian khổ của anh Mẫn mà bức màn bí mật về trận đánh khốc liệt ở K'Nak đã được vén lên.

Cụm cứ điểm K'Nak nằm trên một mỏm núi, thuộc huyện K'Bang (Gia Lai), cách phía bắc thị trấn An Khê khoảng 25 km đường ôtô, 10 km đường rừng và vài giờ đi bộ. Mỏm núi này được bao bọc bởi các thung lũng, khe suối, sình lầy, có tác dụng cản đường tiến quân, tập kích của đối phương.

Từ căn cứ này, qua đường không, địch có thể nhanh chóng kiểm soát các hướng di chuyển của ta từ Bắc vào Nam và từ miền Trung lên Tây Nguyên. Bằng đường bộ, địch có thể tập kích vào các hướng di chuyển của quân ta từ Bình Định lên Pleiku.

Tại đây, quân địch đã xây dựng một cụm cứ điểm bao gồm đồn lũy, trận địa pháo và nhiều hàng rào thép gai, bãi mìn dày đặc để bảo vệ. Cách mỏm núi 2 km có mỏm núi cao hơn, được chúng san bằng làm bãi đáp máy bay trực thăng và một trận địa pháo binh chi viện cho K'Nak, cũng cách cứ điểm hơn 2 km.

Tại cứ điểm K'Nak luôn có một tiểu đoàn, khoảng 450 đến 500 tên chiếm đóng, canh giữ nghiêm ngặt. Quân ta đã nhiều lần tấn công cụm cứ điểm này nhưng toàn bị địch đánh bật trở ra.

Đầu năm 1965, Bộ tư lệnh Quân khu V và Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên quyết định tập trung lực lượng với quy mô lớn nhằm tấn công san phẳng cứ địa này.

15h ngày 7/3/1965, quân ta xuất phát từ căn cứ Kong Hà Nừng (Vĩnh Thạnh) tiến về địa điểm tập kết đông K'Nak. 18h, quân ta tiến đến sát suối Đắk Lốp và 19h thì tiếp cận mục tiêu. Tất cả các vị trí đều đã triển khai theo kế hoạch, chỉ còn chờ hiệu lệnh là tấn công, chiếm lĩnh các điểm trọng yếu rồi đánh xốc vào trung tâm căn cứ, khiến địch không kịp triển khai không lực.

Tuy nhiên, vào lúc 23h30’, bộ đội ta vấp phải mìn nổ, mìn sáng. Địch lập tức nhả đạn pháo trùm lên toàn bộ đội hình D904, E10. Tiến thoái lưỡng nan, các đơn vị của ta chấp nhận hy sinh, dốc toàn lực vượt qua bão đạn, tấn công vào các vị trí của địch.

Sau nhiều giờ chiến đấu dũng cảm, quân ta đã đánh chiếm được điểm cao phía bắc và phía nam, nhưng hướng chủ yếu ở giữa chỉ chiếm được một nửa và đã bị quân địch nhả đạn như mưa rào từ các hầm cố thủ, khiến thương vong rất nặng.

Tham mưu trưởng Lê Sơn Hổ cùng trợ lý tác chiến Bình lao lên tổ chức số cán bộ, chiến sĩ còn lại ở điểm cao phía bắc để đánh sang khu trung tâm, nơi có hệ thống hầm hào cố thủ. Tuy nhiên, mới bắt đầu tấn công, hai đồng chí Hổ và Bình đã bị trúng đạn.

Sau đó các chiến sĩ quyết tử xông lên cũng đều ngã xuống bởi hỏa lực dữ dội của địch. Đến 0h30’ ngày 8/3/1965, quân ta thương vong nhiều. Địch tổ chức lực lượng phản kích khiến lực lượng còn lại của ta tiếp tục hy sinh...

Trước khi quân ta tổ chức tấn công, đồng chí Nguyễn Trọng Ẩm đã chỉ đạo đào sẵn 50 huyệt bên suối Đắk Lốp, cạnh trạm Trung phẫu, cách vị trí địch 8 km để mai táng liệt sĩ sau trận đánh.

Chỉ có 8 thi thể liệt sĩ là được mai táng, trong đó có liệt sĩ Phạm Văn Thành và Tiểu đoàn trưởng Ngô Trọng Đãi. 8 đồng chí bị hy sinh ngay từ đầu trận đánh nên mới đưa ra được phía sau để chôn cất. Về sau, địch phản kích anh em hy sinh gần hết, lực lượng cứu thương cùng dân công hỏa tuyến cũng hy sinh nên không còn người cấp cứu và tải thương ra.

Trích:
Theo tổng kết từ các đề tài nghiên cứu khả năng tìm mộ thành công của các nhà ngoại cảm chỉ đạt 60%. Tuy nhiên, 40% còn lại không phải hoàn toàn do lỗi của các nhà ngoại cảm mà có nhiều nguyên nhân như: Địa điểm có hài cốt (nơi có nhiều loại sóng, tia đất làm nhiễu xạ thông tin thì khó tìm - PV); sự kiên nhẫn của người đi tìm (nếu người đi tìm mộ không kiên trì, thành tâm hướng đến người chết, tin tưởng vào nhà ngoại cảm thì nhà ngoại cảm rất khó thu nhận thông tin, hoặc thu nhận không chính xác); đặc biệt, những người hay nản chí, phát biểu thiếu xây dựng... không khác gì “khủng bố” (từ của Bích Hằng) các nhà ngoại cảm, khiến họ mất hết khả năng.

Các nhà khoa học ở Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người, các nhà ngoại cảm, thân nhân liệt sĩ trong trận đánh K'Nak và Chuyên đề ANTG kêu gọi bạn đọc cả nước chung tay đóng góp xây dựng đài tưởng niệm tại K'Nak và tân trang, mở rộng nghĩa trang liệt sĩ K'Bang.
Hiện tại nghĩa trang liệt sĩ K'Bang quá nhỏ, trong khi đó, các nhà ngoại cảm vẫn đang tiếp tục tìm kiếm và sẽ còn tìm thấy hàng trăm liệt sĩ nữa trong rừng sâu K'Nak


Thursday June 11, 2009 - 02:38pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments
Nhà ngoại cảm số 1 Viẹt Nam Phan Thị Bích Hằng
Phan Thị Bích Hằng sinh ra và lớn lên ở một ngôi làng nghèo thuộc xã Khánh Hòa, Yên Khánh,

Ninh Bình.

Năm 1990, khi 17 tuổi, vừa thi đại học về, Hằng cùng một cô bạn gái đang đi trên đường

bỗng có một con chó nhảy xổ ra cắn.

Hằng bị cắn vào chân trái, cô bạn gái bị cắn vào tay trái.

Vài ngày sau khi bị chó cắn, Hằng nhận được giấy báo đỗ đại học.

Khoảng một tháng sau, cô bạn đột nhiên không nói được nữa, hàm răng cứng lại.

Nghĩ là bị đau răng, Hằng đưa cô bạn đi khám. Bác sĩ kiểm tra và khẳng định không phải do

đau răng. Sau khi khám xét, bác sĩ bảo bạn gái của Hằng có triệu chứng của người bị bệnh

dại.Tưởng như đất dưới chân sụt xuống, tử thần đã nắm tay mình dắt đi, Hằng nói như người

mất hồn: “Đúng như vậy. Cháu và cô bạn đều bị một con chó cắn”.

Sau hôm đó, Hằng cũng hôn mê bất tỉnh. Cô bạn thân thì đã qua đời.

Gia đình đưa cô đi chữa trị nhiều nơi, song các bác sĩ, thầy lang đều lắc đầu, bởi bệnh này từ

xưa đến nay không ai chữa khỏi.

Khi đến nhà một ông thầy lang theo Thiên Chúa giáo, ông xem xét rồi nói một câu an ủi:

“Chúa lòng lành sẽ che chở cho con”.

Sau đó, ông bảo người con trai ra nghĩa địa lấy một mảnh ván mà người ta vừa bốc lên hôm

trước, rồi bào chế với vài vị thuốc.

Để giành giật giữa sự sống và cái chết, gia đình Hằng liền cho cô uống ngay vị thuốc khủng

khiếp này.

Sau khi uống thuốc, ông thầy lang bảo với bố mẹ Hằng: Sau ba tiếng đồng hồ cháu sẽ cảm

thấy nóng khắp người, lên cơn sốt mê man, nói sảng, thậm chí lên cơn điên cắn xé.

Nếu ba ngày sau cháu hết cơn thì cháu sống được còn nếu lên cơn trở lại thì cháu không sống

được nữa. Tôi rất muốn cứu cháu nhưng khả năng của tôi chỉ có vậy.

Đúng như lời ông thầy lang nói, 9h tối Hằng lên cơn cắn xé điên cuồng, đến 11h đêm mới

thiếp đi.

Ngày thứ nhất, ngày thứ hai không thấy triệu chứng gì. Ngày thứ ba, khi cùng người anh trai

của cô bạn gái đã mất ra mộ thắp hương thì đột nhiên Hằng cảm thấy có một luồng khí lạnh

chạy dọc sống lưng.

Hằng liền nói: “Anh đưa nhanh em về, em sắp lên cơn điên rồi”. Từ đấy, Hằng không còn biết

gì nữa.

Đến 1h sáng hôm sau, gia đình không còn hy vọng bởi Hằng đã hoàn toàn tắt thở.

Bình thường, những người trẻ tuổi như Hằng ở quê được khâm liệm rất nhanh rồi đem chôn,

không tổ chức lễ tang, kèn trống.

Thế nhưng, có một ông cụ dạy chữ nho ở làng rất giỏi tử vi vào nhà Hằng, sau một hồi tính

toán, ông bảo: “Thứ nhất, chưa qua giờ Thìn không được khâm liệm cháu; thứ hai, cứ để nó

nằm như thế, không được thắp hương”.

Lúc đó, một ông bác sĩ nói: “Tốt nhất đậy mặt cháu lại, để gia đình đi chuẩn bị cho cháu, tại

sao cụ lại nói vậy”.

Ông cụ đó nói tiếp: “Các anh thì có cả một nền y học hiện đại, còn tôi chỉ là tàn hương nước

thánh, nhưng tôi khẳng định nó không chết”.

Nghe cụ già và bác sĩ tranh cãi, gia đình Hằng rất hoang mang, không biết xử trí thế nào.

Thế nhưng, ai đi mua gỗ đóng quan tài cứ đi, ai ngồi chờ xem lời ông cụ linh ứng thế nào thì

cứ chờ.

Hồi khắc khoải chờ chết, Hằng có hỏi bố (bố Hằng là quân nhân): “Vì sao những vị lãnh đạo

khi chết người ta lại bắn bảy loạt đại bác”, bố Hằng trả lời: “Để linh hồn mau siêu thoát”.

Nghe bố nói vậy, Hằng liền bảo: “Khi con mất bố bắn cho con bảy phát đạn để con mau siêu

thoát trở về với gia đình mình”.

7h sáng hôm đó bố Hằng mới về đến nhà. Trông thấy đứa con gái tội nghiệp tắt thở nằm đó

ông không kìm được nước mắt.

Nhớ lời hứa với đứa con gái, ông lôi súng ngắn ra bắn. Tiếng súng nổ làm Hằng bật tỉnh dậy

và phản xạ đầu tiên là lao ra phía tiếng súng gọi “Bố ơi!”.

Hằng đạp phải những chiếc vỏ đạn và ngã rất mạnh xuống sân. Mọi người liền khiêng cô vào

trong nhà.

Sau khoảng nửa tiếng, Hằng tỉnh lại hoàn toàn. Khi đó, một cảm giác rất kỳ lạ đến với cô.

Thân thể dường như mất trọng lượng, như đang bay và nhìn mọi người như ở một thế giới

khác.

Theo lời Hằng, trong thời gian 30 phút bất tỉnh do trượt ngã đập đầu xuống sân, cô thấy bà

nội và bà ngoại (cả hai đều đã mất) gọi cô.

Hằng thấy mình đang đi qua một cây cầu bắc qua con sông lớn với mây mờ sương khói bao

phủ.

Phía bên kia cầu, bà ngoại cùng rất nhiều người đứng vẫy tay, bà nội thì đứng bên bờ này

kéo lại.

Cố vùng vẫy, Hằng tuột khỏi tay bà. Đúng lúc đó thì tiếng súng làm Hằng giật mình tỉnh dậy.

Mọi người đều vui mừng khôn xiết, coi việc Hằng sống lại là chuyện thần kỳ.

Vài tháng sau, khi khỏe mạnh hẳn, Hằng thường đi lung tung, không có định hướng.

Điều kỳ dị là nhìn mặt mọi người Hằng có thể biết được họ còn sống lâu hay sắp chết.

Một số người đang khỏe mạnh song lại cứ như có ai đó nói với cô rằng họ sắp chết, thế là cô

tìm họ nói cho họ biết rằng họ sắp chết.

Không ít lần cô bị ăn đòn vì... độc mồm, độc miệng. Ngày đó, trong làng có ông Vũ Văn Trác,

50 tuổi, rất khỏe mạnh và quý mến Hằng. Ngày Hằng còn bé, có cái bánh, cái kẹo ông đều

dành cho.

Một hôm, gặp ông Trác đi làm đồng về, Hằng bảo: “Ông ơi, chắc là ông sắp mất rồi. Ông đừng

đi làm nữa cho khổ!”.

Nghe Hằng nói thế, ông Trác cầm cái roi trâu quát: “À, tưởng là con cô giáo mà tao không

dám đánh à? Bố mày có là đại tá thì hôm nay tao cũng phải cho mày một trận”.

Khi ông Trác cầm roi trâu đuổi, Hằng còn vừa chạy vừa quay lại bảo: “Ông sẽ chết thật mà”.

Ông Trác tức sôi máu đánh Hằng một trận, cô đau phát khóc, nhưng vừa khóc vừa khẳng

định vài ngày nữa ông sẽ chết.

Hôm ấy những người chứng kiến được bữa cười ra nước mắt. Nhưng rồi, vài ngày sau loa

truyền thanh xã thông báo ông Trác chết thật. Thông tin ấy làm cả làng sợ hãi.

Tiếp sau ông Trác là ông Bùi Văn Trai, Chủ nhiệm HTX thêu xuất khẩu xã Khánh Hòa.

Ông Trai là bạn rất thân của mẹ Hằng. Hôm đó, giữa hội trường UBND xã, rất nhiều người

chứng kiến, Hằng nói: “Đến tháng giêng là chú chết đấy, có bao nhiêu hợp đồng xuất khẩu

chú bàn giao hết đi, nếu không đến lúc ấy lại không kịp”.

Ông Trai bực mình nói với bố mẹ Hằng rằng: “Anh chị phải về dạy bảo con, chứ cứ để nó

huyên thuyên như thế là không được”.

Không ngờ, đầu tháng giêng ông Trai chết thật. Sau chuyện đó cả làng bảo Hằng bị ma ám,

nói ai chết là người ấy chết. Người ta cứ nhìn thấy Hằng là tránh xa.

Mọi người trong gia đình Hằng đều đau khổ. Mẹ Hằng là giáo viên dạy giỏi nhiều năm, các

phụ huynh đều rất tin tưởng khi con cái họ học lớp bà chủ nhiệm, nhưng biết chuyện của

Hằng thì đều xin cho con chuyển lớp.

Hằng ra sức thuyết phục mọi người rằng cô không bị thần kinh, những chuyện đó là do cô

nhìn thấy, nhưng không ai tin.

Cha mẹ Hằng đưa cô đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác khám thần kinh, rồi đưa đi gặp

hết “cậu nọ, cô kia” cúng bái.

Mặc dù khi đó Hằng có khả năng phán đoán được tình trạng sức khỏe, thậm chí cả suy nghĩ

của người khác, song Hằng đau khổ đến nỗi chỉ mong quên hết khả năng ấy đi.

Theo lời kể của Hằng, một ngày, trong cơn tuyệt vọng, Hằng ao ước được "nhìn thấy" bà nội

và bà ngoại, những người cô rất yêu quý.

Thế rồi, kỳ lạ thay, vào ngày giỗ bà nội, Hằng “nhìn thấy” bà nội (bà chết khi Hằng 10 tuổi)

về, bế theo một đứa trẻ và dắt theo một đứa nữa.

Hằng nói chuyện với bà, rồi kể cho mọi người nghe. Ông nội nghe Hằng nói liền kể rằng đó là

hai đứa con của ông đã mất lúc tám tháng và ba tuổi.

Lúc này, mọi người mới kinh hoàng nhận ra rằng, Hằng có khả năng đặc biệt.

Ngôi làng Hằng đang sống có ngôi chùa Dầu rất cổ. Khi nhà Trần đánh tan Chiêm Thành, bà

Huyền Trân Công Chúa không về Thăng Long mà vào tu ở ngôi chùa này.


Sau này gia tộc họ Trần cũng về đây ở, rồi chết đi thì chôn luôn ở quanh chùa.

Một lần, Hằng vào nhà ông chú ruột chơi rồi bảo rằng, trong vườn nhà chú có bóng người.

Nhà chú Hằng ai cũng mắc bệnh kỳ lạ, teo một bên chân, ngoẹo một bên đầu về bên phải,

nên ông rất tin lời Hằng nói.

Thế là hai chú cháu đào bới thử mảnh vườn. Không ngờ thấy một lớp ngói đã mục, rồi đến

một lớp đất đỏ.

Gạt lớp đất đỏ ra thì thấy lớp quách bằng hợp chất gồm vỏ hến, vôi, mật. Phá lớp này ra thì

thấy cỗ quan tài chạm trổ rất đẹp bằng gỗ ngọc am.

Bật nắp quan tài thấy xác ướp người đàn ông. Sau này, các nhà sử học xác định ngôi mộ có

tuổi 700 năm.

Chính gia đình Hằng cũng để thất lạc mộ cụ bốn đời. Nhiều lần, bố Hằng nhờ đồng đội về đào

bới mà không thấy.

Đúng ngày giỗ cụ, Hằng thử đi tìm. Không ngờ, Hằng “nhìn” thấy mộ cụ nằm trên đường đi.

Hằng liền rủ mấy người anh ra đường đào.

Mấy anh bảo vệ xã nhìn thấy thì bảo: “Chết dở thật. Con ông bộ đội rỗi việc đi phá đường”.

Hằng khẳng định dưới lòng đường có mộ thì mấy anh bảo vệ bảo: “Thế thì đem cuốc xẻng ra

đào thử xem con dở hơi này nó nói có đúng không!”.

Khi đào sâu gần 2m thì xuất hiện một tấm gỗ có khảm chữ Hán. Hằng liền đem rửa mảnh gỗ

đi rồi mang cho ông nội đã 80 tuổi đọc.

Ông nội Hằng đọc thấy hai dòng chữ ở hai mặt tấm gỗ là “Âm thủy quy nguyên” và “Vinh quy

bái tổ” thì lăn ra khóc.

Bao nhiêu năm nay đã nhiều đêm ông không nhắm mắt được vì đã để thất lạc mộ tổ.

Lúc này, mọi người không còn nghi ngờ gì về khả năng đặc biệt của Hằng nữa.

Nhưng bố Hằng, là một cán bộ được rèn luyện trong môi trường quân ngũ, tính tình cứng rắn,

chỉ tin vào khoa học nên vẫn chưa tin vào khả năng của Hằng.

Ông bỏ cả việc cơ quan để ở nhà trông Hằng, đuổi hết những người tìm đến “cầu thánh, cầu thần”.
Để chứng minh với bố rằng cô không bị thần kinh, không bị hoang tưởng di chứng chó dại

cắn, cô xin bố cho đi thi đại học và hứa chắc chắn sẽ thi đỗ.

Để bố tâm phục khẩu phục, Hằng quay ngoắt sang ôn thi khối A, ĐH Kinh tế quốc dân, cho dù

năm trước cô thi khối C.

Chỉ có 15 ngày ôn thi, kể từ khi xin bố, vậy mà Hằng đã thi đỗ với số điểm khá cao, 24 điểm.

Khi đó, Hằng đã là cộng tác viên của Viện Khoa học thể dục - thể thao. Một số cán bộ có tâm

huyết của Bộ VH-TT đã đi theo Hằng để nghiên cứu rất tỉ mỉ về khả năng tìm mộ.

Hằng đã nhờ những vị cán bộ này cho người về giúp cô khảo sát lại di tích lịch sử chùa Dầu

quê cô có từ đời nhà Trần.

Hằng về, “nói chuyện” với những người xây chùa, tất nhiên là đã chết cách đây 700 năm,

trong đó có cả nhũ mẫu của Huyền Trân Công Chúa, là bà Phan Thị Vinh.

Người xưa đã kể tỉ mỉ cho Hằng biết tòa sen như thế nào, bát hương ra sao, có bao nhiêu sắc

phong từ các đời vua.

Những gì Hằng thu thập đều được các cơ quan quản lý văn hóa xác nhận đúng.

Với những tài liệu, hiện vật thu thập được, Phòng văn hóa đã trình lên tỉnh, tỉnh trình lên bộ

và sau đó chùa Dầu được công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

Những gì Phan Thị Bích Hằng làm được cho đời thực sự trân trọng, không lý lẽ gì có thể bác bỏ.

Đã có hàng ngàn gia đình tìm lại được người thân, đã có cả ngàn hài cốt liệt sĩ được trở về

đất mẹ sau bao nhiêu năm nằm nơi rừng sâu núi thẳm, mà nhiều đồng đội, người thân đi tìm

không thấy.

Thậm chí, qua Bích Hằng, lịch sử đã phải viết thêm những trang hào hùng về trận đánh khốc

liệt ở cánh rừng K'Nác, huyện K'Bang, tỉnh Gia Lai.

Nơi đây, dòng Đắk Lốp đã nhấn chìm 400 thi thể chiến sĩ và cả những chiến công của họ nếu

không có nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vượt rừng, lội suối tìm hài cốt của họ để đồng

đội đưa về nghĩa trang liệt sĩ, mang lại niềm an ủi cho các gia đình.

Theo CAND


[Phan 1]

(...)

Thật ra đến dự buổi nói chuyện hôm nay, tôi cũng không biết bắt đầu từ đâu, bởi vì quá trình làm việc của tôi đã 14 năm, rất nhiều lần trong các hội nghị, tôi đã phát biểu và nói chuyện về những việc tôi đã làm. Năm 1989, sau một tai nạn hy hữu, tôi đã vượt qua được cõi chết trở về và tự nhiên có những khả năng đặc biệt. Sau quá trình tìm hiểu gần 1 năm, đến năm 1990, tôi phát hiện ra khả năng của mình không phải là ảo giác, mà là sự thật qua nhiều cuộc kiểm nghiệm của bản thân cùng những người thân trong gia đình. Đó là một khả năng khoa học chưa lý giải dược, gọi dễ hiểu là giác quan thứ 6. Kể từ tháng 4 năng 1990, sau sự kiện tìm lại được ngôi mộ ông tổ 4 đời của tôi, cả đại gia đình cũng như xóm làng họ tộc mới khẳng định cô bé này không bị di chứng sau bệnh dại, không phải thần kinh hoang tưởng, mà là một con người hoàn toàn bình thường. Cái không bình thường tôi nhìn thấy, nghe thấy là khả năng tiềm ẩn của con người. Nói nôm na như dân gian thì như thế là được trời cho lộc. Những ngày đầu tôi cũng gặp nhiều cay đắng, lộc đâu chẳng thấy. Cho đến bây giờ, để được đứng trước câu lạc bộ có các cô các chú, các anh, các chị, được sự mến mộ của nhiều người, đem lại niềm vui cho một số gia đình, tôi phải trải qua một quá trình không dễ dàng tự phấn đấu khẳng định bản thân, vượt qua mặc cảm với cộng đồng xã hội, đấu tranh với nội tộc người thân. Bố mẹ tôi có những cảm giác khó tả khi sinh ra người con không phát triển theo quy luật tự nhiên, trải qua những tháng ngày rất căng thẳng, đau khổ, không ít những đêm thức trắng vì con mình lớn lên chuẩn bị đến trước cổng trường đại học lại bị một tai nạn như vậy, rồi lại âm âm dương dương không hiểu thế nào.

Hôm nay, tôi cũng chỉ muốn đề cập đến hiện tượng tôi đã thấy và làm trong mười mấy năm qua, tôi không dám tham vọng buổi nói chuyện này có thể giải thích hiện tượng đó là gì. Cơ chế của hiện tượng, bản chất ra sao là một câu hỏi lớn với tất cả chúng ta, không những Bộ môn Cận tâm lý, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, mà còn rất nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Tôi từng được rất nhiều tổ chức nước ngoài mời phỏng vấn để hy vọng tìm ra cơ chế hiện tượng nhưng cho đến thời điểm này, vẫn chỉ là sự ghi chép tổng hợp chứ chưa có lời giải thích nào hợp lý.

Năm 1990, tôi bị *** dại cắn trong 1 tai nạn xảy ra với 2 người. Tôi là người đầu tiên. Người thứ 2 là cô bạn cùng tuổi học cùng lớp, vì cố tình đánh đuổi con ***, che chở cho tôi. Tôi bị cắn vào chân trái, còn bạn bị cắn vào bàn tay trái. Ở tuổi 17, hai đứa thấy hoàn toàn bình thường, quên ngay việc bị *** cắn, coi như không có chuyện gì xảy ra. Tôi chỉ mong bạn được đi học đại học vì tôi đã được gọi vào trường rồi. Sau thời gian khoảng gần một tháng, bạn tôi có triệu chứng lên cơn sốt, co giật và nhiều triệu chứng khác. Chúng tôi sinh ra ở một vùng nông thôn tỉnh Ninh Bình, điều kiện đến bệnh viện bấy giờ không phải khó khăn, nhưng cha mẹ mải làm việc, thêm nữa nghĩ chúng nó đang tuổi mới lớn, chuyện sứt sẹo chân tay là chuyện thường không ai để ý đến. Ngày cuối cùng tôi gặp lại bạn, bạn tôi không nói được nữa, hàm răng cứng lại thì lại nghĩ là đau răng, đi nha khoa kiểm tra nhưng hoàn toàn không phải. Về đến nhà, có một bác sĩ ở bệnh viện quân y 5 Ninh Bình nói tất cả biểu hiện của cô bé này cho thấy là người bị bệnh dại. Đứng cạnh bác sĩ, nghe thấy như vậy, hơn ai hết, chỉ tôi biết bạn bị *** cắn, và cảm thấy tử thần bắt đầu nắm tay mình. Tôi chỉ nói với bác sĩ được một câu “Đúng như vậy”. Bác sĩ hỏi tại sao, tôi trả lời “Vì cháu cũng bị *** cắn. Hai đứa bị cùng một lúc”. Khi tôi ngất đi rồi tỉnh lại, bạn tôi đã qua đời. Lúc ấy, mọi người mới biết, tay tôi chỉ buộc rất đơn giản chiếc khăn mùi xoa, vết thương vẫn chưa khỏi, bị nhiễm trùng vì làm những việc khác.

Gia đình đưa đi chữa nhiều nơi nhưng họ đều lắc đầu bệnh này không thể chữa khỏi từ xưa đến nay. Đến nhà một ông thầy lang theo Thiên Chúa Giáo, ông nói câu đầu tiên “Chúa lòng lành sẽ che chở cho con”. Ông nói với người con trai ra nghĩa đĩa lấy ngay một mảnh ván thô của người bốc mộ ngày hôm qua, thêm một vài vị thuốc bào chế cho tôi. Để giành giật giữa cái sống với cái chết, cái gì tôi cũng uống, cái gì tôi cũng ăn, hy vọng lấy 1 phần nghìn sự sống. Uống thuốc rồi, ông dặn sau ba tiếng đồng hồ, cháu sẽ cảm thấy nóng khắp người, lên cơn sốt mê man, lên cơn sảng, thậm chí lên cơn điên cắn xé, xong thì hết cơn, theo dõi nếu 3 ngày sau cháu hết cơn thì ông bà yên tâm con mình sống, còn nó lên cơn trở lại thì cháu không sống được nữa, tôi rất muốn cứu cháu nhưng khả năng của tôi chỉ đến thế. 7 giờ tối tôi uống thuốc, 9 giờ tối tôi lên cơn đúng như lời ông thầy lang, khoảng 11h đêm tôi thiếp đi. Ngày thứ nhất, ngày thứ hai không thấy triệu chứng gì. Ngày thứ ba, ông anh cô bạn từ bên Đức nghe tin em mất về, tôi cùng gia đình ra mộ bạn thắp hương vì từ hôm bạn mất, tôi không được ra mộ. Tạm biệt bạn từ ngôi mộ quay trở lại, cách ngôi mộ độ 30 met, tôi cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Tôi nói: “Đưa nhanh em về, em bị điên rồi”, từ đấy không biết gì nữa.

Đến lúc 1h đêm, gia đình không còn tia hy vọng, tôi hoàn toàn tắt thở. Ở quê, những người trẻ được khâm niệm rất nhanh, không bao giờ tổ chức lễ tang kèn chống, bởi ông nội còn, bố mẹ còn. Có một ông cụ, là ông thầy dạy chữ nho ở làng, rất giỏi tử vi, sau một hồi tính toán, ông bảo: thứ nhất, chưa qua giờ Thìn, không được khâm niệm cháu; thứ hai, cứ để nó nằm như thế, không được thắp hương. Bác sĩ nói tốt nhất đậy mặt lại, để gia đình đi chuẩn bị cho cháu, tại sao cụ lại nói như vậy để người ta nuôi một hy vọng bệnh hoạn. Ông cụ nói: Các anh thì cả một nền ý học hiện đại, tôi thì chỉ tàn hương nước thánh, nhưng tôi khẳng định nó không thể chết. Cả gia đình tôi rất hoang mang. Năm đó thị trường chưa như bây giờ, việc mua đồ rất khó khăn. Mọi người ai đi mua gỗ cứ đi, ai ngồi chờ cứ chờ. 1 giờ đêm, tôi chính thức tắt thở.

Bố tôi công tác ở xa. Trong những ngày tôi khắc khoải chờ chết sau sự ra đi của bạn, tôi hỏi bố tôi năm 1988 tổng bí thư Lê Duẩn mất, họ bắn 7 loạt đại bác để làm gì, bố tôi trả lời để linh hồn mau siêu thoát. Tôi nói, khi con mất, con không vinh dự được bắn đại bác, bố bắn cho con bảy phát đạn, con cũng mau siêu thoát để trở về với bố mẹ. 7 giờ sáng, bố tôi về. Bố tôi khóc, có bao nhiêu đạn trong bao ông bắn hết. Tôi nghe tiếng nổ tỉnh dậy, phản xạ đầu tiên là lao ra phía đó, gọi “Bố ơi!”. Tôi đạp phải những các tút bật lại và ngã xuống sân. Mọi người đưa vào trong phóng. Sau khoảng nửa tiếng, tôi tỉnh lại hoàn toàn, cảm giác không trọng lượng, như đang bay, nhìn mọi người như ở một thế giới khác. Trong 30 phút bất tỉnh vì ngã đập đầu xuống sân, tôi thấy bà nội và bà ngoại, cả hai người đã mất, gọi tôi. Tôi đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, bà ngoại bên kia vẫy tay, bà nội thì đứng bên bờ bên này kéo lại. Bên kia còn có rất nhiều người đang đón mà không biết là ai. Tôi tuột khỏi tay bà, hốt hoảng vì sợ ngã nên gọi “Bà ơi!”, đó cũng là câu mọi người nghe tôi nói đúng lúc tỉnh dậy.

Tâm trạng trong gia đình vẫn nghĩ sự tỉnh lại chỉ là tạm thời. Tất cả mọi người sẵn sàng chuẩn bị tinh thần đón chờ cái chết sẽ đến với tôi. Bản thân tôi cảm thấy hoàn toàn bình thường, mọi sinh hoạt đều trở lại bình thường như cũ, không có gì thay đổi.


[Phan 2]


Khi nhìn mặt những người xung quanh mình, tự nhiên tôi cảm giác cuộc sống của họ còn được bao nhiêu. Vài tháng, tôi đi lăng nhăng, thấy ai sắp chết là tôi nói cho họ biết, không ít lần bị ăn đòn, ăn chửi. Trong làng có ông Vũ Văn Trác nhà ở gần trường học, mới hơn 50 tuổi, khỏe mạnh, quý tôi, đi đâu về nhìn thấy cũng bảo “Chào cô giáo ạ!”, cái gì có cũng cho tôi. Tôi là con nhà giáo, ngày nhỏ học rất giỏi. Một hôm, tôi nhìn ông bảo: “Ông ơi, chắc là ông sắp chết rồi. Thôi ông đừng đi làm nữa cho khổ! Ông về đi!”. Ông sững sờ:” Cô giáo nói tôi cái gì đấy?”. “Cháu bảo là ông sắp mất rồi, đừng đi làm nữa!”. Sẵn cái roi đánh trâu đi cày về, ông quay lại:” À, tưởng là con cô giáo mà tao không dám đánh à? Bố mày có là đại tá, chứ là đại tướng thì hôm nay tao cũng phải cho mày một trận, láo toét!”. Tất cả mọi người ở làng hai bên đường chứng kiến ông này rất quý con bé này sao hôm nay lại đuổi đánh nó dữ dằn thế. Tôi vừa chạy vừa quay lại bảo: ”Không, ông chết thật mà.” Đến nhà, ông nội tôi chắp tay: ”Tôi lạy ông! Cháu nó bị dở dở ương ương, nhà tôi đã khổ lắm rồi. Thôi, ông đừng làm cháu khổ thêm nữa, ông đừng đánh nó, ông biết nó hâm rồi mà.” Ông kia quyết không tha: “Tại sao nó rủa tôi sắp chết? Tôi không tha cho con này, tôi phải đánh cho nó một trận.” Ông đánh được mấy cái, tôi đau, tức, khóc những vẫn bảo: “Cháu bảo ông chết thật rồi ông không tin cháu à? Thử mấy ngày nữa thì sẽ biết, chỉ từ nay đến 15 tháng 7 thôi…”. Cuộc sống cứ như thế trôi qua, đến ngày truyền thanh 3 cấp của xã đọc tin cáo phó cụ Vũ Văn Trác chết hồi 2 giờ chiều ngày 15/7, cả làng ngã ngửa ra. Thời gian tôi nói và thời gian ông mất quá gần.

Tiếp đến là chú Bùi Văn Chai (Trai?), chủ nhiệm hợp tác xã thêu xuất khẩu xã Khánh Hòa nơi tôi sống, bạn rất thân của mẹ tôi. Đó là năm 1989. Tôi bảo chú, giữa hội trường ủy ban nhân dân xã, rất nhiều người chứng kiên, đến tháng giêng là chú chết đấy, có bao nhiêu hợp đồng xuất khẩu chú bàn giao lại hết đi, nếu không đến lúc đấy chết lại không kịp. Chú nói: “Anh chị phải về dạy bảo con. Cứ để nó luyên thuyên như thế là không được.” Đầu tháng giêng, chú bị đau bụng, đi khám bệnh và được phát hiện bị hoại tử đường ruột. 24 tháng giêng chú mất. Người ta bảo tôi bị ma ám, nói ai là người ấy chết, tốt nhất là tránh đi.

Bố mẹ tôi, ông tôi, tất cả người thân trong gia đình đều đau khổ. Mẹ tôi là giáo viên dạy giỏi nhiều năm, các phụ huynh học sinh trước đây rất tin tưởng phấn khởi cho con học lớp mẹ tôi, giờ lại tự động chuyển con sang lớp khác. Tôi ra sức thuyết phục gia đình, tôi hoàn toàn bình thường, những cái đó là tôi nhìn thấy thật, nhưng không ai tin, kể cả bố mẹ. Sau đó, tôi được đưa đi hết bệnh viện này bệnh viện khác, khám thần kinh rồi đủ thứ, đưa đi ông thầy nọ bà thầy kia cúng bái, chuyển mộ.

Tôi phán đoán được tình trạng sức khỏe người ta như thế nào, rồi phán đoán được suy nghĩ của người ta. Tôi ước gì một ngày nào đấy ngủ một giấc dậy quên khả năng ấy đi. Nhiều người suy nghĩ rất tốt, nhưng những suy nghĩ xấu xa lại nhiều hơn.

Tôi ao ước nhìn thấy bà nội và bà ngoại, những người tôi yêu quý. Bà nội tôi mất lúc tôi mới 10 tuổi, hình dáng tôi vẫn nhớ. Đúng ngày giỗ bà nội mồng 6 tháng 10, tôi thấy bà nội về, mang theo 2 đứa trẻ, một đứa đang bế, một đứa dắt tay. Ông nội tôi bảo đó là 2 đứa con của ông, đã mất lúc 8 tháng và 3 tuổi, thế này thì không thể không tin lời tôi. Có lẽ trời cho ăn lộc hay thế nào đây?

Làng tôi có ngôi chùa bà Huyền Trân Công Chúa đã tu. Ở Chiêm Thành về, bà không lấy chồng nữa mà về tu ở đấy. Gia tộc họ Trần, ông Trần Thái Tông và một số công thần nhà Trần cũng về đấy. Cả một bãi rộng mênh mông mà bây giờ là sân vận động bóng đá từng gọi là Mả Nhà Trần. Tôn thất nhà Trần chết đi đều chôn ở khu vực này. Nhà ông chú ruột tôi ai cũng bị bệnh kỳ lạ, teo một bên chân, ngoẹo một bên đầu, hoàn toàn về bên phải. Tôi bảo chú, ngày xưa tôi chơi ú tim trẻ con buổi tối rất hay nhìn thấy bóng người trong vườn nhà chú. Hai chú cháu ra đào bới, thấy một lớp ngói, như ngói lợp của một cái lăng lâu năm đã mục, gạt ra thấy một lớp đất đỏ, gạt lớp đất đỏ thấy một cỗ quan tài đồ sộ. Người ta nghiên cứu lớp vỏ bên ngoài là vỏ hến, vôi, mật trộn lẫn với nhau, không phải bê tông nhưng vô cùng rắn. Bên trong có một quan tài chạm trổ óng ánh rất đẹp, bật nắp ra thấy hình một người đàn ông nằm dọc, nước vàng khánh. Tôi là người đầu tiên nhảy xuống thò tay sờ thấy tan hết ra toàn xương người với những đồng tiền, một vài vật dụng linh tinh. Ủy ban xã vào lập biên bản, cán bộ văn hóa đến làm việc. Ở cơ quan cấp huyện, cấp xã, họ cũng chỉ dừng lại ở mức độ đó. Ngôi mộ được xác định là của một ông tướng đời Trần, có thể cách đó khoảng 700 năm. Tôi rất tiếc, nếu ngày ấy nhận thức của tôi sâu hơn, rộng hơn một chút, báo cho cơ quan văn hóa tỉnh, khảo cổ ngôi mộ sẽ thu lại rất nhiều di vật. Rốt cục, những con *** đá, những vật nhỏ xíu trong quan tài, mỗi người đến xem lấy một thứ. Những đồng tiền bị bốc đi, mài, bẻ vì tưởng là vàng, nhưng nó là hợp chất gì đó, chẳng phải đồng, chẳng phải vàng, hình tròn, đục lỗ xuyên vào nhau.

Sau sự kiện trên, đến nhà nào tôi cũng hỏi có mất mộ không, hễ mất tôi xin tìm giúp. Dân làng cũng thử nhờ tôi xem sao. Sau vài lần tìm thấy, người ta gọi tôi là “cô”, thấy tôi đi qua bèn chắp tay “Lạy cô ạ”, “Xin cô”.

Chính bản thân gia đình tôi cũng mất mộ cụ tứ đời, bao nhiêu lần bố tôi đưa cả đại đội bộ đội về đào mà không thấy. Đúng ngày giỗ cụ 12 tháng tư, tôi thử đi tìm. Trớ trêu, ngôi mộ nằm trên đường đi, tôi rủ thêm người anh trai ra đào. Mấy chú bảo vệ ở xã nhìn thấy bảo: Con ông bộ đội đi ra phá đường. “Không, cháu nhìn thấy có mộ ở đây”. “À, thế thì đem xẻng cuốc ra đây thử đào xem con dở hơi này nó nói có đúng không?”. Sâu gần 2 met, tôi với tay lên mới tới mặt đất thì thấy một tấm bên trên khảm chữ không đọc được. Hai anh em đem rửa, cả họ đang ăn cỗ. Ông nội tôi hơn 80 tuổi được gọi, chạy ra đến nơi, đọc một bên là “Ẩm thủy quy nguyên”, một bên là “Vinh quy bái tổ”. “Đúng mộ ông nội tôi đây rồi”, ông lăn ra khóc.

Hồi đó, rất đông người đến nhờ tôi nhưng bị bố tôi đuổi. Bố tôi thậm chí xin nghỉ công tác ở nhà canh con gái, sợ nó làm việc gì không phải với bà con làng xóm. Từ đây tôi bớt bị sự kìm kẹp của bố tôi.

Đấy cũng chỉ là một phần rất nhỏ những ngày đầu tiên tôi có khả năng. Tâm trạng gia đình, bản thân tôi, của thầy cô bạn bè khó tả lắm, cho đến vài năm sau còn chưa hết ngỡ ngàng. Khi tôi tìm thấy cụ tứ đời, tìm cho bà con trong làng, mọi người xác nhận đây là khả năng có thật, không phải luyên thuyên, không phải hoang tưởng di chứng bị *** dại cắn.

Trước đấy, mọi người còn bảo tôi học chuyên, học nhiều nên bị ngộ chữ. Tôi xin bố mạnh dạn cho tôi đi thi, xem con có học được không, nếu con quên hết kiến thức văn hóa, bảo con thần kinh thì con chịu, nếu không bố phải cho con học, không được giữ con ở nhà. Bố tôi đồng ý. Là dân khối xã hội, nhưng cố tình chứng minh cho bố, tôi quay ngoắt sang thi khối A, Đại học kinh tế quốc dân. Tôi chỉ có 15 ngày, từ lúc thuyết phục được bố cho đến khi tôi thi. Quá quyết tâm, tôi đỗ với kết quả không ngờ, gần 24 điểm.

Trong thời gian đi học, tôi cũng có làm cho rất nhiều người, ví dụ các thầy các cô ở các trường đại học biết. Bố tôi ra điều kiện, ai đến nhờ, để lại cho ông chứng minh thư hoặc sổ hộ khẩu, đưa tôi đi, phải có một người đi theo, làm việc xong đưa tôi về nhà báo cáo kết quả xong ông trả lại. Sau khi xin nghỉ hưu, bố tôi được bầu làm bí thư đảng ủy xã, chủ tịch hội cựu chiến binh. Nhà tôi đông khách kinh khủng, xã bực mình, đem bố tôi ra kiểm điểm, kỷ luật, định khai trừ khỏi đảng. Trong một năm ở nhà, tôi cũng làm trưởng ban tổ chức thiếu niên nhi đồng, phó bí thư xã đoàn, sau đó lên bí thư xã đoàn. Tôi học đối tượng đảng, thi rất xuất sắc được 10 điểm, nhưng không ai cho kết nạp đảng vì mê tín dị đoan. Khi đưa bố tôi ra kỷ luật, tôi xin gặp ủy ban kiểm tra đảng, những người làm quyết định kỷ luật, nói: Tôi đã 18 tuổi, đủ tư cách pháp nhân và năng lực hành vi để chịu mọi trách nhiệm về hành động của mình. Không có lý do nào việc tôi làm bố tôi phải chịu. Mà tôi là quần chúng trong đoàn thể thôi, không phải đảng viên. Nếu tôi là đảng viên, bố tôi là bí thư chi bộ thì rõ rang kỷ luật bố tôi. Thế là người ta yêu cầu tôi làm gì đó để chứng minh tôi có khả năng thực sự đem lại lợi ích cho quê hương làng xã.

Hồi đó, tôi đang cộng tác với Viện Khoa học thể dục thể thao, do bác Nguyễn Văn Cừ làm viện trưởng. Bác Cừ, một số anh trong ban quản lý di tích lịch sử, nhất là anh Nguyễn Văn Chiến, trợ lý của bác Cừ,cầm máy ghi âm theo tôi nhiều lần để nghiên cứu. Anh Chiến rất giỏi tử vi, một chân hơi tập tễnh vì bị tật từ nhỏ. Ở Bộ văn hóa có chú Phí Đình Thiệm, cô Hoàng Thị Vân và nhiều người ủng hộ nhiệt liệt, về động viên bố mẹ tôi. Bố tôi bảo, nếu các bác các chú tin cháu nó có khả năng thì cứ việc nghiên cứu nhưng phải lưu lại trên báo cáo giấy tờ để sau này có cái trình bày với các cơ quan đoàn thể.

Tôi đi cộng tác trong thời gian khá dài, khoảng 6 tháng. Tôi xin các bác các chú cho người giúp tôi về khảo sát lại di tích lịch sử chùa Dầu quê tôi từ đời nhà Trần, 700 năm nay. Tôi về khám phá, kiểm nghiệm thông tin, nói chuyện, tiếp xúc với những nhân vật đã xây dựng chùa, tất nhiên là chết cách đây 700 năm rồi, trong đó có cả bà Phan Thị Vinh, nhũ mẫu của Huyền Trân Công Chúa, họ nhiều đời của nhà tôi. Chùa bị giặc Pháp đốt, phá tan tành, những bát hương đá bị vùi xuống đất. Người xưa cho tôi biết tòa sen như thế nào, bát hương ra sao, có bao nhiêu sắc phong chứng chỉ từ các đời vua. Những gì tôi thu thập được xác nhận hoàn toàn đúng bởi ban văn hóa. Huyện trình lên tỉnh, tỉnh trình lên bộ. Chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa. Kết quả để bố tôi không bị kỷ luật đảng chính là những thông tin tôi mò mẫm lấy được từ cõi âm.






[Phan 3]


Những ngày ấy tôi làm việc hết sức khó khăn. Để nói chuyện được cũng không đơn giản. Lúc đầu tôi không biết nói chuyện, chỉ nhìn thấy người, hình dáng họ như thế nào, họ già, họ trẻ, họ đen, họ trắng, họ béo, họ gầy. Có trường hợp nhìn giống nhau dẫn đến sự nhầm lẫn. Tôi có tìm cho một gia đình bác ấy là liệt sĩ chống Pháp, chết ở trận Chùa Cao - Ninh Bình. Tôi tìm thấy bác ở một bờ ruộng gần bốt Chùa Cao. Ừ đây mặt vuông chữ điền này, râu quai nón này, giống anh con trai duy nhất của bác, đúng ngôi mộ này rồi. Gia đình đắp đất lên, để đấy chuẩn bị về chôn vào nghĩa trang.

Tôi rất phấn khởi vì thành tích của mình đạt được, đến tối ngủ tự nhiên thấy có một bác bộ đội giật giật chân dậy và ở đó có 2 người. “Này này, dậy! Cậu dậy đây tớ bảo cái này. Hôm nay cậu làm thế là cậu làm không được nhé. Cậu nhầm. Cậu chỉ mộ cậu liên lạc của tớ. May mà vợ con tớ chưa đem về đấy. Nếu mà đem về có phải tớ vẫn còn nằm lại mà cậu liên lạc lại được cả nhà tớ kêu bằng bố.” Tôi bảo: “Cháu không hiểu” Bác ấy nói:” Đây này nhìn đây này, cậu liên lạc nó mới chỉ 23 tuổi, còn bác đã ba mấy tuổi rồi. Bác có cái mụn ruồi ở mũi, cháu nhìn thấy chưa, rất là to. Ngày xưa bố vợ suýt không đồng ý vì báo cái mụn ruồi đấy là chết yểu, chết non, con gái ông ý sẽ góa chồng sớm. Dù mụn ruồi nhưng tớ vẫn đẹp giai nên tớ vẫn lấy được. Đây này, bây giờ nhìn nhé. Ở cái chỗ đất đây này, bác ném cành hoa vạn thọ ở chỗ này nhé. Mai cháu nhớ phải lên sớm không trẻ con nó nghịch nó làm mất.”

Hôm sau, sáng dậy sớm, một mình tôi đi xe xuống chỗ mô đất nhà người ta đắp, vẫn còn thấy chân hương, hoa cắm, đồ cúng thì trẻ con lấy hết rồi. Tôi nhìn ra cách đấy khoảng 5 mét. Mặc dù là mùa đông nhưng tôi vã mồ hôi. Trên nền cỏ ướt đâm sương muối, một cành cúc vạn thọ nằm ngay thẳng. Đầu hoa thì vào đầu ống ấy còn cuống hoa thì vào chân. Tôi về báo tin cho gia đình ngay. Thật ra lúc ấy rất khó nói. Tôi phải mạnh dạn xin lỗi gia đình là tôi nhầm. “Như thế là thế nào? Lấy gì làm bằng chứng? Hôm qua đã cả hình cả dáng đúng như thế rồi…” “Cháu nhìn thấy ông ấy có cái mụn ruồi trước cửa mũi này này, cái mụn ruồi cảm giác nó che lấp cả lỗ mũi ấy.” Bà cụ òa lên khóc: “Đúng chồng tôi rồi”. Gia đình họ lại chuẩn bị xe pháo đi cùng tôi xuống vị trí để nhận. Chỉ có từng này đất đã đến hài cốt của bác dưới ruộng hàng ngày vẫn chồng cấy lúa mà người ta không biết. Sau đó, bác được gia đình đưa về quê, còn cậu liên lạc được đưa vào nằm trong nghĩa trang Chùa Cao.

Phải 5 năm sau, khoảng 1995, khi tôi bắt đầu khả năng nói chuyện, tôi quay trở lại đúng địa điểm đó, hỏi chú tên là gì, quê quán ở đâu để tôi về báo cho gia đình chú. Chú trả lời:” Lúc ấy chú nói nhiều lắm mà cháu không nghe thấy. Chú tên là Đỗ Viết Định, ở làng Vũ Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. Bây giờ nhà chú chẳng có ai đâu, vì nhà chuyển đi ra ở thị xã Ninh Bình rồi. ” Làng Vũ Lâm có hành cung Vũ Lâm của nhà Trần. Tôi lần mò về, người ta bảo ông này liệt sĩ từ lâu rồi, giờ hỏi ông ấy làm gì. Người ta chỉ tôi ra thị xã Ninh Bình tìm người thân xuống nhận. Lúc ấy chỉ có bố mẹ chú thôi, chú chưa có vợ có con, anh em thì mỗi người đi làm ăn một nơi.

Trường hợp đầu tiên để tôi phát hiện ra khả năng nghe nói là trường hợp của mẹ giáo sư Mai Hữu Khuê, trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân. Khi tôi đi tìm, thấy có một bà cụ, nghe như có tiếng nói, cái miệng lắp bắp mà không hiểu nói gì. Chỗ đấy là một vũng nước rất bẩn. “Cụ ơi cụ, cụ nói cái gì đấy”. Tôi nghe thấy cụ gọi “Cháu ơi!”, tim tôi muốn vỡ ra. Tôi sướng quá, tôi nghe được rồi. “Bà tên là Kình, nhắn hộ cho bà, mộ bà ở đây mà các con bà về tìm mãi không thấy”. Con bà là Khuê. Tôi quay ra nói với dân làng. Dân làng bảo con bà ấy làm to lắm. Đúng rồi, bà Kình mẹ ông Khuê. Nhà bác Tạ Thị Thược ở làng Thành Mỹ, Hoa Lư, Ninh Bình nói biết ông Khuê mà hình như còn là họ hàng gọi là cậu, nhắn tin cho gia đình về nhận ngôi mộ của bà cụ.

Từ đấy chuyển sang một giai đoạn dở hơi tiếp. Tôi đi hỏi hết các ngôi mộ xem họ nói gì. Về hỏi người nhà mình thì chuyện gì mình cũng biết rồi, cứ ba đời bốn đời nhà người ta lôi ra kể, nói chuyện. Nhưng tôi vẫn chưa tin khả năng nghe của mình. Mãi đến đợt tôi giúp gia đình đại tá Tạ Doãn Địch ở 24A Tăng Bạt Hổ tìm được mười mấy ngôi mộ. Sau khi giúp xong cũng nói chuyện với các cụ nhưng rất ít, bởi tôi chỉ nói mình tôi hay chứ không dám cho mọi người biết rằng mình biết nói.

Đêm hôm ấy, một cô bé chạy về, ôm mặt khóc: “Tại sao lại không tìm tôi, tìm hết mọi người thiếu mỗi mình tôi?”. “Cô là ai?”. Cô dắt tay ra chỉ vào đống đá :”Đây này, cháu lên cháu sẽ nhìn thấy đống đá hộc (?). Cô tên là Đóa”. “Cô người nhà ai?”. Cô bảo: “Người nhà mà hôm qua cháu vừa đi tìm mộ xong”. Hôm qua tôi chỉ tìm đúng cho nhà bác Tạ Doãn Địch. Tôi viết thư lên, nhà bác nói đấy chính là bà cô chết lúc hơn mười tuổi. Gia đình về khai quật, vứt hết đá ra, dưới lớp đất lấy được hài cốt của một cô bé hơn mười tuổi, bây giờ xấy mộ lại rồi. Tôi phát hiện thêm một điều, khi mình làm nhầm cho người ta, lập tức người ta phản hồi lại ngay. Tôi rất mừng, có sự phản hồi mới biết mình đúng hay không, nếu không thì cứ u u mê mê thế thôi. Chí ít đến lúc đấy có 2 trường hợp người ta phản hồi lại là sai. Một người là nhầm lẫn, một người là thiếu sót.

Ở cõi âm là như thế, người ta rất rõ ràng, ranh giới giữa sự thật và không thật không bị mập mờ. Tôi cảm thấy họ rất trọng tình nghĩa, chỉ có một chút quan hệ dây mơ rễ má, họ sẵn sàng nhắn nhủ cho nhau.

Ví dụ, cháu gặp người này cháu nói chuyện, tìm mộ xong rồi ông lại bảo: “Này, cho bác nhắn này, nhà bác còn một bà…” họ như này như này mất mộ nằm ở chỗ này chỗ này. Nói đùa, như thế đâm ra tôi bị vạ lây, đáng lẽ chỉ phải tìm mỗi một người, tự nhiên phải tìm bao nhiêu người. Những ngày đầu tiên tôi chưa có kinh nghiệm, người ta nói đến lúc nào tôi phải nói đến lúc đấy, người ta nhắn gì tôi cũng phải nghe, nhất là đi ra nghĩa trang liệt sĩ thì cứ ngồi mấy tiếng đồng hồ không bao giờ ghi hết nổi. Đến giờ, tôi biết cách ngắt vì sức khỏe mình đến mức độ nào thôi. Không nói được nữa thì cháu xin lỗi cụ, hôm khác cháu sẽ gặp lại.

Những năm tháng đầu tiên ấy, tôi tìm được rất nhiều liệt sĩ nhắn nhủ như vậy, có khi họ là đồng đội. Ví dụ, “Chú có thằng bạn chết trong Bình Dương”, về gặp chú bảo mộ nó đang nằm ở chỗ đấy, lô cao su số mấy, ai là người phụ trách lô cao su ấy, hàng ngày đi cạo mụ cao su. Tôi báo cho gia đình về tìm được. Đó là trường hợp tìm cho liệt sĩ Nguyễn Văn Nhợi ở Vĩnh Phúc. Tôi được cho biết, đi lên lô cao su ấy, của nông trường ấy, có một chị đang cạo mủ cao su, có đặc điểm là bao giờ cũng đi cùng con, mẹ đi trước con theo sau. Gia đình họ vào tìm, bảo cả nông trường có cô này không có chồng nhưng có một đứa con, đi đấu cũng dắt theo lẽo đẽo. Bác bảo ở lô cao su ấy, cái bát cạo mủ gần gốc cây bác nằm bị mẻ…
Năm ngoái, bộ môn chúng tôi nghiên cứu đề tài TK06, có nghĩa là “Tìm ngược”, người chết tìm người sống. Bình thường thì người sống chúng ta đi tìm lại ông bà cha mẹ, anh em ruột thịt bị mất. Vừa rồi, đề tài TK06 làm ngược lại. Chúng tôi đã tìm, bước đầu có kết quả khả quan đáng vui mừng. Người âm nhắn đi đến địa chỉ này, địa chỉ kia, tìm cho tôi cháu này, con này, cuối cùng đều tìm được tất cả, thậm chí thân nhân của những người chết đói, chết bom ở Hợp Thiện, nhất là tìm liệt sĩ thì khá nhiều, về các vùng quê tìm mộ cho các gia đình cụ nọ nhắn cho cụ kia cũng tương đối nhiều.





Thursday June 11, 2009 - 02:35pm (ICT) Permanent Link | 0 Comments
Duyên dáng và đáng yêu =)))
Duyên dáng và đáng yêu =))) magnify















Saturday June 6, 2009 - 10:05am (ICT) Permanent Link | 0 Comments

Add q to your personalized My Yahoo! page:

Add to My Yahoo!RSS About My Yahoo! & RSS
1 - 5 of 128 First | < Prev | Next > | Last

HIGHLIGHTED POSTS