Yahoo! 360° News | Beta Feedback
Start your own Yahoo! 360° page

NGOCKYLAN_HN

Top Page  |  Blog  |  Friends  |  Lists

  • Work: Http://vn.myblog.yahoo.com/hi_vietnamese

Add

NGOCKYLAN_HN is not connected to you in Yahoo! 360°.

Last updated Fri Aug 15, 2008 Member since December 2005

Tag Cloud

GIANG HO TIEU NGA NAN KHI NGA - TUE NGUYET LIEU NHAN DI SU NHAN--> Click here Reply

1 - 5 of 325 First | < Prev | Next > | Last

hi v's Blog Full Post View | List View

http://360.yahoo.com/my_profile.html;_ylt=Ar9zh6sp19U3YoTgndZWMLjlAOJ3

Cô gái nghèo


Ngôi trường Musolmo đúng là một nơi tuyệt vời để thư giãn, bởi lẽ những học trò chỉ thua ma quỷ một tí tẹo đã không để cho quý thầy cô mình có được một giây phút nghỉ ngơi nào. Thế nhưng với cô bé học sinh có biệt danh “Cô Gái Nghèo” thì lại không có nhiều tâm trạng với các trò đùa nghịch sexy như thế. Bởi lẽ cô còn có hàng tá công việc ở nhà để lo lắng, điển hình chính là bà mẹ tội nghiệp suốt ngày lo lắng vì những món nợ triền miên… Thế rồi một ngày đẹp trời nọ, một cơn gió mát thoảng qua cuộc đời khi cô ngẫu nhiên chạm trán với anh chàng Anthony và thấy tâm hồn lâng lâng một cảm xúc thật khó tả. Điều này không có gì ngạc nhiên vì Anthony chính là anh chàng hot nhất trường và được vô số quý cô săn đón. Cũng vì lẽ đó mà Anthony lại chẳng để mắt tới cô bé tội nghiệp của chúng ta…

Thế rồi một cơ may bất ngờ ập đến khi trong buổi thử vai cho vở kịch toàn trường cô nàng được đạo diễn nổi tiếng để mắt tới. Khi bắt đầu có khái niệm về thế giới nghệ sĩ, nàng lại phát hiện ra mình có khiếu nhảy nhót… Tài năng và xinh đẹp thế này không lẽ nào lại không kiếm ra tiền để trả món nợ gia đình; và ai dám bảo anh chàng Anthony không thèm ghé mắt tới cho dù bây giờ tâm hồn chàng đang tận nơi nảo nơi nao…

Phim này coi để cười là nhiều vì nó làm quá nhiều thứ,nhưng lại bắt gặp đâu đó hình bóng của mình,như 1 chàng đẹp trai nhất trường lại "nằm không",1 cô gái nghèo mơ mộng chàng hoàng tử,đoàn kết khi gặp khó khăn !!
Phim khắc họa hình ảnh học sinh "quậy" hơi quá,nhưng nó lại là cái vui nhất của đời học sinh !! Cảnh 3 chàng trai vừa tức tối vừa tự an ủi khi thấy thằng xấu nhất lớp và 1 mắt lại có cô bạn gái dễ thương vô cùng,và lại sững sốt khi thấy cô gái mà họ vừa cảm bước ra từ buồng vệ sinh nam Image
Cảnh cả đám học sinh cùng dùng chiêu thức "kinh dị" để áp chế con quái vật trong trường,....

Phần 1
Phần 2-HẾT
Hình gửi kèm (Click vào hình để phóng to)
Click vào ảnh để phóng to lên

Tên ảnh:  DasepoB.jpg
Lần xem: 8
Kích thước:  25,2 KB
Thursday November 20, 2008 - 10:37am (BDT) Permanent Link | 0 Comments
Thành công và hạnh phúc nhờ có sách
Thành công và hạnh phúc nhờ có sách magnify
Tuesday October 21, 2008 - 07:46pm (BDT) Permanent Link | 0 Comments
wonder baby & wonder girls
wonder baby & wonder girls magnify
var fo = writeMoviePlayer("watch-player-div");
Tags: baby
Saturday October 4, 2008 - 01:44pm (BDT) Permanent Link | 0 Comments
và tôi cũng yêu em
và tôi cũng yêu em magnify


Photobucket Photobucket

Và Tôi Cũng Yêu Em
Sáng tác: Đức Huy - Thể hiện: Đức Huy

Sunday May 11, 2008 - 10:43am (BDT) Permanent Link | 0 Comments
Bắc Kinh diên cách tên các đảo ở biển Đông để chứng minh chủ quyền
(Nam Hải chư đảo danh xưng sơ khảo)
Phạm Hoàng Quân

Dẫn luận

Tập khảo luận này hình thành trên cơ sở lấy Nam Hải chư đảo làm đối tượng nghiên cứu, ý đồ cơ bản của việc khảo và luận là để chứng minh “Tây Sa và Nam Sa không thuộc chủ quyền của Trung Quốc trong lịch sử”. Tây Sa và Nam Sa
[1] trong hệ thống danh xưng tứ đại quần đảo đã được các nhà quy hoạch Nam Hải chư đảo dày công dàn dựng, nhằm hợp lý hóa trên cơ sở lịch sử, đi đến hợp thức hóa chủ quyền, và sự diên cách diễn ra không theo quy luật tự nhiên ấy – hiển nhiên – không phù hợp với khoa học lịch sử.

Để chứng minh sự phản khoa học của các vấn đề Nam Hải chư đảo có nhiều phương pháp, tập khảo luận này dùng hiệu khám pháp, tức là phương pháp xét lại những loại tài liệu mà các nhà quy hoạch Nam Hải chư đảo đã sử dụng làm nền tảng lý thuyết. Ngoài ra, các tài liệu khác có liên quan đến chủ đề đang khảo cũng được tham khảo và sử dụng. Đương nhiên, tất cả tài liệu đều từ nguồn thư tịch, địa đồ cổ và hiện đại được biên soạn và xuất bản ở Trung Quốc và Đài Loan bằng Hán tự.

Tập khảo luận này là chương trình nghiên cứu độc lập, người viết không bị chi phối bởi bất cứ cơ quan, đoàn thể, đảng phái của quốc gia nào. Vì vậy, nếu có điều khinh suất hoặc chưa xác đáng, thì đó là trách nhiệm cá nhân.

Tập khảo luận gồm ba chương và các phần phụ lục, đại cương như sau:

Chương 1: Nam Hải chư đảo – đảo danh trong thư tịch hiện đại
Chương 2: Nam Hải chư đảo – đảo danh tương quan trong thư tịch cổ đại
Chương 3: Phân tích các nguồn sử tịch liên quan đến Nam Hải chư đảo

Vì tính đặc thù của tập khảo luận này, phần lớn dựa vào niên đại ra đời của các nguồn tài liệu để làm cơ sở lý luận nên quy ước bảng tên sách viết tắt như sau:
  1. Từ Hải – Hợp đính bản - Thương Vụ ấn thư quán – Thượng Hải 1947
    辭 海 – 合 訂 本 商 務 印 書 館 – 上 海 – 民 國 三 十 六 年. Viết tắt là – [Từ Hải - 1947]

  2. Từ Hải – Thượng Hải từ thư xuất bản xã – 2003
    辭 海 – 上 海 辭 書 出 版 社 – 2003. [Từ Hải - 2003]

  3. Từ Nguyên – Thương vụ ấn thư quán – 1939
    辭 源 – 商 務 印 書 館 – 上 海 – 民 國 三 十 八 年. [Từ Nguyên - 1939]

  4. Trung văn Đại Từ điển – Trương Kỳ Quân giám tu – Trung văn Đại từ điển biên soạn Ủy viên hội biên soạn – Trung Quốc Văn hóa học viện xuất bản – Đài Bắc – Trung Hoa Dân Quốc ngũ thập thất niên (1968) – bộ 40 quyển.
    中 文 大 辭 典 張 其 畇 監 修 , 中 文 大 辭 典 編 纂 委 員 會 編 纂 , 中 國 文 化 學 院 出 版 , 台 北 , 中 崋 民 國 五 十 七 年 (1968) – 全 四 十 冊. [Trung Văn ĐTĐ - 1968]

  5. Trung Quốc cổ kim địa danh đại từ điển – Tang Lệ Hòa (và một nhóm) chủ biên – Thương vụ ấn thư quán – 1933 (tái bản từ bản in lần đầu năm 1931)
    中 國 古 今 地 名 大 辭 典 – 臧 勵 龢 等 編 – 商 務 印 書 館 – 公 元 一 九 三 三 年. [Địa danh TĐ - 1933]

  6. Trung Quốc cổ kim địa danh đại từ điển – Đái Quân Lương (và một nhóm) chủ biên, đơn vị chủ biên: Bộ Dân chính Trung Hoa nhân dân cộng hòa quốc và Đại học Phục Đán. Thượng Hải từ thư xuất bản xã – 2005 (xuất bản lần 1 - 3 tập).
    中 國 古 今 地 名 大 辭 典 – 戴 均 良 – 等 主 編 – 主 編 單 位﹕中 崋 人 民 共 和 國 民 正 部, 复 旦 大 學 – 上 海 辭 書 出 版 社 – 2005 – 上 中 下 三 冊 – 第 一 次 印 版. [Địa Danh TĐ - 2005]

  7. Trung Quốc lịch sử đại từ điển – Trịnh Thiên Đĩnh (và một nhóm) chủ biên. Thượng Hải từ thư xuất bản xã. 2000. (2 tập)
    中 國 歷 史 大 辭 典 – 鄭 天 挺 等 主 編 -上 海 辭 書 出 版 社 – 2000 – 上 下 二 冊. [Lịch sử TĐ - 2000]

  8. Encyclopedia Britannica – bản Trung văn – Đan Thanh đồ thư hữu hạn công ty xuất bản – Đài Bắc. 1987. (20 tập).
    大 不 列 顛 百 科 全 書 – 中 文 版 – 丹 青 圖 書 有 限 公 司 – 1987 年 新 編 – 台 北 – 民 國 七 十 六 年 – 全 二 十 冊. [Britannica – Trung Văn - 1987]

  9. Tối tân thế giới địa đồ tập – Trung học giáo khoa thích dụng – Đàm Liêm – Thương vụ ấn thư quán ấn hành – 1938. (Tái bản lần thứ 7 từ bản 1935).
    最 新 世 界 地 圖 集 – 中 學 教 科 適 用 – 譚 廉 編 – 商 務 印 書 館 印 行 – 中 崋 民 國 二 十 七 年.[Thế giới ĐĐT - 1938]

  10. Trung Hoa dân quốc địa đồ tập – tập 4 – Trung Quốc Nam Bộ - Trương Kỳ Quân chủ biên. Quốc Phòng Nghiên cứu viện và Trung Quốc địa học nghiên cứu sở hợp tác ấn hành – 1964. (Tái bản lần 2 từ bản 1962, bộ 5 tập).
    中 崋 民 國 地 圖 集 – 第 四 冊 – 中 國 南 部 – 張 其 畇 主 編 – 國 防 研 究 院 與 中 國 地 學 研 究 所 合 作 印 行 – 中 崋 民 國 五 十 三 年 – 全 五 冊. [Trung Hoa ĐĐT – Nam Bộ 1964]

  11. Cộng phỉ cát cứ hạ đích Trung Quốc đại lục phân tỉnh địa đồ tham khảo tư liệu. Trương Kỳ Quân giám biên. Quốc Phòng Nghiên cứu viện, Địch tình Nghiên cứu sở - Trung Quốc văn hóa học viện, Đại lục cận huống Nghiên cứu sở hợp tác ấn hành. Đài Bắc. 1967.
    共 匪 割 倨 下 的 中 國 大 陸 分 省 地 圖 參 考 資 料 -張 其 畇 監 編 – 國防 研 究 院 敵 情 研 究 所 與 中 國 文 化 學 院 大 陸 近 況 研 究 所 合 作 印 行 – 台 北 –中 崋 民 國 五 十 五 年. [Đại lục ĐĐT – 1967]

  12. Quảng Đông Lịch sử địa đồ tập – Quảng Đông lịch sử địa đồ tập biên tập ủy viên hội biên - Tư Đồ Thượng Kỷ chủ biên. Quảng Đông tỉnh địa đồ xuất bản xã xuất bản. Quảng Châu 1995.
    廣 東 歷 史 地 圖 集 -廣 東 歷 史 地 圖 集 編 集 委 員 會 編 – 司 徒 尚 紀 主 編 – 廣 東 省 地 圖 出 版 社 – 廣 州 – 1995. [Quảng Đông LSĐĐT - 1995]

  13. Trung Quốc sử cảo địa đồ tập – Quách Mạt Nhược chủ biên. Địa đồ xuất bản xã xuất bản. 1980. (Bộ 2 tập).
    中 國 史 稿 地 圖 集 – 郭 沫 若 主 編 – 地 圖 出 版 社 出 版 – 北 ĩ京 1980 – 全 二 冊. [Sử cảo ĐĐT - 1980]

  14. Trung Quốc lịch sử địa đồ tập – Đàm Kỳ Tương chủ biên – Địa đồ xuất bản xã xuất bản. 1982. (bộ 8 tập).
    中 國 歷 史 地 圖 集 – 譚 其 驤 主 編 – 地 圖 出 版 社 員 出 版 – 北 京 1982 – 全 八 冊. [Lịch sử ĐĐT - 1982]

  15. Thế giới địa đồ sách – Hàn Tiểu Võ biên tập – Tây An địa đồ xuất bản xã xuất bản phát hành - Trung ngoại văn đối chiếu – Tây An 2004
    世 界 地 圖 冊 – 韓 小 武 編 集 – 西 安 地 圖 出 版 社 出 版 – 中 外 文 對 照 – 西 安 2004. [Thế giới ĐĐS - 2004]

  16. Trung Quốc phân tỉnh giao thông đồ sách – Giang Vĩnh Hân chủ biên – Tinh Cầu địa đồ xuất bản xã xuất bản – Bắc Kinh 2000
    中 國 分 省 交 通 圖 冊 - 江 永 欣 主 編 – 星 球 地 圖 出 版 社 出 版 – 北 京 2000. [Giao thông ĐS - 2000]

  17. Trung Hoa nhân dân cộng hòa quốc địa đồ. TL: 1/6.000.000. Cục trắc hội bộ Tổng tham mưu biên chế. Tinh Cầu địa đồ xuất bản xã. Bắc Kinh. 2000.
    中 崋 人 民 共 和 國 地 圖 – 比 例 尺 1: 6.000.000 – 總 參 謀 部 – 測 會 局 編 制 -星 球 地 圖 出 版 社 – 北 京 2000. [Trung Quốc ĐĐ - 2000]

Ngoài bảng thư mục nêu trên, các trích dẫn từ sách khác sẽ liệt vào phần chú thích.


Chương I

Nam Hải Chư Đảo – 南 海 諸 島 - South China Islands – đảo danh trong thư tịch hiện đại

Nam Hải với diện tích 3.400.000 km2 trải dài từ bắc xuống nam 2.900 km, và từ đông sang tây 967 km, giới hạn bởi bán đảo Malaysia, lục địa Đông Nam Á và các đảo: Đài Loan, Philippines, Brunei.

Nam Hải chư đảo là tên gọi chung tất cả các đảo và quần đảo ở biển Nam Trung Hoa gồm Đông Sa 東 沙, Tây Sa 西 沙 , Trung Sa 中 沙 , Nam Sa quần đảo 南 沙 群 島, Hoàng Nham đảo 黃 岩 島 và một số đảo linh tinh khác. Trước ngày 13-4-1988, Nam Hải chư đảo thuộc sự quản lý hành chính của tỉnh Quảng Đông. Sau ngày ấy, tỉnh Quảng Đông chỉ quản lý Đông Sa quần đảo, các quần đảo và đảo khác do tỉnh Hải Nam (tách ra từ Quảng Đông) quản lý.


Đông Sa quần đảo ở vị trí 200 33’ ~ 210 10’ vĩ độ Bắc và 1150 54’ ~ 1160 57’ kinh độ Đông, quần đảo này hợp thành bởi Đông Sa đảo 東 沙 島, Đông Sa tiêu 東 沙 礁, Nam Vệ than 南 衛 灘 và Bắc Vệ than 北 衛 灘.

Tây Sa quần đảo gồm 30 đảo, châu sa, tiêu, than
[2] hợp thành, phân tản trong khoảng vị trí 150 47’ ~ 170 08’ vĩ độ Bắc và 1110 10’ ~ 1120 55’ Kinh độ Đông, phân làm hai nhóm: phía đông là Tuyên Đức quần đảo宣 德 群 島, hợp thành bởi Triệu Thuật đảo 趙 述 島 , Bắc đảo 北 島, Trung đảo 中 島 , Nam đảo 南 島 , Thạch đảo 石 島 , Vĩnh Hưng đảo 永 興 島 , Đông đảo 東 島 . Trong đó Vĩnh Hưng đảo với diện tích 1,85 km2 [3] , là đảo lớn nhất trong các đảo Nam Hải, là trung tâm hành chính của Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa quần đảo thuộc tỉnh Quảng Đông [4] . Phía tây là Vĩnh Lạc quần đảo永 樂 群 島 , hợp thành bởi Kim Ngân đảo 金 銀 島 , Cam Tuyền đảo 甘 泉 島 , San Hô đảo 珊 瑚 島 , Tấn Khanh đảo 晉 卿 島 , Thâm Hàng đảo 深 航 島 , Thiên Kim đảo 千 金 島 , Trung Kiến đảo 中 建 島 . San Hô đảo cao hơn mặt nước biển 9,1 m, trên đảo lập trạm khí tượng.

Trung Sa quần đảo ở vị trí 150 24’ ~ 160 15’ vĩ độ Bắc và 1130 40’ ~ 1140 57’ kinh độ Đông, hợp thành bởi 20 bãi cái ngầm đá ngầm vẫn chưa lộ lên khỏi mặt biển.

Nam Sa quần đảo ở vị trí 110 29’ vĩ dộ Bắc đến gần 40 vĩ độ Bắc, Tây từ 1090 30’ kinh độ Đông, đông đến 1170 50’ kinh độ Đông, hợp thành bởi 100 đảo, châu, tiêu, sa, than, trong đó khoảng 20 đảo vả bãi cát vượt khỏi mặt biển. Các đảo chính gồm: Bắc Tử đảo 北 子 島, Nam Tử đảo 南 子 島 , Trung Nghiệp đảo 中 業 島 , Nam Thược đảo 南 鑰 島 , Thái Bình đảo 太 平 島 , Cảnh Hoằng đảo 景 宏 島 , Tây Nguyệt đảo 西 月 島 , Mã Hoan đảo 馬 歡 島, Nam Uy đảo 南 威 島 …

[Britannica – Trung văn - 1987. tập 11. tr. 178]
[5]


Đoạn văn trích dịch trên đây có thể coi là tiêu biểu cho sự định danh và định vị các quần đảo ở Nam Hải theo chủ kiến của các nhóm tác giả chuyên về việc biên soạn Từ điển, cụm từ Nam Hải chư đảo ra đời rất muộn, các bộ [Trung Văn ĐTĐ - 1968], [Từ Hải 1947], [Từ Nguyên 1939], [Địa Danh TĐ - 1933] không thấy liệt nhập. Riêng trong [Địa Danh TĐ - 2005] do phân tán phần định nghĩa riêng từng mục từ của 4 quần đảo nên mục từ Nam Hải chư đảo được tóm lược vắn tắt hơn nhiều so với [Britannica – Trung Văn - 1987].


1. Đông Sa quần đảo – Pratas Islands

Đông Sa đảo theo ghi nhận của [Trung Văn ĐTĐ - 1968] có nội dung như sau:


“Đông Sa đảo trong biển Nam Hải về phía nam thành phố Sán Đầu – tỉnh Quảng Đông, còn gọi là Thiên Lý Thạch Đường, người phương Tây gọi là đảo Pratas (hài âm Hán: Bố-lạp-đa-tư). Nơi này là điểm trọng yếu của tuyến đường biển đi Hương Cảng, Lữ Tống [Luzon] và Nam Dương [Indonesia]. Ven bờ có nhiều hải sản, thủy sinh vật và chất lân tinh. Đã xây dựng đài khí tượng, trạm điện tín vô tuyến và hải đăng.” [6]


Xét thêm trong [Địa Danh TĐ - 2005] phần viết về Đông Sa có câu: “Đông Sa quần đảo vị trí tối bắc” [7] , theo sát nghĩa câu này thì sự định vị “tối bắc” (cực bắc) hẳn Đông Sa quần đảo lấy Trung Sa quần đảo làm trung tâm. Sự vô lý của việc lấy Trung Sa làm trung tâm sẽ được bàn sau, đây ta đang xét về Đông Sa. Trong 4 quần đảo ở Nam Hải, Đông Sa ở một vị trí trọng yếu về hải thương và quân sự, vào đời Quang Tự [1875 - 1908] nhà Thanh, Đông Sa từng bị người Nhật chiếm lấy, làm nơi đầu tư doanh thương, đổi tên Đông Sa là Tây Trạch đảo 西 澤 島 (Nishizawa - tên riêng của thương nhân người Nhật). Về sau Chính phủ Thanh triều phải bỏ ra 30 vạn lạng bạc để chuộc lại, phục hồi tên cũ là Đông Sa. Tên gọi Đông Sa vốn căn cứ vào thư tịch văn hiến khá muộn. Đảo danh này chỉ xuất hiện từ đời Thanh như một đoạn văn trong sách Hải lục 海 錄 [8] đã viết: “Đông Sa là bãi cát nổi lên giữa biển, ở phía đông Vạn Sơn, nên mới gọi tên là Đông Sa[9] . Vạn Sơn tức Vạn Sơn trấn, nay là phía đông nam khu Hương Châu 香 洲 , thành phố Châu Hải 珠 海 , tỉnh Quảng Đông. Như vậy, trong Nam Hải chư đảo, Đông Sa không thể và chưa từng theo hệ quy chiếu phía Nam, tức lấy Trung Sa làm trung tâm điểm. [10]

Bản đồ Đặc khu hành chính Hải Nam
Hình 1: Bản đồ Đặc khu hành chính Hải Nam, Nguồn: [Trung Hoa ĐĐT – Nam Bộ 1964].



2. Trung Sa quần đảo

Trung sa là quần đảo trung tâm của Nam Hải chư đảo, là cái cớ đặt định danh nghĩa tứ phương. Về tên gọi, Trung Sa được mệnh danh để hợp lý hoá tổng thể Nam Hải chư đảo, thực chất Trung Sa chưa thể gọi là quần đảo, nếu định danh cho phù hợp thực trạng thì phải gọi là Trung Sa quần âm sa 中 沙 群 暗 沙 hoặc Trung Sa quần âm tiêu 中 沙 群 暗 礁 . Theo [Đại Lục ĐĐT - 1967]: “Thị toàn bộ tiềm phục tại hải diện hạ đích san hô tiêu. Âm tiêu cự ly thủy diện ước 20 mễ/ ị是 全 部 潛 伏 在 海 面 下 的 珊 瑚 礁 。 暗 礁 距 離 水 面 約 20 米” [trang 27, mặt sau]. Bãi san hô và đá ngầm (ở vị trí 150 24’ ~ 160 15’ vĩ độ Bắc và 1130 40’ ~ 1140 57’ kinh độ Đông) nằm sâu dưới mặt nước biển khoảng 20 mét nhận vai trò thống lĩnh chư đảo ư?

Đáng ngạc nhiên hơn, cái bãi đá trung ương chìm nghỉm ấy – chí ít là – cho đến năm 1947, lại mang cái tên Nam Sa quần đảo, điều này được thể hiện rõ trong [Thế giới ĐĐT - 1938] phần địa đồ trang 3, trang 4, trang 6 và phần Phụ thuyết. “Trung Hoa dân quốc – Địa văn khái huống中 崋 民 國 – 地 文 概 況”, trích một đoạn ngắn như sau:


“Trung Hoa dân quốc nằm ở Đông Nam Á châu. Bờ phía Đông là Hoàng Hải, Đông Hải và quần đảo Nhật Bản, nhìn ngang sang các thuộc địa [của Nhật] là Lưu Cầu [Ryukyu], Đài Loan. Bờ Đông nam là Nam Hài với Đông Sa đảo, Tây Sa quần đảo, Nam Sa quần đảo, Đoàn Sa quần đảo…”. [11]


Bản đồ chính trị châu Á
Hình 2: Bản đồ chính trị châu Á. Nguồn: [Thế giới ĐĐT - 1938]



Đây đang nói về Đông Sa, chưa phân tích danh xưng Đoàn Sa quần đảo. Một tài liệu khác thừa nhận Trung Sa ngày nay với tên gọi Nam Sa quần đảo là [Từ Hải - 1947],


“Nam Sa quần đảo ở phía đông nam đảo Hải Nam nước ta, giữa biển Nam Hải, là nơi trọng yếu của tuyến đường đến Nam dương.” [12]


Tất nhiên, sự mô tả trên đây của [Từ Hải - 1947] là chỉ Nam Sa quần đảo ở gần Tây Sa, tức là Trung Sa ngày nay, bởi sách này đã liệt nhập mục từ Đoàn Sa quần đảo để nói về Nam Sa hiện nay. Như vậy, chí ít là trong khoảng 10 năm, từ 1938 đến 1947, Trung Sa quần đảo có tên gọi Nam Sa quần đảo (từ đây sẽ viết là Nam Sa cũ). Xét cho cùng, Trung Sa (Nam Sa cũ) chỉ là một hư ngụy quần đảo, được đặt để lập cập, bất nhất danh xưng. Bãi đá ngầm chìm sâu ấy được thể hiện trên hầu hết các bản đồ hiện đại với ký hiệu địa mạo tương đồng với ký hiệu địa mạo các đảo dự nổi cao khác. Ngày nay, các từ điển bách khoa tổng hợp như [Từ Hải – 2003] đến từ điển chuyên về địa danh lịch sử như [Địa danh TĐ - 2005] khi viết về quần đảo này đã cho biến mất chi tiết quan trọng trong lịch sử, là, nó đã từng mang tên “Nam Sa quần đảo”.

Ngoài ra, một đảo danh khác (cách Trung Sa gần 200 km về hướng đông nam) là Hoàng Nham đảo ngày nay cũng có vấn đề thay đổi đảo danh tương tự, vì trước năm 1964, trong [Trung Hoa ĐĐT - 1964] đảo này đã mang tên là Nam Nham 南 巖. Chi tiết đổi “Nam Nham” thành “Hoàng Nham” góp phần khẳng định rằng các nhà quy hoạch Nam Hải chư đảo chưa thỏa mãn với việc xem Nam Nham là đảo cực nam của Nam Hải. Cho nên, ý đồ đẩy “phương nam” xa dần về cực nam bằng cách thay chữ “Nam” trong tên gọi các đảo cực nam bằng những từ khác (chẳng hạn: Nam Sa thành Trung Sa, Nam Nham thành Hoàng Nham) được thực hiện tuần tự và có hệ thống.

Bản đồ chính trị châu Á
Hình 3: Đảo Nam Nham, trích 1 phần địa đồ C19, C20 trong [Trung Hoa ĐĐT - 1964]



Bản đồ chính trị châu Á
Hình 3b: Đảo Hoàng Nham, một phần địa đồ “Nam Hải chư đảo” trong [Đại Lục ĐĐT - 1966] tr. 27





[1]Với mục đích mở rộng đối tượng độc giả và để thuận tiện trong việc tra cứu, kiểm chứng tài liệu trích dẫn – hầu hết từ thư tịch Trung Quốc – người viết sẽ sử dụng danh xưng Nam Hải 南 海 , Tây Sa西 沙 , Nam Sa 南 沙 … thay vì gọi Biển Đông 東 海 , Hoàng Sa黃 沙, Trường Sa長 沙… như cách gọi chính thức của Việt Nam.
[2]Đảo, châu, sa, tiêu, than là cách xác định hình trạng cụ thể các loại cù lao nổi hoặc chưa nổi trong biển; đảo: được xem là khái niệm chung, là cù lao, bãi đất nổi lên giữa biển; châu: bãi cù lao, có chỗ ở được; sa: đất cát, bãi cát, nơi có đá vỡ rải rác trong nước; tiêu (âm khác đọc là tiều): đá mọc ngầm trong biển hoặc cù lao có diện tích nhỏ hơn đảo; than: nơi nước cạn có nhiều bãi đá làm cho dòng nước chảy nhanh, là khu vực nguy hiểm đối với tàu thuyền. Vì không tìm được từ tiếng Việt tương đương với một số từ trong cụm từ này, nên chúng tôi giữ nguyên âm.
[3][Từ Hải - 2003] ghi nhận diện tích đảo Vĩnh Hưng là 1,68 km2 (tr. 1815, mục từ “Tây Sa quần đảo”).
[4][Britannica – Trung Văn - 1987] được tham khảo in năm 1987, thời điểm này Hải Nam chưa tách khỏi Quảng Đông, nên Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa quần đảo vẫn thuộc sự quản lý hành chính của tỉnh Quảng Đông.
[5]Theo quy ước nêu ở phần “Dẫn luận”, đúng ra chúng tôi không dùng đoạn văn này trong tập khảo luận, vì Britannica được biên soạn do một quốc gia khác Trung Quốc. Nhưng, theo sự thỏa thuận của Đặng Tiểu Bình với tổng giám đốc Encyclopedia – Britannica ký tại Bắc Kinh - 1985, thì các học giả Trung Quốc đảm nhận việc biên soạn lại những mục từ có liên quan đến Trung Quốc, vì vậy, chúng tôi sử dụng đoạn Trung văn trích dịch này.
[6]Đông Sa đảo tại Quảng Đông tỉnh Sán Đầu thị nam Nam hải trung diệc xưng Thiên Lý Thạch Đường, Tây nhân xưng vi Bố-lạp-đa-tư đảo – Pratas I. – địa đương Hương Cảng, Lữ Tống cập Nam dương quần đảo hàng tuyến chi yếu xung, diên ngạn nhiêu ngư sản, thủy thảo cập lân, hữu quan tượng đài, vô tuyến điện tín cập đăng tháp.
東 沙 島 在 廣 東 省 汕 頭 市 南 南 海 中。 亦 稱 千 里 石 塘 。 西 人 稱 為 布 拉 多 斯 島 (Pratas I.) 地 當 香 港, 呂 宋 及 南 洋 群 島 航 線 之 要 衝, 沿 岸 饒 魚 產, 水 草 及 燐。 有 觀 像 臺, 無 線 電 信 及 燈 臺 。[Trung Văn ĐTĐ - 1968] – tập 17 – tr. 6972.
[7]東 沙 群 島 位 置最 北 (quyển trung, tr. 2104)
[8]Theo [Từ Hải - 2003], sách Hải Lục do người đời Thanh là Tạ Thanh Cao 謝 清 高 thuật lại cho Dương Bỉnh Nam 楊 炳 南 chép (có thuyết cho là Ngô Lan Tu 吳 蘭 修 chép). Học giả hiện đại Phùng Thừa Quân 馮 承 鈞 chú thích, phân thành ba quyển (tr. 620).
[9]Đông Sa giả, hải trung phù sa dã, tại Vạn Sơn Đông, cố xưng vi Đông Sa/ 東 沙 者 海 中 浮 沙 也 在 萬 山 東 故 稱 為 東 沙 [Địa Danh TĐ – 2005 – tập thượng. tr. 832]
[10]Về căn nguyên – Đông Sa từng có tên là Thiên Lý Thạch Đường như sự ghi nhận của [Trung Văn ĐTĐ - 1968]. Đảo danh Thiên Lý Thạch Đường – trong nhiều thời điểm – được dùng đặt tên cho nhiều quần đảo khác nhau trong Nam Hải chư đảo. Sự nhập nhằng này sẽ được phân tích làm rõ trong chương II. Mặt khác, theo ghi nhận của [Quảng Đông LSĐĐT - 1995], quần đảo Đông Sa còn có các cổ danh như: Nam Áo Khí 南 澳 氣 , Khí Sa Đầu 氣 沙 頭 , Lạc Tế 落 漈 , vì vậy, chúng có sự liên đới danh xưng với các nhóm đảo khác trong Nam Hải chư đảo, vấn đề này cũng sẽ được phân tích rõ hơn ở chương II.
[11]Trung Hoa dân quốc vị Á châu đích Đông Nam bộ. Đông tân Hoàng Hải, Đông Hải hòa Nhật Bổn quần đảo cập tha đích thuộc địa Lưu Cầu, Đài Loan dao đối. Đông Nam tân Nam Hải dĩ Đông Sa đảo, Tây Sa quần đảo, Nam Sa quần đảo, Đoàn Sa quần đảo…/中 崋 民 國 位 亞 洲 的 東 南 部 。 東 賓 黃 海 東 海 和 日 本 群 島 及 他 的 屬 地 琉 球 臺 灣 遙 對 ; 東 南 賓 南 海 以 東 沙 島 西 沙 群 島 南 沙 群 島 團 沙 群 島 …” [Thế giới ĐĐT - 1938]. (tr. 9).

[12]Tại ngã quốc Hải Nam đảo đông nam, Nam Hải trung, dương Nam dương hàng tuyến chi yếu xung / 在 我 國 海 南 島 東 南, 南 海 中, 當 南 洋 航 線 之 要 衝 (Tử tập, tr. 221).

3. Tây Sa quần đảo (Paracel Islands)

Sự lẫn lộn và muộn màng của tên gọi Trung Sa ở bãi đá ngầm “trung ương” như nêu trên dẫn đến luận thuyết “chữ Tây trong Tây Sa hàm nghĩa Tây nhân”, chúng không hề mang ý nghĩa là một quần đảo ở hướng tây. Hãy quan sát bản đồ, đối với Bắc Kinh thì Tây Sa ở hướng nam, đối với Quảng Châu thì Tây sa cũng ở hướng nam, còn đối Hải Nam thì Tây Sa ở về hướng đông nam. Mặt khác, về niên đại xuất hiện đảo danh, Tây Sa có trước Trung Sa nên Trung Sa không thể là căn cứ để định danh hướng tây của Tây Sa. Như vậy, Tây Sa không có chứng cứ để hợp thức tên gọi mang nghĩa quần đảo ở hướng Tây. Trong khi đảo danh Đông Sa được bảo chứng bởi một câu trong sách Hải Lục: “Đông Sa giả, hải trung phù sa dã, tại Vạn Sơn đông, cố xưng vi Đông Sa” [Địa danh TĐ - 2005], thì học giới Trung Quốc với đầy ắp sử liệu trong tay, vẫn không tìm được một câu bảo chứng đủ quyền uy như thế đối với Tây Sa, để có thể lý giải ý nghĩa “hướng tây” trong chữ “Tây Sa” từ đâu mà có?

Sau đây, sẽ củng cố luận thuyết “Tây Sa quần đảo là quần đảo được định danh không theo phương hướng”. Các thương nhân Trung Hoa - trong các cuộc hải thương – đặt chân đến Tây Sa khi quần đảo này đã mang sẵn những cái tên do người phương Tây đặt gọi, sau những kỳ gặp gỡ, mua bán, trở về xứ, họ bảo với nhau về sự có mặt của Tây nhân, các đảo dự thì được gọi bằng Tây danh, và họ gọi Tây Sa với hàm nghĩa là quần đảo có nhiều người Tây, tên đảo mang tên của người Tây đặt định. Cho đến năm 1933, các hòn đảo to nhỏ ở quần đảo này còn chưa có một Hán danh nào.

“Tây Sa quần đảo, tại phía đông nam cảng Du Lâm, huyện Lục Thủy, tỉnh Quảng Đông, xưa gọi là Thất Châu Dương. Người Tây đặt tên là Paracels [hài âm: Bạt-Lạp-Tắc-Nhĩ], là điểm phải ngang qua của con đường giao thông Hương Cảng và Nam Dương. Nước biển sâu và nhiều đá ngầm, bãi cát bồi mọc nhiều loại rong biển, được gọi là con đường nguy hiểm. Quần đảo phân đông tây hai nhóm, nhóm phía đông là quần đảo (Group) Amphitrite [A-Phi-Đặc-Lý-Đặc], nhóm phía tây là quần đảo Crescent [Kỵ-Ni-Tiên]. Cuối đời Thanh, quan lại Quảng Đông đã đến quản lý, từng cho người đến điều tra. Quần đảo Amphitrite lại phân làm hai nhóm đông và tây, tại phía đông nam là hai đảo Racky [Lạc-Vong], Woody [Khoát-Địa]; tại phía tây bắc gồm 4 đảo, gần bên là hai bãi đá lớn trải rộng, điểm trên cùng phía bắc là đảo Tree [Đích-Lợi], đá trải từ bắc quanh qua tây đối ngang với bãi đá lớn phía nam. Ở phía nam là bãi đá trải vòng từ tây bắc qua đông nam, đều nhô lên cao, một dải bắc trung nam ba đảo. Crescent quần đảo gồm lớn nhỏ 6 đảo gần nhau [bốn đảo lớn] là: Drummond [Đỗ-Lâm-Môn], Pattle [Bát-Đỗ-La], Robert [La-Bạt], Money [Văn-Ni], đá ngầm nối liền nhau hình dạng như trăng non, Crescent có nghĩa là trăng non [lưỡi liềm].” [1]

Riêng về phương diện đảo danh mà xét, cho đến năm 1968, mục từ “Tây Sa quần đảo” trong [Trung Văn ĐTĐ - 1968] vẫn còn giữ cách phiên âm từ Tây danh của quần đảo này là “Ba-lạp-tắc-nhĩ” 巴 拉 塞 爾 (tập 30 - tr. 13220) như [Địa Danh TĐ – 1933] đã ghi nhận. Chỉ đến gần đây, các bộ từ điển như [Từ Hải - 2003], [Địa danh TĐ - 2005] mới loại hẳn các yếu tố nguyên gốc Tây danh mà [Địa danh TĐ - 1933] và [Trung Văn ĐTĐ - 1968] đã thâu nhập, ngay cả trong [Britannica – Trung Văn - 1987], bộ bách khoa thư tiêu chuẩn trên bình diện quốc tế, cũng không tìm đâu ra các cựu danh đã từng xuất hiện. Đáng phê bình nhất là nhóm học giả biên soạn “Trung Quốc cổ kim địa danh đại từ điển – 2005”, họ đã đi ngược lại tiêu chí – mà tên sách đã nêu – khi biên sạn các mục từ về các quần đảo ở Nam Hải, mà trường hợp Tây Sa là tiêu biểu:

“Tây Sa quần đảo, xưa gọi là Cửu Nhũ Loa Châu, Thất Châu Dương, Thất Châu đảo. Là một trong bốn quần đảo lớn ở biểnNam Trung Quốc, thuộc tỉnh Hải Nam, cách đảo Hải Nam 330 km về hướng đông nam. Với hai nhóm đảo lớn là Tuyên Đức và Vĩnh Lạc, cùng các đảo, đá khác. Các đảo lớn chủ yếu là Vĩnh Hưng, Triệu Thuật, San Hô, Cam Tuyền, Trung Kiến và đảo Đông…”. [2]

Về các cổ danh xưng như: Cửu Nhũ Loa Châu, Thất Châu Dương, Thất Châu đảo sẽ phân tích cụ thể ở chương II, đây chỉ xem như một dẫn chứng để quán xuyến về sự thay đổi đột ngột của các đảo danh. Mặt khác, muốn nhắc lại ràng, bản nghĩa của danh xưng Tây Sa trong một giai đoạn lịch sử, không phải là “quần đảo nằm ở phía tây Trung Sa” như các từ điển tiêu chuẩn xuất bản gần đây ngụy thuật.

Tây Sa ngày nay (2007) với Vĩnh Hưng đảo có diện tích gần 2 km2, là hòn đảo lớn nhất cùa quần đảo và Nam Hải chư đảo, sắp trở thành Thị sảnh Tam Sa thị, là trung tâm quân sự và kinh tế, trên đảo hiện tồn các di tích “cô hồn miếu”, “quần đảo kỷ niệm bi”, “Nhật Bản pháo lâu di chỉ”, “Trung Quốc Nam hải chư đảo công trình kỷ niệm bi” và cơ quan nghiên cứu “Hải dương bác vật quán”, trạm radar quân sự mang tên “Tây Sa minh châu”. “Quần đảo kỷ niệm bi” (Bia kỷ niệm quần đảo) khắc dòng chữ: “Bia kỷ niệm hải quân lấy lại quần đảo Tây Sa – ngày 24 tháng 11 năm Dân Quốc thứ 35 (1946) – Trương Quân Nhiên dựng bia” [3] .


4. Nam Sa quần đảo (Spratly Islands)

Đảo danh Nam Sa, trong vài thập niên, đã hai lần được sử dụng để đặt tên cho hai quần đảo hoàn toàn khác nhau. Lần thứ nhất, khoảng đầu thế kỷ XX đến trước 1949, đảo danh Nam Sa là tên của quần đảo Trung Sa hiện nay (chúng tôi đã gọi là “Nam Sa cũ” trong mục “Trung Sa quần đảo” trên đây). Lần thứ hai, sau năm 1949, đảo danh Nam Sa bỗng dưng được thay cho một quần đảo khác vốn có tên là: Đoàn Sa. Có thể hình dung việc ấy như sau: trước năm 1949, cây trụ đá khắc dòng chữ “Nam Sa quần đảo” được đóng ở bãi đá ngầm “trung ương” (mà hiện nay mang tên “Trung Sa quần đảo”), sau năm 1949, cây trụ đá trên được đưa đi hơn 500 km về phương nam đóng vào bãi đá có tên là Đoàn Sa quần đảo. Từ ngày ấy, cái tên Đoàn Sa biến mất trên các loại từ điển và bản đồ Nam Hải chư đảo.

Đảo danh Đoàn Sa được [Từ Hải - 1947] liệt nhập riêng thành một mục từ và ghi nhận như sau:

“Đoàn Sa quần đảo ở trong biển Nam, tại phía đông nam đảo Hải Nam nước ta, còn gọi là Tizard Bank, vị trí ở trong khoảng Bà La Châu [Côn Lôn đảo] nước An Nam và Philippines, là nơi trọng yếu của tuyến đường biển đi Nam Dương, nơi quan trọng trong việc phòng vệ biển của nước ta. Trên đảo có thực vật thân thấp, quanh đảo có nhiều hải sản. Năm Dân Quốc thứ 22 [1933] nước Pháp chiếm lấy, hiện đang trong vòng đàm phán” [4] .


Trung Hoa Dân Quốc
Trung Hoa Dân Quốc
Hình 4: Trung Hoa Dân Quốc, trong [Thế giới ĐĐT – 1938], tr. 4.

Xiêm La An Nam cập Nam dương quần đảo
Xiêm La An Nam cập Nam dương quần đảo
Hình 5: Xiêm La An Nam cập Nam dương quần đảo, trong [Thế giới ĐĐT – 1938], tr. 6.

Ngoài sự ghi nhận của [Từ Hải - 1947], đảo danh Đoàn Sa được in rõ trên bốn bức địa đồ trong sách “Tối tân thế giới địa đồ tập – 1938”, xếp thứ tự như sau:
  1. Á Tế Á địa hình (亞 細 亞 地 形 – Asia Physical), địa đồ tỷ lệ 1/57.000.000 (tr.2 trong sách dẫn).
  2. Á Tế Á chính khu (亞 細 亞 政 區 Asia Political), địa đồ tỷ lệ 1/57.000.000 (tr. 3 trong sách dẫn, hình 2 trong bài viết, phần Trung Sa).
  3. Trung Hoa Dân Quốc/ 中 崋 民 國 địa đồ tỷ lệ 1/27.000.000 (tr. 4 trong sách dẫn, hình 4 trong bài viết).
  4. Tiêm La, An Nam cập Nam Dương quần đảo (暹 羅, 安 南 及 南 洋 群 島 Siam, Annam & East Indies), địa đồ tỷ lệ 1/26.000.000 (tr. 6 trong sách dẫn, hình 5 trong bài viết).
Trong bức địa đồ “Tiêm-La, An Nam cập Nam Dương quần đảo” có điểm đáng lưu ý là, hệ thống đảo danh Đoàn Sa quần đảo đều được hài âm hoặc chuyển nghĩa từ Tây danh, cụ thể như sau:
  • 雙 島 [Song đảo] – Two Islets
  • 勞 達 島 [Lao-Đạt đảo] – Loaita Bk
  • 堤 沙 淺 洲 [Đê-Sa-Thiển-Châu] – Tizard Bk
  • 帝 都 島 [Đế đô đảo] – Thitu
  • 斯 巴 得 來 島 [Tư-Ba-Đắc-Lai đảo] – Spratly
  • 安 埧 那 島 [An-Cụ-Na đảo] – Amboyna
Phối hợp sự ghi nhận của [Từ Hải - 1947] và [Thế giới ĐĐT - 1938] về các đảo danh, sẽ thấy rõ rằng: các loại đảo danh như Trịnh Hòa 鄭 和 , Phí Tín 費 信 , Mã Hoan 馬 歡 là loại ra đời rất muộn, cùng với tên mới là Nam Sa quần đảo, chúng lục tục xuất hiện sau năm 1949 [5] .

Nam Sa quần đảo trong các từ điển gần đây ghi nhận đều không thấy nhắc đến đảo danh Đoàn Sa như một tiền danh có thực, [Trung Văn ĐTĐ - 1968] ghi nhận về Nam Sa như sau:

“Nam Sa quần đảo nằm ở phía đông nam đảo Hải Nam – tỉnh Quảng Đông, là nơi cực nam của lãnh thổ nước ta, nằm trong khoảng 40 đến 110 30’ vĩ độ bắc và 1090 30’ đến 1170 50’ kinh độ đông, bao quát chín mươi bảy đảo, tiêu, than và âm sa, nhóm Trịnh Hòa quần tiêu là rộng nhất, góc tây bắc là đảo Thái Bình – lớn nhất quần đảo. Quần đảo này nằm nơi quan yếu trên đường biển đi Nam Dương. Nam Sa quần đảo cũng là một bộ phận trong quần thể với Đông Sa và Tây Sa quần đảo.” [6]

Qua đoạn văn trên, tên cũ Đoàn Sa của quần đảo này không thấy ghi nhận, việc định vị điểm cực nam cũng còn rất mơ hồ (chưa thấy đảo danh Tăng Mẫu Âm Sa xuất hiện), khác với [Địa danh TĐ - 2005] viết như sau về Nam Sa quần đảo:

“Nam Sa quần đảo là quần đảo ở cực nam trong bốn quần đảo lớn của Nam Hải chư đảo, Trung Quốc, đảo và đá ngầm nhiều nhất, phân tán rộng nhất, thuộc tỉnh Hải Nam. Các đảo dự chủ yếu gồm: Thái Bình, Nam Uy, Trung Nghiệp, Cảnh Hoằng, Hồng Hưu, Quý [Phí] Tín, Mã Hoan, bãi đá ngầm Dương Minh và các bãi Vạn An, Lễ Nhạc, Hải Mã. Thái Bình là đảo lớn nhất với diện tích 0,43 km2… Tăng Mẫu Âm sa là điểm cực nam của lãnh thổ Trung Quốc [7] . Đáy biển có mỏ dầu với trữ lượng lớn”. [8]

Ngoài ra, một ít dữ liệu trong [Đại Lục ĐĐT – 1967] còn cho biết thêm cảnh quan và thực trạng các đảo quan trọng trong Nam Sa quần đảo: “Thái Bình đảo cao hơn mặt nước biển 4m, địa thế bằng phẳng, là nơi dựng bia xác định chủ quyền Nam Sa, đã xây dựng trạm truyền tin và tháp hải đăng, hoàn thànhh hệ thống giao thông đông – tây đảo. Nam Uy đảo cách Thái Bình đảo 300 km, diện tích 0,15 km2, đường thủy quanh đảo sâu rộng, thuận tiện cho việc lập cảng, là quan nơi quan trọng trong việc phòng vệ biển…”.


Tổng thuật

Nam Hải chư đảo, tên gọi tổng quát bốn quần đảo: Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và một số đảo nhỏ khác như Hoàng Nham đảo (trước 1964 đảo này có tên là Nam Nham – Nanyen – Searborough Shoal), Truro Shoal (Đặc-lỗ-lộ than 特 魯 路 灘), Stewart Bank (Quản-sự-âm than 管 事 暗 灘), Thất Châu Dương 七 洲 洋 …

Đông Sa quần đảo, còn có các tên khác là: Thiên Lý Thạch Đường, Nam Áo Khí, Khí Sa Đầu, Lạc Tế [9] , ở về cực bắc Nam Hải chư đảo, cách thành phố Sán Đầu 汕 頭 (tỉnh Quảng Đông) 260 km về phía nam. Dựa vào sách Hải Lục [10] thì đảo danh Đông Sa hình thành trên cơ sở vị trí địa lý lấy Vạn Sơn trấn làm chuẩn, Đông Sa là bãi cát ở phía đông Vạn Sơn. Đời vua Quang Tự [1875 - 1908] nhà Thanh, Đông Sa đảo do người Nhật quản lý, thời điểm bấy giờ Đông Sa có tên là Tây Trạch [Nishizawa] đảo. Hiện nay thuộc sự quản lý hành chính của tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) cũng từng tuyên bố quyền sở hữu của mình đối với Đông Sa quần đảo [11] .

Trung Sa quần đảo còn có tên Thạch Tinh Thạch Đường 石 星 石 塘 [12] là các bãi đá ngầm chìm sâu dưới mặt biển, những năm đầu thế kỷ XX có tên là Nam Sa quần đảo, sau năm 1949 đổi gọi là Trung Sa cho đến nay.

Tây Sa quần đảo còn có các tên: Thiên Lý Trường Sa 千 里 長 沙, Vạn Lý Thạch Đường 萬 里 石 塘, Thiên Lý Thạch Đường 千 里 石 塘(15), Bạt-lạp-tắc-nhĩ, Ba-lạp-tắc-nhĩ. Các đảo dự chủ yếu trong quần đảo Tây Sa trước năm 1949 đều mang Tây danh (tên do các nhà thám hiểm phương Tây đặt), sau đó mang Hán danh. Vĩnh Hưng đảo và Trung Kiến đảo của quần đảo lấy từ tên hai tàu hải quân Trung Hoa Dân Quốc (tàu Vĩnh Hưng và tàu Trung Kiến – hai trong bốn tàu hải quân đến tiếp nhận sự đầu hàng của hải quân Nhật Bản vào tháng 11 năm 1946 [13] ).

Nam Sa quần đảo còn có các tên: Vạn Lý Thạch Đường萬 里 石 塘, Vạn Lý Trường Sa萬 里 長 沙, Thiên Lý Thạch Đường千 里石 塘 [14] , khoảng trước năm 1949 có tên là Đoàn Sa quần đảo, Đê-áp-pha, Đê-sa-thiển-châu, Tân Nam quần đảo (tên trong bản đồ Nhật Bản trước Thế Chiến II), các đảo dự chủ yếu trong quần đảo cũng đều mang Tây danh, được hài âm hoặc chuyển nghĩa sang Hán tự như: Song đảo, Lao-đạt đảo, Đê-sa-thiển châu, Đế đô đảo, Tư-ba-đắc-lai đảo, An-cụ-na đảo. Sau năm 1949, tên các đảo lục tục đổi thành Hán danh như: Thái Bình, Trung Nghiệp (tên các tàu hải quân [15] ), Mã Hoan, Phí Tín, Trịnh Hòa (tên các nhân vật lịch sử). Cho đến năm 1968, điểm cực Nam Tăng Mẫu Âm Sa vẫn chưa được “các nhà quy hoạch” Nam Hải chư đảo xác định. Trung Hoa Dân Quốc từng tuyên bố quyền sở hữu đối với Nam Sa quần đảo [16] . Theo công bố của Chính phủ Trung Quốc, từ năm 1988, Trung Sa, Tây Sa và Nam Sa quần đảo thuộc sự quản lý hành chính của tỉnh Hải Nam.

Từ việc tìm hiểu đối chiếu các đảo danh trong thư tịch hiện đại, chương 1 này đặt trọng tâm vào ý đồ mở rộng lãnh hải của “các nhà quy hoạch Nam Hải” thông qua cách gọi tên các đảo:
  1. Tên gọi các đảo được đặt định theo phương vị (nam, bắc, trung, đông, tây), nhưng phương vị thực tế của các đảo không phù hợp với tên gọi.
  2. Tên gọi các đảo trong quần thể Nam Hải chư đảo phần lớn được người phương Tây phát hiện và đặt tên trước, tuy vậy, các “nhà quy hoạch Nam Hải” vẫn tìm mọi cách Hán hóa những đảo danh này, kể cả xóa dần những dấu vết Tây danh của các đảo mà thư tịch Trung Quốc cận hiện đại từng ghi nhận.
  3. Liên tục thay đổi tên đảo mang ý đồ mở rộng giới hạn lãnh hải bằng hình thức dùng những đảo danh đã có tính định vị giới hạn (như Nam Nham và Nam Sa cũ) để đặt tên cho các đảo ngoài lãnh hải Trung Hoa nhưng trong ý định sáp nhập của các nhà “quy hoạch Nam Hải”.
(Còn tiếp)

© 2008 talawas


[1]“Tây Sa quần đảo. Tại Quảng Đông Lục Thủy huyện Dụ Lâm cảng Đông Nam, cựu xưng Thất Châu Dương. Tây nhân danh Bạt-Lạp-Tắc