Xin chào và chúc một ngày tốt lành!
Có 5 bước đơn giản sau đây để dễ dàng thành công trong các cuộc đàm phán với nhà tuyển dụng. Nếu bạn đang là một người đi tìm việc làm, hãy thử tham khảo nhé.
1. Chuẩn bị trước những gì bạn sẽ nói
|
Nếu bạn không chuẩn bị kỹ lưỡng những gì bạn sẽ thảo luận, về tiền lương, việc làm với nhà tuyển dụng, thì bạn sẽ không thể đàm phán, mà chỉ có thể phản ứng một cách thụ động trong cuộc phỏng vấn.
Bạn không chỉ cần chuẩn bị về nội dung của yêu cầu đàm phán, mà còn cần luyện nói trước theo những tình huống có thể xảy ra để nâng cao kỹ năng đối đáp và làm tăng tính tự tin.
Trước hết, hãy liệt kê những gì bạn hy vọng đạt được trong quá trình đàm phán. Thay vì chỉ hạn chế ở những vấn đề tài chính, bạn hãy mở rộng ra các lợi ích khác, như: tiền thưởng, chế độ tăng lương, nghỉ phép, bảo hiểm, trách nhiệm...
2. Đặt giá
Tài sản quan trọng nhất của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào là lực lượng lao động hoạt động có hiệu quả. Trên thực tế, các nhà tuyển dụng nhận thức được rất rõ điều này, bởi vậy họ thường sẵn sàng chi trả tương xứng với khả năng của người xin việc. Tuy nhiên, bạn cần lưu ý rằng, nhà tuyển dụng dẫu sao vẫn muốn sử dụng bạn với tiền công thấp hơn so với khả năng của bạn.
Trong khía cạnh này, có thể coi việc đàm phán việc làm cũng giống như việc mặc cả mua bán thông thường. Với tư cách là người bán hàng, bạn nên đặt giá trước.
3. Hướng đàm phán vào những vấn đề công việc, đừng để lạc đề sang những vấn đề mang tính riêng tư
Nên nhớ rằng, ngay cả khi bạn thán phục người đang đàm phán với bạn, thì đó cũng chỉ là một giao dịch công việc, chứ không phải là cuộc trao đổi tình cảm mang tính cá nhân. Ngoài ra. nên tách riêng các vấn đề tiền lương và tuyển dụng mà bạn thảo luận.
4. Sử dụng ngôn từ tích cực
Nếu nhà tuyển dụng không chấp nhận yêu cầu của bạn, hãy sử dụng những từ nhẹ nhàng để thể hiện tâm trạng của mình. Tuyệt đối tránh thể hiện thái độ giận dữ, mất lịch sự hoặc không muốn đàm phán tiếp. Bạn có thể đề nghị người tuyển dụng xem xét lại hoặc dành chút thời gian để trao đổi thêm.
5. Lập văn bản xác nhận
Việc xác nhận rõ ràng là một nhân tố quan trọng trong việc đàm phán mà các ứng viên thường hay quên. Một văn bản xác nhận có giá trị khẳng định một cam kết và ngăn ngừa mọi sự hiểu lầm sau này giữa bạn và nhà tuyển dụng.
(Theo Careertool/Đầu tư)
Cuộc cách mạng công nghệ thông tin và công nghệ mới ngày nay đang “đe dọa” sẽ làm cho một số nghề quen thuộc không còn chỗ đứng trong tương lai, trong đó có cả những nghề đang rất thông dụng hiện nay như thư ký hay nhân viên thu ngân...
Sau đây là 8 nghề có xu hướng ngày càng bị cắt giảm trên phạm vi toàn cầu trong thời gian từ nay tới năm 2012, theo tính toán và phân tích của Cục Thống kê lao động Mỹ.
Làm vườn
|
| Thư ký - một trong 8 nghề sẽ bị cắt giảm trong tương lai. |
Đây được coi là nghề sẽ bị cắt giảm ồ ạt trong thời gian tới. Sự hỗ trợ đắc lực của máy móc hiện đại đang ngày càng tiết kiệm nhân công trong ngành này. Ngoài ra, cơ chế sản xuất tập trung hơn ở các nước đang phát triển, các nước nghèo ở châu Phi thay cho sản xuất cá thể, nhỏ lẻ cũng làm giảm số người hoạt động trong ngành này. Chưa kể, tốc độ đô thị hoá nhanh chóng, đặc biệt ở vùng Đông Á, cũng làm giảm cơ học lượng nhân công theo đuổi nghề này trong tương lai.
Thợ may
Cũng như ở thời cuộc cách mạng công nghiệp hồi thế kỷ 16 với sự ra đời của các máy may công nghiệp, những người làm nghề may mặc phải chịu tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất từ cuộc cách mạng công nghệ mới ngày nay. Công việc của họ đang bị đe dọa và rõ ràng, máy móc sẽ tranh dần chỗ đứng của họ tại các nhà xưởng trong tương lai. Xu thế đó đã bắt đầu từ nhiều năm qua và sẽ vẫn tiếp tục trong nhiều năm nữa.
Thư ký
Các máy móc và thiết bị văn phòng đã trang bị cho mỗi doanh nhân tới mức hoàn hảo nhất. Chúng chính là những thư ký, trợ lý đắc lực, làm nhiều và nói ít hơn bất kỳ một thư ký bình thường nào khác. Từ điện thoại di động, máy tính xách tay, máy tính bỏ túi cho tới các phần mềm thông minh đang làm cuộc sống mỗi doanh nhân tiện lợi hơn bao giờ hết. Họ đã có thể đặt niềm tin lớn lao cho những thiết bị mới đó thay cho những thư ký thông thường.
Nhân viên đánh máy và nhập dữ liệu
Việc số lượng người làm nghề này sẽ giảm đã được dự báo từ lâu và chắc chắn sẽ tiếp tục và có mức độ suy giảm nhanh chóng nhất. Nguyên nhân là sự ra đời của hàng loạt phương tiện hữu ích, các thế hệ máy tính cá nhân mới liên tiếp xuất hiện. Bên cạnh những cỗ máy có tốc độ xử lý ngày càng cao ấy là hàng trăm, hàng ngàn sản phẩm phần mềm hỗ trợ đắc lực, mang lại công suất làm việc cao hơn quá nhiều lần so với trước đây, khi nhân công chiếm vai trò quan trọng.
Thu ngân
Nghề thu ngân sẽ được giao phó ngày càng nhiều cho những chiếc máy tính mới và những phần mềm thông minh
Cũng như nghề đánh máy và nhập dữ liệu, nghề thu ngân sẽ được giao phó ngày càng nhiều cho những chiếc máy tính mới và những phần mềm thông minh. Các công ty hoạt động trong các ngành cần đến kỹ năng này đều đang ngày càng tin tưởng vào công nghệ mới.
Những chiếc máy thu tiền tự động, những phần mềm lọc đơn hàng của khách... sẽ thay thế dần những cô gái xinh đẹp cặm cụi ngồi cạnh chiếc bàn với chiếc máy tính điện tử cổ điển.
Thợ lắp ráp linh kiện điện tử
Các nhà chế tạo muốn sản phẩm của mình ngày càng chính xác và đa dụng hơn. Và họ buộc phải sắm thêm các thiết bị tự động, các dây chuyền lắp ráp tối tân để đảm bảo chính xác và an toàn tới từng chi tiết nhỏ nhất. Nhân công bình thường dẫu quen tay tới đâu cũng phải chịu thua những công nghệ mới như vậy, nên họ mất việc dần cũng là điều dễ hiểu.
Trực tổng đài
Công nghệ viễn thông đang phát triển với tốc độ nhanh chóng mặt, chẳng kém gì công nghệ thông tin. Những chiếc máy biết nhận giọng nói, những bộ chuyển cuộc gọi tự động theo phần mềm lập trình sẵn... đang thay thế dần những nhân viên trực tổng đài. Ngoài ra, các phương tiện liên lạc tiện lợi khác như email hay điện thoại internet cũng đang làm cho những người làm nghề trực tổng đài ngày càng rỗi việc.
Đại lý du lịch lữ hành
Khách du lịch ngày càng dựa vào internet để chuẩn bị cho mình trước mỗi chuyến đi. Họ có thể xem trước phong cảnh, in bản đồ, đăng ký khách sạn, đặt vé máy bay và mua các trang thiết bị cần thiết cho chuyến đi chỉ bằng những cái nhắp chuột giản đơn thay vì phó mặc cho các đại lý du lịch.
Ngoài ra, du khách ngày nay thích khám phá hơn, có đủ điều kiện và trang thiết bị để tự đi một mình thay vì phải bó mình trong các tour cố định theo ý các đại lý. Do vậy, nghề này chắc chắn sẽ sút giảm nghiêm trọng trong tương lai, bất chấp những nỗ lực tự đổi mới mình của những người làm nghề này.
(Theo JobVn, Liên đoàn Lao động)
Trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế thị trường, các dòng di chuyển lao động qua biên giới phức tạp hơn ta tưởng và ngày càng mang đậm chất “toàn cầu hóa”.
Theo đánh giá của Tổ chức Di dân quốc tế (IOM), có khoảng 185 triệu người, tức gần 3% dân số trên thế giới đang ở ngoài lãnh thổ quốc gia của mình, trong số đó có 85 triệu người di chuyển vì mục đích làm việc.
Tuy tất cả những người di chuyển qua biên giới để làm việc đều được coi là lao động, nhưng căn cứ vào danh nghĩa và tính chất thì việc di chuyển theo những con đường chính thức và hợp pháp có ba dạng chính sau:
|
| Ảnh chỉ có tính chất minh họa. |
Dạng thứ nhất là xuất khẩu lao động
. Đây là dạng di chuyển của lao động từ một nước này sang nước khác theo một sự thu xếp chính thức giữa hai quốc gia để tham gia vào thị trường lao động ở nước đó. Căn cứ để quyết định số lao động, ngành nghề, thậm chí giới tính, độ tuổi… là từ nhu cầu thị trường lao động của nước đến.Lao động VN đang làm việc tại Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc… là thuộc đối tượng này. Những người này làm việc có thời hạn và về nguyên tắc, sẽ trở về nước sau khi hết hạn hợp đồng. Trong nhiều năm nữa, về cơ bản, VN vẫn tiếp tục là nước xuất khẩu lao động, chứ chưa là nước nhập khẩu lao động. Có thể nói, đây vẫn là dạng chủ yếu của việc “ta” sang “Tây” làm việc.
Dạng thứ hai là di chuyển lao động tự do trong một thị trường lao động thống nhất của một khối nước. Cũng cần nhắc lại rằng, quá trình nhất thể hóa không gian kinh tế của một khối nước gồm 5 bước: thứ nhất là các nước trong khối dành cho nhau ưu đãi thương mại; thứ hai là xây dựng một khu vực mậu dịch tự do; thứ ba là tiến hành liên minh hải quan; thứ tư là thành lập thị trường chung và bước cuối cùng là thành lập liên minh kinh tế.
Hiện nay, EU là khối duy nhất đã đạt được mức độ nhất thể hóa kinh tế đến bước 4 là thành lập thị trường chung, nghĩa là tất cả các thị trường, bao gồm cả thị trường lao động của các nước thành viên đã trở thành thị trường chung, thống nhất, được điều chỉnh bởi một hệ thống luật pháp chung áp dụng cho toàn khối.
Điều đó có nghĩa là, một người Đức có thể tự do sang làm việc tại Bỉ - một quốc gia thành viên khác của EU - cũng như một công dân Bỉ được tự do sang Đức làm việc, mà không có bất cứ rào cản nào về mặt pháp lý. Di chuyển lao động dạng này chỉ có trong nội khối kinh tế nào đó, còn trong Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) không có cam kết nào liên quan tới dạng di chuyển lao động này.
Như vậy, dù VN có gia nhập hay chưa gia nhập WTO thì loại di chuyển lao động này vẫn là của tương lai xa, khi mà ASEAN hoặc Đông Á trở thành một liên minh kinh tế, hay chí ít thì cũng là thị trường chung như EU.
Còn trong những năm trước mắt, sẽ chưa có lao động VN ra nước ngoài và lao động nước ngoài vào VN làm việc theo dạng này, vì khối ASEAN mới đang trong giai đoạn chuyển từ bước thứ nhất sang bước thứ hai của quá trình khu vực hóa về thương mại, đó là bước thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA).
Dạng di chuyển lao động thứ ba là di chuyển thể nhân để thực hiện thương mại dịch vụ. Đây là một trong những cam kết bắt buộc khi gia nhập WTO. Nói cách khác, để gia nhập WTO, vấn đề cần bàn ở đây không phải là có hay không có cam kết đối với loại di chuyển thể nhân, mà là mức độ cam kết “mở” của ta là bao nhiêu và theo lộ trình nào. Đây chính là câu chuyện nóng nhất liên quan tới di chuyển lao động giữa “ta” và “Tây” trong các năm tiếp theo.
Di chuyển lao động trong thương mại quốc tế
Thương mại nếu hiểu theo nghĩa hẹp nhất thì nhiều người thường nghĩ ngay đến chuyện bán - mua, xuất - nhập khẩu cái gì đấy. Theo cái nghĩa như vậy thì việc xuất khẩu sức lao động vừa không mà lại vừa có trong thương mại quốc tế.
Tất cả sự phức tạp của vấn đề di chuyển lao động nằm ở chỗ “có mà không, không mà có” này. Không là bởi vì trong thương mại quốc tế, và cụ thể là trong khuôn khổ những cam kết thương mại của WTO hoàn toàn không có xuất - nhập khẩu lao động. Còn có là bởi vì việc bán - mua, xuất - nhập dịch vụ là một trong ba trụ cột của thương mại quốc tế nói chung và thương mại trong WTO nói riêng - đó là đầu tư, thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ.
Mà dịch vụ là một thứ hàng hóa chủ yếu tồn tại dưới dạng phi vật chất, như y tế, viễn thông, ngân hàng…, do con người cung cấp. Và để bán - mua, xuất - nhập khẩu dịch vụ thì trong nhiều trường hợp phải có con người di chuyển để tải cái dịch vụ đó đến người tiêu dùng dịch vụ - tức là người đó phải ra hoặc vào một quốc gia khác - để thực hiện hoạt động dịch vụ đó.
Và như vậy, đã diễn ra quá trình di chuyển lao động giữa các quốc gia. Nhưng cái khác cơ bản giữa sự di chuyển lao động để cung cấp dịch vụ và xuất - nhập khẩu lao động là ở chỗ xuất - nhập khẩu lao động là sự di chuyển lao động trong khuôn khổ của thỏa thuận về lao động (chủ yếu là thỏa thuận song phương).
Còn di chuyển lao động trong thương mại để thực hiện hành vi bán - mua, xuất - nhập khẩu dịch vụ trong khuôn khổ thỏa thuận về thương mại (đa phương hoặc song phương). Sự di chuyển này trong thương mại gọi là di chuyển thể nhân.
Xuất khẩu lao động và di chuyển thể nhân
Thương mại dịch vụ trong WTO cũng như trong các hiệp định thương mại (ví dụ Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ) được quy định bao gồm 4 thể thức (tiếng Anh gọi là Mode) sau:
Cung cấp qua biên giới: đó là việc nhà cung cấp dịch vụ bán dịch vụ từ lãnh thổ của nước mình sang lãnh thổ của nước khác. Ở thể thức này, dịch vụ và tiền thanh toán dịch vụ có đi qua biên giới, còn con người (cả người bán và người mua dịch vụ) thì không.
Tiêu dùng ngoài lãnh thổ: là thể thức thương mại dịch vụ mà người tiêu dùng của một nước này tiêu dùng dịch vụ tại lãnh thổ nước khác. Trong thể thức này, người bán dịch vụ vẫn ở tại nước mình, chỉ có người mua dịch vụ là đi ra nước ngoài. Trong trường hợp này, cũng không có di chuyển thể nhân.
Hiện diện thương mại: đây là thể thức mà nhà cung cấp dịch vụ của một nước thiết lập cơ sở cung cấp dịch vụ tại lãnh thổ của nước khác như chi nhánh, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài... Trong thể thức dịch vụ này, hiện diện thương mại mới là cơ sở cam kết, chứ không phải là hiện diện thể nhân, nên việc di chuyển thể nhân của hiện diện thương mại sẽ được điều chỉnh trong cam kết chung ở Thể thức 4.
Hiện diện thể nhân (hay còn gọi tắt là Thể thức 4 - Mode 4): đây là thể thức thương mại dịch vụ gắn liền với việc con người di chuyển từ nước này sang nước khác để cung cấp dịch vụ và việc di chuyển như vậy được gọi là di chuyển thể nhân.
Như vậy, trong 4 thể thức cung cấp dịch vụ của thương mại quốc tế, chỉ có Thể thức 4 - thể thức hiện diện thể nhân, và một phần của Thể thức 3 - thể thức hiện diện thương mại, là liên quan tới việc “ta” sang “Tây” và “Tây” sang “ta” làm việc. Câu chuyện khó nhất có lẽ là làm thế nào phân biệt được ai là diện “xuất khẩu lao động” và ai là diện “di chuyển thể nhân”? Đó chính là công việc của những nhà làm chính sách.
Một đối tượng được điều chỉnh bởi “luật chơi” về lao động, còn đối tượng kia lại được điều chỉnh bởi “luật chơi” về thương mại. Hai đối tượng này không thể nhập làm một, vì mục đích, tính chất, cương vị di chuyển qua biên giới quốc gia của họ là khác nhau, nên cũng không thể có một “luật chơi” áp dụng cho cả hai đối tượng trên.
Nói chung, các quốc gia đều có các quy định riêng để điều chỉnh hai đối tượng này. Ví dụ như Hoa Kỳ nổi tiếng là “chặt” đối với đối tượng nhập cảnh theo diện “xuất khẩu lao động”, nhưng lại tương đối “thoáng” đối với diện “di chuyển thể nhân”. Bởi vậy, ta tuy chưa có lao động sang Hoa Kỳ làm việc theo diện “xuất khẩu lao động”, nhưng hiện có không ít công dân VN đang làm việc tại Hoa Kỳ theo diện “di chuyển thể nhân” - những người làm việc cho các công ty đa quốc gia đến Hoa Kỳ làm việc theo sự điều động của các công ty này.
Cái tiêu chí “lao động bậc cao” để phân biệt hai loại này xem chừng chưa ổn, vì cái khác của hai loại hình lao động trên chủ yếu không phải nằm ở trình độ cao hay thấp, mà là ở cương vị của họ.
Ví dụ, có hai người nước ngoài đều nhập cảnh VN để làm công việc quản lý với thời hạn là 3 năm. Người thứ nhất được một công ty của VN thuê làm trưởng phòng kinh doanh. Người thứ hai là nhân viên của một công ty đa quốc gia đang hiện diện thương mại tại VN được công ty cử sang cũng để đảm đương chức trưởng phòng kinh doanh của chi nhánh công ty đó tại VN.
Như vậy, nếu căn cứ vào mức độ phức tạp của công việc thì cả hai người đều được coi là lao động bậc cao, nhưng nếu căn cứ vào cương vị làm việc thì người thứ nhất thuộc diện “lao động nhập khẩu”, vì mục đích nhập cảnh là để đáp ứng nhu cầu trên thị trường lao động VN là tìm một người để đảm đương công việc trưởng phòng kinh doanh của một doanh nghiệp.
Nói cách khác, nhu cầu của thị trường lao động tại VN là điều kiện để người này nhập cảnh vào VN làm việc. Còn người thứ hai là đối tượng “di chuyển trong nội bộ công ty” (intra-corporate transferee) được công ty chủ sử dụng lao động cử vào VN để thực hiện một nhiệm vụ được giao. Công việc này không xuất phát từ nhu cầu trên thị trường lao động của VN, mà là từ yêu cầu kinh doanh của công ty nước ngoài.
Để phân biệt hai loại di chuyển lao động nói trên, WTO đưa ra những tiêu chí nhất định để xác định những người thuộc diện “di chuyển thể nhân”, gồm 3 đối tượng chính: thứ nhất là những người lưu chuyển trong nội bộ công ty (intra-corporate transferee); thứ hai là khách kinh doanh (bussiness visitor) và người chào bán dịch vụ (service sales person); và thứ ba là nhà cung ứng dịch vụ theo hợp đồng (contractual sevices supplier).
Đối tượng của nhóm di chuyển trong nội bộ công ty chủ yếu liên quan tới 3 đối tượng là giám đốc điều hành, quản lý và chuyên gia. Đây là nhóm mà các công ty đa quốc gia, các tập đoàn lớn đặc biệt quan tâm.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động của các công ty đa quốc gia thực sự mang tính toàn cầu: nhà máy được thành lập ở nhiều quốc gia khác nhau, nguyên liệu đầu vào có thể được nhập khẩu từ khắp nơi trên thế giới, các linh kiện của một cỗ máy có thể được gia công ở các quốc gia khác nhau, sản phẩm được tiêu thụ trên toàn thế giới. Và, nhân sự của công ty cũng được luân chuyển giữa những chi nhánh và các công ty con ở các quốc gia.
Bởi vậy, yêu cầu về việc cho phép các nhân sự cao cấp của một công ty di chuyển giữa các quốc gia trong nội bộ công ty là một yêu cầu thiết yếu để bảo đảm hoạt động bình thường của công ty đó. Những quy định của một quốc gia về di chuyển thể nhân là một trong những yếu tố để các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư của nước đó.
Cái khó đối với các nhà làm chính sách trong bối cảnh hội nhập là làm sao các quy định quản lý thị trường lao động trong nước không làm ảnh hưởng tới đầu tư và thương mại quốc tế và đặc biệt là tuân theo những “luật chơi” chung của quốc tế.
Để làm được việc đó, chúng ta phải đưa ra được định nghĩa rõ ràng về những đối tượng di chuyển thuộc Thể thức 4 và điều kiện để thực hiện việc di chuyển đó và sau khi gia nhập WTO, những cam kết và điều kiện đó lại phải được thể hiện trong luật pháp quốc gia.
(Theo Đầu tư)
Các chuyên gia về việc làm cho rằng: nếu bạn đang cố tìm một công việc như ý thì hãy nên từ bỏ ý tưởng đó đi. Không có công việc như ý, chỉ có công ty phù hợp. Qua đó, bạn sẽ tìm được "hình ảnh" của công việc mà mình mong muốn.
|
Tốt nghiệp khoa ngữ văn ĐH KHXH - NV, Lan nuôi ước mơ có một chỗ làm trong một cơ quan văn hóa - thông tin. Hai năm không tìm được việc, Lan xin vào làm phát hành viên ở một nhà xuất bản, bây giờ cô đã trở thành biên tập viên ở đây. Cô nói: "Giờ đây có hàng ngàn bạn trẻ đang làm việc "trái tay", nhưng đừng nghĩ làm không đúng chuyên môn là không có cơ hội phát triển. Khi bạn và doanh nghiệp có tiếng nói chung, bạn sẽ hoàn toàn hài lòng với công việc của mình ở đó".
Quan tâm công việc ngay từ lúc phỏng vấn
"Phỏng vấn là quá trình trao đổi hai chiều, từ đó nhà tuyển dụng biết được nguyện vọng và năng lực của bạn ra sao, có phù hợp với công ty hay không. Bạn cũng biết "bộ mặt" của công ty như thế nào. Tóm lại, qua cuộc phỏng vấn, đôi bên sẽ thể hiện được mình là ai để thực hiện mục đích cơ bản là cùng nhau hợp tác".
Lê Thái Duy, tốt nghiệp ĐH Kinh tế ngành marketing, ứng tuyển vào vị trí nhân viên phát triển thị trường tại một công ty thương mại - dịch vụ. Cuộc phỏng vấn được tiến hành chớp nhoáng, vì một bên cần việc và một bên cần người, Duy được nhận vào làm việc ngay. Suốt cả tháng trời, anh chỉ được phân công đi phát tờ bướm quảng cáo và giao nước uống tại nhà cho khách hàng. Chán nản, Duy nói: "Nếu biết được công việc sẽ làm là như thế này thì tôi đã không vào đây. Sai lầm là do khi dự phỏng vấn, tôi đã không quan tâm đến công việc cụ thể vì cứ nghĩ rằng "phát triển thị trường" thì gắn với ngành marketing đã học".
Nhận diện công việc càng cụ thể càng tốt
Điều bạn cần quan tâm tại cuộc phỏng vấn là sự mô tả công việc. Chức danh chỉ là một khái niệm chung, còn thực chất công việc là gì, bạn cần phải nhận diện nó càng cụ thể càng tốt để đi đến quyết định có chọn công việc hay không?
"Ở thời điểm giữa cuộc phỏng vấn, nếu nhận thấy công việc không phù hợp với mình, bạn sẽ có sự lựa chọn: hoặc là tiếp tục dự phỏng vấn hoặc là chủ động chấm dứt cuộc phỏng vấn một cách lịch sự".
Vậy trong trường hợp công việc thật sự phù hợp với mình thì phải làm như thế nào? Tốt nhất hãy bày tỏ sự hài lòng và quyết tâm theo đuổi công việc đến cùng. Cần phải thể hiện kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành của bạn sẽ mang lại cho công ty nhiều lợi ích. Sự đóng góp của bạn chứng tỏ bạn là ứng viên giàu tiềm năng, bên cạnh công việc đó, bạn cũng có thể kiêm nhiệm tốt nhiều việc khác nữa. Khi trách nhiệm của bạn được mở rộng, đương nhiên quyền lợi của bạn cũng sẽ được nâng lên.
Chọn công việc hay chọn công ty?
Những kiến thức đã học được đem áp dụng ngay vào thực tiễn - đó là mong muốn của rất nhiều bạn trẻ. Công bằng mà nói, lý thuyết chưa đáp ứng được thực tiễn và nhiều khi xa rời thực tiễn, thậm chí giữa hai yếu tố này còn bị "lệch pha" nhau.
Tại một cuộc hội thảo việc làm, bà Nguyễn Thị Kim Oanh - Giám đốc nhân sự Công ty Bita’s - đã nói với các sinh viên mới ra trường: "Kiến thức chuyên môn của các bạn còn rất nhỏ bé so với thực tiễn. Công việc sẽ dạy thêm cho các bạn. Công ty cũng có trách nhiệm đào tạo, huấn luyện thêm cho các bạn".
(Theo Người lao động)
(Theo Lãnh Đạo)
Khi đàm phán, nếu chú ý đến ngôn ngữ cơ thể của đối phương, bạn sẽ "nghe" được nhiều điều mà có thể họ không trực tiếp nói ra. Hãy quan sát ngôn ngữ của toàn bộ cơ thể: đầu, cánh tay, bàn tay, thân, cẳng chân và bàn chân. Sự quan sát này sẽ giúp bạn nhận biết được thái độ của đối phương, chẳng hạn nội dung nào quan trọng và nội dung nào ít quan trọng hơn với họ.
Biết vị trí
Quan sát dễ dàng nhất là chỗ riêng của từng người. Tất nhiên, những người uy quyền nhất thường được dành cho những vị trí quan trọng nhất ở trong phòng. Ghế có uy lực nhất thường là ở đầu bàn.
Tạo ra mối liên hệ đầu tiên
Hãy bắt đầu mọi cuộc gặp với ngôn ngữ cơ thể và thể hiện sự nhiệt huyết của bạn. Nhìn vào mắt mọi người và bắt tay thật chặt. Hãy để phần giữa ngón cái và ngón trỏ chạm vào phần giữa ngón cái và ngón trỏ của đối phương. Nắm chặt chứ không siết chặt tay. Một cái lắc tay lên xuống và thể hiện bằng mắt là đủ. Một hoặc hai cái lắc nhẹ như vậy có thể thể hiện sự nhiệt tình, còn hơn nữa có thể làm đối phương cảm thấy không thoải mái.
Ở châu Mỹ, phụ nữ chào nhau có thể chạm cả hai tay cùng một lúc thay cho một cái bắt tay. Bắt tay không phải ở nơi nào cũng giống nơi nào. Người Đức bắt tay chỉ lắc lên xuống một lần. Người Pháp thường bắt một tay trong khi đặt tay kia lên vai người đối diện. Người Nhật có thể bắt tay trước khi cúi đầu chào.
Phán đoán sự lĩnh hội của đối phương
Nếu bạn chú ý đến ngôn ngữ cơ thể ngay từ đầu trong cuộc đàm phán, bạn có thể nắm bắt được các dấu hiệu thể hiện đối tác lĩnh hội (sẵn sàng lắng nghe và đưa ra ý kiến) như thế nào.
Bảng sau đây sẽ thể hiện các dấu hiệu tích cực và tiêu cực cùng với việc lĩnh hội và không lĩnh hội:
| Kênh | Lĩnh hội (dấu hiệu tích cực) | Không lĩnh hội (dấu hiệu tiêu cực) |
| Cánh tay và bàn tay | Hai cánh tay trải rộng, bàn tay mở đặt trên bàn, thư giãn, hoặc cánh tay để trên ghế, bàn tay chạm mặt. | Bàn tay nắm lại, khoanh tay trước ngực, lấy tay che miệng hoặc chống tay và đặt bàn tay sau gáy |
| Cẳng chân và bàn chân | Ngồi: hai chân để ngang với nhau hoặc chân nọ đặt trước chân kia (như khi bắt đầu một đường chạy).
Đứng: Người nghiêng về phía người nói | Đứng: Để chân chéo so với hướng người nói.
Dù đứng hay ngồi: cẳng chân và bàn chân hướng ra phía cửa ra. |
| Thân | Ngồi ở rìa ghế, cơ thể hướng về phía người nói, không cài khuy áo khoác ngoài | Dựa lưng vào ghế, đóng khuy áo khoác ngoài |
Những người thể hiện là đang lĩnh hội trông sẽ thư giãn, với bàn tay mở, để lộ lòng bàn tay thể hiện sự sẵn sàng thảo luận. Họ nghiêng về phía trước dù họ đang đứng hay ngồi. Những nhà đàm phán lĩnh hội sẽ không cài khuy áo khoác ngoài. Đối lập lại, những người không sẵn sàng lắng nghe có thể dựa vào ghế hoặc khoanh tay trước ngực.
Quan sát sự thay đổi của đối phương
Quan sát đối phương đứng hoặc ngồi như thế nào là bước đầu tiên để đọc ngôn ngữ cơ thể - nhưng mọi người không phải đều "bất động" như thế này. Vị trí và cử chỉ của họ sẽ thay đổi cùng với thái độ và cảm xúc. Hãy chú ý đến sự thay đổi.
Khi ai đó chấp nhận ý kiến của bạn, bạn có thể chú ý đến những dấu hiệu:
- Ngẩng đầu
- Hơi nheo mắt
- Tháo kính mắt
- Bóp nhẹ hai sống mũi
- Nghiêng về phía trước, chân không vắt chéo, ngồi ở mép ghế
- Biểu hiện bằng mắt
- Đặt bàn tay lên ngực
- Chống tay vào má hoặc cằm
Những dấu hiệu thể hiện sự chống đối
- Đưa tay ra sau cổ
- Cựa quậy, nhúc nhích không yên
- Không có biểu hiện gì bằng mắt
- Đặt tay sau lưng
- Đặt một bàn tay che miệng
- Nắm tay hoặc cổ tay
- Khoanh tay trước ngực
- Liếc mắt nhanh
- Nắm bàn tay lại
Phát hiện sự nhàm chán: Nhìn ra ngoài cửa sổ, một tay chống vào đầu, bẻ ngón tay... là các dấu hiệu chứng tỏ người nghe không còn chú ý nữa.
Bạn sẽ làm gì nếu bạn để ý thấy đối phương thể hiện dấu hiệu của sự chán nản? Đừng bắt đầu nói to hơn và nhanh hơn. Thay vì đó hãy nói "Chờ một chút, tôi cảm thấy tôi không khiến mọi người chú ý lắm. Có chuyện gì vậy?" và hãy lắng nghe. Bạn có thể phát hiện ra điều gì thực sự giữ người này hoặc nhóm người này chấp chận ý kiến của mình.
Cảnh báo:
Thiếu tự tin có thể dẫn tới căng thẳng. Nếu ngôn ngữ cơ thể của bạn thể hiện rằng bạn đang căng thẳng, đối phương của bạn có thể cho rằng bạn không đủ đảm bảo để duy trì vị trí đàm phán.
Đừng tin vào mọi điều bạn nhìn thấy. Dù bạn biết rõ về ngôn ngữ cơ thể đến đâu, cũng đừng mang chúng áp dụng cho từng người cụ thể, nhất là người mà bạn không biết rõ. Mỗi người có ngôn ngữ cơ thể riêng. Dù sự im lặng thường chỉ ra rằng ai đó đang bình tĩnh, nhưng cũng có thể khi đó họ đang giận dữ. Ngồi thẳng đứng có thể thể hiện sự cứng rắn, kiên quyết, nhưng cũng có thể vì người đó... đang bị đau lưng. Do đó, hãy tìm hiểu về ngôn ngữ cơ thể và liên hệ những quan sát của mình với lời nói của người đàm phán để biết được ý nghĩa thực sự đúng đắn.