Yahoo! 360° News | Beta Feedback
Start your own Yahoo! 360° page

www.blacky2016.tk

Top Page  |  Blog  |  Friends

Add

www.blacky2016.tk is not connected to you in Yahoo! 360°.

Last updated Sun Aug 17, 2008 Member since December 2007

Total Page Views

361,094

tình hình coi bộ căng lắm , từng người tình bỏ ta đi vì bị yahoo làm thịt, ko biết black sẽ ra đi lúc nào , nói lời chia tay mọi người trước vậy

1 - 5 of 251 First | < Prev | Next > | Last

Blacky_(Blog mới)'s Blog Full Post View | List View

tout doit se passer

Thư giãn cuối tuần ^^
Thư giãn cuối tuần ^^ magnify
Tinh Lam Lo - Ngoc Lan

New

Vietnamese History Shelf

    • Việt Nam Sử Lược
      Do học giả Trần Trọng Kim soạn thảo vào năm 1919. Trung tâm học liệu in lần thứ nhất vào năm 1971, nhóm Sách Việt chuyển sang ấn bản điện tử vào năm 1994.


    • Việt Sử Toàn Thư
      Do sử gia Phạm Văn Sơn soạn thảo vào năm 1960, hội chuyên gia Việt Nam chuyển sang ấn bản điện tử vào năm 1996.

    • Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu
      Do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn soạn thảo vào khoảng đầu thế kỷ 20. Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1972. Nhóm bạn Lê Bắc, Doãn Vượng, Công Đệ chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.


    • Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục

      Do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn soạn thảo khoảng năm 1856-1881. Viện Sử học dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1960. Nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thủy, Tuyết Mai, Thanh Quyên chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.

    • Việt Sử Tiêu Án
      Do Ngô Thời Sỹ soạn thảo vào năm 1775. Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1960. Nhóm bạn Lê Bắc, Doãn Vượng, Công Đệ chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.

    • Đại Việt Thông Sử
      Do Lê Quý Đôn soạn thảo vào năm 1759. Lê Mạnh Liêu dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1973. Nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.

    • Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
      Do nhiều sử gia nhà Trần và nhà Lê soạn thảo ra. Năm 1993, nhà XBKHXH ấn hành bản chữ Quốc Ngữ, dịch từ bản in năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thủy, Tuyết Mai, Hồng Ty và Nguyễn Quang Trung chuyển sang ấn bản điện tử năm 1999.

    • Lam Sơn Thực Lục
      Do Nguyễn Trãi soạn thảo, Lê Lợi đề tựa vào thế kỷ 15. Mạc Bảo Thần dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1944. Nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ, Tuyết Mai và Doãn Vượng chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.

    • Thiền Uyển Tập Anh
      Soạn thảo vào đời nhà Trần, khoảng thế kỷ 14. Sách viết về các thiền sư đời Lý, Trần, v.v... tuy nhiên lại cho biết rất nhiều dữ kiện lịch sử vào các thời kỳ đó. Lê Mạnh Thát dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1976. Lê Bắc chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.
      (Xin cảm ơn bạn Hoàng Nhật đã cung cấp bản chữ Hán của
      Thiền Uyển Tập Anh)

    • An Nam Chí Lược
      Do Lê Tắc soạn thảo vào khoảng thế kỷ 14, Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam thuộc Viện Đại Học Huế dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1960. Nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ và Doãn Vượng chuyển sang ấn bản điện tử năm 2000.

    • Đại Việt Sử Lược
      Do một tác giả khuyết danh soạn thảo vào khoảng thế kỷ 14. Nguyễn Gia Tường dịch sang chữ Quốc Ngữ vào năm 1972. Nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001.

    • Sử liệu về thời Tây Sơn:
      -
      Bão Kiến hay Bão Tất (PDF, 65 trang, 1662 Kbytes)
      -
      Nguyên nhân Thanh Triều động binh (PDF, 57 trang, 1389 Kbytes)
      -
      Quân Thanh tiến vào Thăng Long (PDF, 80 trang, 920 KBytes)
      -
      An Nam Chiến Đồ (PDF, 59 trang, 7386 KBytes)
      Viện Việt Học xin trân trọng giới thiệu bốn tập tài liệu về thời Tây Sơn của Tiến sĩ Nguyễn Duy Chính.

Vietnamese Literature Shelf

    • Liệt Kê Các Chùa Chiền và Nơi Thờ Cúng tại Huế (PDF document, 275308 bytes)
      Bảng liệt kê do TS. A. Sallet và Nguyễn Ðình Hoè thiết lập, đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Huế, các số 1, 3 & 4 năm 1914, viết bằng Pháp ngữ có chua thêm chữ Hán Nôm. Trước đây Viện Việt Học có đưa lên trang nhà của viện phần đầu gồm 63 nơi thờ cúng đăng trong số 1 của tạp chí. Phần này ghi trọn bảng liệt kê với 140 nơi thờ cúng, bản Quốc Ngữ của g.s. Lê Văn Ðặng. Ngoài ra vài phụ chú cũng được điều chỉnh lại cho rõ hơn.

    • Đào Hoa Thi (PDF document, 98162 bytes)
      Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi có 254 bài thơ chữ Nôm. Đây là sáu bài thơ hoa đào (227-232) theo lối thủ vỹ liên hoàn cách. Giáo sư Lê Văn Đặng chuyển từ bản gỗ Phúc Khê qua bản điện tử Việt Học và thêm phiên âm Quốc Ngữ.

    • Tỳ Bà Hành
      (PDF document, 385877 bytes)
      (MSWords document, 38912 bytes)
      Thể theo lời yêu cầu từ Diễn Ðàn Việt Học, chúng tôi đã đem vào Việt Học Thư Quán bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị. Nguyên tác gồm 88 câu 7 chữ hay 616 chữ. Phan Huy Vịnh dịch Nôm theo thể song thất lục bát (7-7-6-8), giữ nguyên số lượng chữ, thành 22 đoạn (7-7-6-8). Âm điệu Việt Nam phong phú hơn Tàu nên bản Nôm của Phan Huy Vịnh có phần trội hơn nguyên bản chữ Hán của Bạch Cư Dị. Bởi không tìm ra bản Nôm của Phan Huy Vịnh, chúng tôi bỏ ngỏ mấy chỗ sai biệt trong bản phiên Quốc ngữ trong khi so sánh với các bản của Dương Quảng Hàm (Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển, tr. 255-257) và Trần Trọng San (Ðường Thi, q. 2) mong có dịp bổ chính. Sau cùng, xin cám ơn giáo sư Trần Huy Bích đã đọc bản thảo và gởi cho nhiều đề nghị đáng trân trọng. - Lê Văn Ðặng -

    • Chuyện Cô Cầm
      (PDF document, 282590 bytes)
      (MSWords document, 61440 bytes)
      Theo lời yêu cầu từ Diễn Ðàn Việt Học, chúng tôi đưa vào Việt Học Thư Quán bài thơ chữ Hán 琴者引 của Nguyễn Du, và bản dịch Quốc ngữ “Chuyện Cô Cầm” của Học Canh, theo thể song thất lục bát (7-7-6-8), chép lại theo sách Hán Văn Tinh Tuý của Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc, Nam Chi Tùng Thư, Saigon 1965. - Lê Văn Ðặng -


    • Khi Phương Tây Ái Mộ Phương Đông (PDF document, 441619 bytes)

      古來聖賢皆寂寞 Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
      惟有飲者留其名 Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
      Nói về thơ Ðường, không thể thiếu nhà thơ Lý Bạch 李白. Nhắc đến Lý Bạch không thể quên bài Tương Tiến Tửu 將進酒.
      Giáo sư Ðàm Trung Pháp dẫn bài thơ rượu trên đây và một số thơ khác của họ Lý qua trung gian của các học giả Tây Phương. Thử đọc mấy câu dí dỏm sau đây:
      Eheu ! How dangerous, how high !
      It would be easier to climb to Heaven
      Than walk the Sichuan Road !

      噫吁戲危乎高哉 Y hu hy, nguy hồ, cao tai,
      蜀道之難難於上青天 Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên !
      Xin mời quý bạn đọc bài “KHI PHƯƠNG TÂY ÁI MỘ PHƯƠNG ÐÔNG” của giáo sư Ðàm Trung Pháp. - Lê Văn Ðặng -


    • Long Thành Cầm Giả Ca (PDF document, 287939 bytes)
      龍城佳人 姓氏不記清 獨擅阮琴
      Long Thành giai nhơn, Tính thị bất ký thanh, Độc thiện Nguyễn cầm ...
      Trong lời mở đầu, tác giả viết về giai nhơn 佳人: ... Sau gặp nàng ờ nhà anh tôi. Nàng không đẹp, thấp người, má phính, tráng dồ, mặt gãy, khéo trang điểm, vẻ trang nhã. Nàng hay uống rượu, mỗi lần uống đều say, nôm mửa cả ra, nằm dài trên mặt đất.
      Long Thành Cầm Giả Ca 龍城琴者歌 của Nguyễn Du 阮攸 có nhiều dị bản. Chúng tôi có trình bày bản do Lãng Nhân sưu tập. Nay xin thay bản đó bằng bản trích trong Bắc Hành Tạp Lục 北行雜錄 . Bản Quốc ngữ của Học Canh vẫn được giữ lại. - Lê Văn Ðặng -

    • Tam Tự Kinh 三字經(PDF document, 280000 bytes)
      Sách dạy chữ Hán có phiên âm Hán Việt. Bản gốc soạn trước đây dùng "đại tự", nặng nề, gặp trở ngại kỷ thuật khi chuyển ra bản điện tử. Bản "tiểu tự" này được gói trọn trong bốn trang, khi in hai mặt chỉ dùng hai tờ tiện lợi cho việc ôn tập. Vì chữ nhỏ nên có điều bất tiện cho người mắt yếu, xin chư vị cảm phiền. Ngoài ra bản này không có phần Phụ Lục. - Lê Văn Ðặng -

    • CHỮ NÔM và CÔNG VIỆC KHẢO CỨU CỔ VĂN VIỆT NAM (PDF document, 294000 bytes)
      Vào tháng 3 năm 1942, giáo sư Dương Quảng Hàm phổ biến một bài khảo cứu về chữ Nôm trên Bulletin général de l’Instruction publique. Bản Quốc ngữ của giáo sư Lê Văn Ðặng có thêm một số phụ chú.

    • Ðọc HÁN VĂN LƯỢC KHẢO của PHAN THÊ ROANH (PDF document, 557223 bytes)
      Giáo sư Phan Thê Roanh soạn quyển Hán Văn Lược Khảo 漢文略考 trong thời gian phục vụ tại Ðại Học Văn Khoa và Ðại Học Sư Phạm Saigon. Giáo sư Phan Thê Roanh, tuy giảng dạy Khoa học, nhưng được thừa hưởng một kho tàng Hán học vô giá của thân phụ là Cụ Phan Mạnh Danh.
      Chúng tôi chân thành cảm tạ Lão sư Nguyễn Khắc Kham (1908- ), bạn cố giao của tác giả, đã đọc bản thảo bài viết này, sửa lỗi và thêm nhiều chỉ dẫn trân quý. Kính mời quý vị vào Việt Học Thư Quán đọc bài giới thiệu quyển sách hiếm quý này. - Lê Văn Ðặng -

    • Ðiếu văn của Giáo sư Nguyễn Khắc Kham đọc trước phút hạ huyệt linh sàng Giáo sư Nguyễn Ðình Hoà tại Los Gatos chiều ngày 17 tháng 12 năm 2000 (PDF document, 61000 bytes)
      Tuổi già hạt lệ như sương,
      Lão đương ích tráng!
      Ðò âm dương rồi ai cũng phải qua.
      Những ngày lành lạnh của tháng 10 năm nay nhắc lại hai năm về trước.
      Giáo sư Nguyễn Ðình-Hoà vào bệnh viện, quên đường về nhà:
      “Cực Lạc cõi ấy Anh về, nhàn nhã phán liên hoa, để bè bạn chơi vơi miền gió cát ...”.
      Tiện đây xin chép vào Việt Học Thư Quán, Ðiếu văn của Lão Sư Nguyễn Khắc Kham khóc bạn hai năm trước.- Lê Văn Ðặng -

    • Mục Sư Tâm Khúc, (PDF document, 712000 bytes), sách La Symphonie Pastorale của André Gide trong tập “Ký ức của Lê Văn Ðặng” .

    • Lời tựa Lam Sơn Thực Lục, (PDF document, 384234 bytes)
      Bản chữ Hán với phần phiên âm và diễn nghĩa bằng Quốc Ngữ do giáo sư Lê Văn Đặng chuyển dịch.


    • Tuồng Tam Quốc, dịch từ Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ 19. Tuồng gồm 120 hồi, viết bằng chữ Nôm. Bản Quốc Ngữ do giáo sư Nguyễn Văn Sâm sưu tầm và phiên âm.



    • Tỳ Bà Hành ( 琵琶行) - Bản mới, (PDF document, 457000 bytes)
      Trước đây Viện Việt-Học có phổ biến bài Tỳ Bà Hành ( 琵琶行) của Bạch Cư Dị (白居易), với lời Tựa do Nguyễn Hữu Vinh dịch. Quý khách nào có chép và lưu trữ bài hành này xin cảm phiền chép lại bản mới.
      Ngoài ra chúng tôi thỉnh cầu quý vị nào phổ biến tài liệu lấy từ trang Web Việt-Học nên tôn trọng tác quyền, thông thường phải được sự ưng thuận của Viện Việt-Học.


    • Chuyện Tình Thứ Nhất, Dung Xưa
      Phạm Duy có đề tên một bản nhạc “Em hiền như ma sœur” và Phạm văn Hải, khiêm tốn hơn, viết: “Em hiền như hoa cỏ” . Tuy không là nhà thơ chuyên nghiệp, Phạm Văn Hải hằng năm vào dịp giổ người vợ xinh xinh bé nhỏ, thanh thanh, hiền như hoa cỏ, đều có làm một bài Thơ Tình. Chúng tôi có dịp đọc bài Thơ Tình Thứ Nhứt, Dung Xưa, làm 15 năm trước đây...


    • Những điều trông thấy mà đau đớn lòng, (PDF document, 236599 bytes)
      Sở kiến hành 所見行 là một trong 132 bài trong tập thơ chữ Hán Bắc hành tạp lục 北行雜錄 của Nguyễn Du 阮攸 (1765-1820) làm trong thời kỳ đi sứ sang Trung Quốc, tức từ mùa Xuân năm Quí Dậu (1813) đến mùa Xuân năm Giáp Tuất (1814).
      Trước đây Viện Việt Học có trình làng nơi
      Trang Thân Hữu bài Sở kiến hành 所見行 do Ðặng Thế Kiệt phiên dịch. Mới đây dịch giả có hiệu đính bản Quốc ngữ, thêm vài ghi chú và bản dịch Pháp ngữ.



    • Thán Ðại Tuyết 嘆 大 雪 < Hạt Cát 曷吉 >, (PDF document, 254000 bytes)
      風 切 切 Phong thiết thiết
      寒 冽 冽 Hàn liệt liệt
      車 落 烈 Xa lạc liệt
      鳥 飛 絕 Ðiểu phi tuyệt
      遠 近 東 西 白 雪 Viễn cận Ðông Tây bạch tuyết.
      Mùa Ðông năm nay, một số tiểu bang ở miền Ðông Hoa Kỳ bị một trận bảo tuyết lớn trong nhiều ngày. Nhân được “nghỉ tuyết”, Hạt Cát có viết mấy lời than oán bằng chữ Hán, có thêm phần phiên Hán Việt và tự dịch ra quốc ngữ. - Lê Văn Ðặng



    • Trầm bổng chuông ngân, (PDF document, 706847 bytes)
      聽 雨 ( 阮廌 )
      寂 寞 幽 齋 裡
      終 宵 聽 雨 聲
      蕭 騷 驚 客 枕
      點 滴 數 殘 更
      隔 竹 敲 窗 密
      和 鐘 入 夢 清
      吟 餘 渾 不 寐
      斷 續 到 天 明
      Thính Vũ (Nguyễn Trãi)

      Tịch mịch u trai lý,
      Chung tiêu thính vũ thanh.
      Tiêu tao kinh khách chẩm!
      Điểm trích sổ tàn canh.
      Cách trúc xao song mật,
      Hoà chung nhập mộng thanh.
      Ngâm dư hồn bất mị,
      Đoạn tục đáo thiên minh.
      Nghe Mưa Hạt Cát dịch

      Mơ màng phòng trai vắng lặng,
      Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi
      Giật mình xác xao gối khách
      Ðếm canh từng giọt chơi vơi
      Khóm trúc xạc xào song cửa
      Chuông ngân mộng mị bồi hồi
      Ngâm vịnh chán còn chưa ngủ
      Nối, ngưng cho đến sáng trời

      Tiếng chuông ngân còn chưa dứt hẵn ... Kính mời quý thân hữu đọc trọn bài Trầm bổng chuông ngân của Hạt Cát.
      Lê Văn Ðặng



    • Chinh Phụ Ngâm Khúc 征 婦 吟 曲, (PDF document, 623000 bytes)
      Trong Dự án Chinh Phụ Ngâm, chúng tôi khảo lục
      • Nguyên tác chữ Hán của Ðặng Trần Côn,
      • bản Diễn Âm của Ðoàn Thị Ðiểm, các bản dịch ra
        • chữ Nhật (Takeuchi),
        • chữ Anh (Huỳnh Sanh Thông),
        • chữ Pháp (Huỳnh Khắc Dụng).
      Các bản chữ Nhật và chữ Anh đã được chuyển nhập xong, sau bản chữ Hán và phiên âm chữ Việt. Riêng bản chữ Pháp, chúng tôi chỉ có một bản do cơ sở Ðông Tiến phát hành vào tháng 7 năm 1988. Bản này lại có mấy chỗ tồn nghi nên chúng tôi chưa vội phổ biến. Chúng tôi đã làm thủ tục xin phép dịch giả (bản chữ Anh) hoặc người thừa hưởng tác quyền (bản chữ Nhật) nhưng chưa được hồi đáp.
      Hiện thời, bản chữ Hán đã hoàn tất. Kính mời quý vị vào đọc Chinh Phụ Ngâm Khúc của Ðặng Trần Côn. Chúng tôi phổ biến Dự án Chinh Phụ Ngâm với sự dè dặt thường lệ, dám mong quý vị chỉ cho chỗ sai sót. Ða tạ.
      Thân kính,
      Viện Việt-Học


    • Nguyễn Trãi 阮廌và Gia Huấn Ca 家訓歌, (PDF document, 181000 bytes)
      Đến những năm cuối thế kỷ XIX, Gia Huấn Ca 家訓歌 đã gắn liền với tên Nguyễn Trãi 阮廌 trong một số thư tịch. Nhưng đến những năm ba mươi của thế kỷ XX lại có dư luận cho Gia Huấn Ca chưa chắc là của Nguyễn Trãi. Từ đó học giới phân vân. Cho đến năm 1956 khi Quốc Âm Thi Tập 國音詩集 được chính thức phát hiện, mới có người tìm cách khẳng định Gia Huấn Ca không phải là của Nguyễn Trãi. Tuy nhiên vấn đề chưa phải đã giải quyết. Hai mươi năm sau đó, khi nói về tác phẩm của Nguyễn Trãi, nhiều người vẫn không quên nhắc đến Gia Huấn Ca và có sách còn ghi Gia Huấn Ca là tác phẩm chính của Nguyễn Trãi nữa ".
      Nhận thấy vấn đề chưa được khảo chứng thật rõ ràng và đầy đủ, nên giáo sư Đoàn Khoách đã vận dụng một số nội chứng và bàng chứng để góp phần khẳng định tác phẩm Gia Huấn Ca không phải là của Nguyễn Trãi.
      Kính mời quý vị đọc bài Nguyễn Trãi và Gia Huấn Ca của giáo sư Đoàn Khoách, khởi thảo từ năm 1980 và được bổ chính mới đây.

      Lê Văn Ðặng
      Seattle, III-2003


    • Tuồng Lý Thiên Long (PDF document, 254000 bytes)
      của Cao Hữu Dực, giáo sư Nguyễn Khắc Kham nhuận chính, giáo sư Nguyễn văn Sâm hiệu đính và giới thiệu
      Năm 1912 ông chánh tổng Lê Quang Chiểu đem tuồng hát bội Lý Thiên Long in ra bằng chữ quốc ngữ. Trước đó ở dạng chữ Nôm chép tay sự phổ biến tuồng này cũng như các tác phẩm chép tay khác chắc chắn thật là giới hạn, chẳng thế mà ông mới nói bằng một cụm từ rất đau lòng: nay tôi đặng bổn sót .... Bổn sót là một tập văn hiếm, có thể rách nát nhiều trang nhiều chữ.... Từ năm đó, 1912, tuồng Lý Thiên Long mới được phổ biến rộng rãi đến số đông người ham chuộng văn chương và tuồng hát. (trích trong lời Tựa và giới thiệu)

    • Chinh Phụ Ngâm Khúc 征 婦 吟 曲 - The Song of a Soldier's Wife (PDF document, 538000 bytes)
      bản chữ Anh của Giáo sư Huỳnh Sanh Thông, khảo lục cho Dự án Chinh Phụ Ngâm.

    • Chinh Phụ Ngâm Khúc (bản dịch tiếng Nhựt) (PDF document, 538000 bytes)
      Viện Việt-Học hân hạnh giới thiệu bản dịch tiếng Nhựt của cố Giáo sư Y. Takeuchi. Bản điện tử do Nguyễn Đức Kính chuyển nhập và soạn thêm phần phiên âm. Giáo Sư Nguyễn Khắc Kham cùng Phu Nhân tổng duyệt. Hồi còn giảng dạy bên Nhựt, Giáo sư Nguyễn Khắc Kham đã từng cộng tác với cố Giáo sư Y. Takeuchi.

      Thay mặt tiểu ban soạn thảo Dự Án Chinh Phụ Ngâm,
      Lê Văn Ðặng
      levandang2003@aol.com
      Seattle, tháng 5 năm 2003.


    • Nguyễn Ngọc Bích và Thơ Hồ Xuân Hương (PDF document, 453000 bytes)
      Hơn 10 năm trước đây, Seattle Public Libraries có tổ chức Một Ngày Cho Thi Ca. Tuy ít có dịp để ý về Thi Ca nhưng chúng tôi cũng tham dự ngày đó. Sau khi dạo gần xong các tập thơ được trình bày, tình cờ bắt gặp một tập mong mỏng, với tên tác giả là Nguyễn Ngọc Bích, tựa đề A Thousand Years of Vietnamese Poetry, New York 1975. Thú thật chúng tôi để ý đến sách này vì tác giả trùng tên với một người anh họ. Mượn về đọc thấy lời dịch lưu loát nhẹ nhàng, so với tập Ca Dao Vietnam: A Bilingual Anthology of Vietnamese Folk Poetry, John Balaban, Unicorn Press 1974, có phần trội hơn. Từ đó, hỏi han các bạn bè mới biết đó là một người yêu Văn Học nước nhà và đã bỏ công ra giới thiệu với thế giới qua các bản dịch bằng tiếng Anh.

      Sau này, nhân dịp xuống Quận Cam, dự lễ Khai mạc Viện Việt Học, cố Giáo sư Viện Trưởng Nguyễn Ðình-Hoà có đưa đến dự lễ ra mắt sách “Nguyễn Ngọc Bích hiệu-đính Hồ Xuân Hương, Tác Phẩm”. Trên đường đi, Giáo sư Hoà có dặn: “Khi tới nơi anh nhớ mua ngay một tập, đừng để trễ, sợ e không còn.” Lại còn dặn thêm: “Anh Bích đã soạn Thư Tịch Hồ Xuân Hương rất phong phú. Trong sách Tam Thiên Tự của chúng mình, anh nên thêm sách này vào phần Tài Liệu Tham Khảo.”

      Mấy dòng trên đây nhắc lại cơ duyên chúng tôi biết được Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Mới đây Giáo sư Bích có cho đăng trên tạp chí Văn Học một bài bút khảo về thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Tác giả có nhã ý cho phép Viện Việt Học phổ biến bài bút khảo sau khi duyệt lại và yêu cầu chúng tôi giúp bổ túc bằng cách chua một số chữ Hán-Nôm." Với 20 trang Thư Tịch Hồ Xuân Hương, soạn cho tác phẩm Hồ Xuân Hương, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích tỏ ra có thẩm quyền bàn luận về các bài Thơ Nôm của Nữ sĩ họ Hồ.

      Kính mời quý thân hữu đọc bài Hồ Xuân Hương: Những Văn Bản Thơ Nôm được công bố từ năm 1968 của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích.

      Xin chân thành cảm ơn tác giả.
      Seattle, tháng 6 năm 2003
      Lê Văn Ðặng.

    • Trao đổi với Lê Hữu Mục về một số nhận định của ông qua Tiếng nói Đoàn thị Điểm trong Chinh-phụ ngâm khúc. (PDF document, 546000 bytes)
      Giáo sư Hoàng Xuân Hãn không đọc được quyển “Tiếng nói ÐOÀN THỊ ÐIỂM trong CHINH PHỤ NGÂM KHÚC’, của giáo sư Lê Hữu Mục hợp soạn với giáo sư Phạm Thị Nhung, Montréal 2001. Hôm nay Viện Việt-Học hân hạnh giới thiệu bạn Lê Sơn Thanh, một môn đệ của thầy Hoàng Xuân Hãn, trả lời một vài điểm nêu ra trong sách nói trên. Sau đây là một đoạn trích trong bài viết của LST:
      "Sau khi đọc các chương của Lê Hữu Mục, tôi có cảm giác như bị choáng ngợp và sau đó là một cảm giác là lạ vì âm hưởng của nó vừa quen thuộc mà lại vừa xa lạ. Quen thuộc vì tôi đã từng thấy cách hành văn và lập luận ấy ở vài công trình trước đây của ông, và xa lạ bởi tính triệt để trong việc huy động hai lĩnh vực bình dân và bác học mà động cơ duy nhất là để tố cáo một sự bất công: Hoàng Xuân Hãn cách đây 50 năm đã tước phụ quyền bản dịch lưu truyền từ tay Đoàn Thị Điểm 段 氏 點 (1705-1748) để trao về cho Phan Huy Ích 潘 輝 益 (1750-1822) trong khi không có chứng cứ vững chắc. Việc tố cáo ấy đồng thời cũng là một nghĩa cử: tiếp tục khẳng định Đoàn Thị Điểm là tác giả của bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành, tức làm sống dậy một truyền thống dân gian tốt đẹp đã bị vùi dập."

      Seattle, 03-VII-2003
      Lê Văn Ðặng

    • Chinh-phụ ngâm en français (RTF Document, 666384 bytes)
      Dans son rapport de présentation concernant la traduction française de M. Huỳnh Khắc Dụng, parue dans le Bulletin de la Société des Études Indochinoises, M. Lê Ngọc Trụ a écrit en 1955:
      “La femme de lettres Ðoàn Thị Ðiểm, toute remplie d’admiration pour le chef-d’œuvre de Ðặng Trần Côn, se mit à traduire le Chinh-phụ ngâm en langue vietnamienne. D’après M. Hoàng Xuân Hãn, il y a en tout quatre traductions différentes dont une seule, de loin supérieure aux autres, a connu un éclatant succès qui se maintient jusqu’à nos jours. La tradition veut qu’il soit l’œuvre de Ðoàn Thị Ðiểm. M. Hoàng Xuân Hãn en attribue la paternité à Phan Huy Ích (1749-1822). La controverse n’est toujours pas transchée.
      “Ce qui est certain, c’est que cette version en langue vietnamienne, qui comprend 412 vers disposés selon une métrique essentiellement vietnamienne (alternance de vers de 7-7, 6-8 pieds), jouit auprès du public d’une plus grande faveur que le texte original en caractères chinois.
      “Récemment M. Maurice Durand, dans le bulletin de la société (2e trimestre 1953) a le mérite de nous faire goûter une version du Chinh-phụ ngâm, faite à partir du texte original en chinois et non à travers la version vietnamienne de Ðoàn Thị Ðiểm. La traduction suit de près le texte en caractères. M. Huỳnh Khắc Dụng se propose, à son tour, de présenter une œuvre littéraire, en essayant de traduire en une prose poétique, dotée de notes explicatives plus claires. La version de M. Huỳnh Khắc Dụng complète celle de M. Maurice Durand.”


      L’Institut des Études Vietnamiennes invite cordialement ses amis à visiter la Bibliothèque de Việt-Học et lire une traduction française du Chinh-phụ ngâm. Les notes explicatives de M. Huỳnh Khắc Dụng ne sont pas reproduites dans cette version electronique.

      Lê Văn Ðặng


    • Chinh Phụ Ngâm qua bản dịch của Bác sĩ Nguyễn Huy Hùng (PDF Document, 163175 bytes)
      Chúng ta đã biết nhiều về bản diễn Nôm Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm.
      Nay Viện Việt Học xin trân trọng giới thiệu một bản dịch độc đáo của Bác sĩ Nguyễn Huy Hùng.


    • Lời Nguyện Tâm Quyết của Ngài Quảng Ðức (PDF Document, 602775 bytes)
      Viện Việt-Học trân trọng mời quý thân hữu vào Việt-Học Thư Quán đọc lời nguyện cuối cùng của Bồ Tát Thích Quảng Ðức, vị Pháp thiêu thân trong Pháp nạn năm 1963. Bản Nôm, thủ bút của Ngài Quảng Ðức, do bạn Nguyễn Hữu Vinh cung cấp, phần phiên âm phối hợp hai bản của Ba Huyền và Hải Biên. Ðọc bản Nôm theo cột từ bên phải qua và từ trên xuống.

      Lê Văn Ðặng


    • Tự Ðức Thánh Chế Tự Học Giải Nghĩa Ca (PDF Document, 4211139 bytes)

      Viện Việt-Học hân hạnh giới thiệu cùng chư thân hữu bài bút khảo của Gs. Ðoàn Khoách: Chữ Nôm trong một tác phẩm của vua Tự Ðức.

      Ðã ngoại thất tuần, Gs. Ðoàn Khoách vẫn còn ưu tư về Văn Học Việt Nam. Từng giảng dạy Chữ Hán, Chữ Nôm tại Viện Ðại Học Huế trước năm 1975, giáo sư viết lại bài này tặng các bạn trẻ, yêu Nôm, nhưng không có dịp thụ huấn.
      Trước khi giới thiệu sách của vua Tự Ðức, giáo sư viết:

      ... Từ Nôm có nhiều nghĩa. Nghĩa thông thường của người dân quê vùng Thừa Thiên - Quảng Trị thì Nôm có nghĩa là cỡi (cưỡi), như nói nôm trâu là cỡi trâu; một vài nơi nôm còn có nghĩa là cày, như bác dân quê miền Trí Bưu, Long Hưng ở Quảng Trị hay nói “Mơi eng rảnh nôm cho một bựa” (ngày mai anh rảnh nhờ anh cày cho một bửa). Một cách khác nhìn trong từ tổ “nhìn con nôm” có nghĩa là nhận con chửa hoang làm con mình; đi cưới một cô gái chửa hoang về làm vợ cũng gọi là “nôm”. Tuy nhiên tất cả nghĩa của từ nôm trên đây đều không phải là nghĩa của từ Nôm mà chúng ta muốn tìm hiểu.

      Lê Văn Ðặng


    • Văn như Siêu Quát ... (PDF Document, 1276129 bytes)
      Viện Việt Học trân trọng giới thiệu một bài viết của giáo sư Đoàn Khoách về những giai thoại của Cao Bá Quát.


    • Chữ Nôm và Tinh Thần Dân Tộc (PDF Document, 1133847 bytes)
      Viện Việt Học trân trọng giới thiệu một bài viết của tiến sĩ Nguyễn Hữu Vinh gởi qua từ Taiwan.


Trích từ Viện Việt Học : http://www.viethoc.org

Tags: 1_sach_lichsuvn
Sunday August 17, 2008 - 07:24am (ICT) Permanent Link | 5 Comments
THƯ NGỎ GỬI NHÂN DÂN TRUNG QUỐC

THƯ NGỎ GỬI NHÂN DÂN TRUNG QUỐC

Việt Nam, ngày 30 tháng 07 năm 2008

Về việc: chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

Các bạn Trung Quốc thân mến,

Hai dân tộc chúng ta đã có mối tương giao láng giềng, có nhiều điểm tương đồng về văn hóa từ hàng ngàn năm nay. Tuy có những lúc mạnh yếu khác nhau, song hai dân tộc chúng ta vẫn là những dân tộc luôn ở bên nhau và đã phải chịu những đắng cay tương tự và luôn cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau. Đất nước các bạn là một đất nước rộng lớn, có nền văn hóa lâu đời. Dân tộc chúng tôi cũng luôn tự hào vì có một quốc gia láng giềng vĩ đại như thế. Chúng tôi luôn ý thức tình hữu nghị, sự tôn trọng giữa hai dân tộc chúng ta là một tài sản quí giá cho tương lai của hai dân tộc. Tuy nhiên, kể từ năm 1949 đến nay, đất nước chúng tôi đã bị chính quyền của các bạn xâm phạm nhiều lần và hiện nhiều lãnh địa, lãnh hải, đảo đang bị chính quyền các bạn chiếm giữ (cụ thể là toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và nhiều đảo thuộc quần đảo Trường Sa và nhiều phần trên đất liền, và biển). Hơn nữa chính quyền hiện nay của các bạn đã tạo tác nhiều thông tin làm hiểu lầm, nhiễu loạn và sai sự thật về lãnh thổ của đất nước Việt Nam chúng tôi. Đặc biệt gần đây, ngày 02 tháng 12 năm 2007 Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa (Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa) ký quyết định thành lập thành phố cấp huyện Tam sa, trong đó bao gồm cả hai quần đảo máu thịt của Tổ Quốc Việt Nam chúng tôi là Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 22 tháng 07 năm 2008 vừa qua, nhân sự kiện đất nước chúng tôi đang triển khai dự án hợp tác dầu khí với một công ty của Hoa Kỳ tại khu vực quần đảo Trường Sa, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lưu Kiến Siêu của chính quyền các bạn lại tuyên bố: "Lập trường của Trung Quốc về vấn đề Nam Hải rất rõ ràng và kiên định. Chúng tôi đã nói rõ quan điểm của chúng tôi cho các bên liên quan trong vụ này." "Trung Quốc phản đối bất kỳ hoạt động nào vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc tại Nam Hải." Biển Nam Hải ông Lưu Kiến Siêu nói ở đây chính là vùng biển của chúng tôi ở quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Những cứ liệu lịch sử quốc tế khả tín và lịch sử của dân tộc chúng tôi đã chứng tỏ rõ ràng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (chính quyền hiện nay của các bạn gọi là Tây Sa và Nam Sa) hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam chúng tôi. Chính Nhà nước Việt Nam hiện nay cũng đã nhiều lần lên tiếng khẳng định điều này. Ngay các sử liệu sử trước năm 1949 của đất nước các bạn cũng khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, ví dụ:

- Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán năm 1696 đã khẳng định chúa Nguyễn của Việt Nam đã quản lý quần đảo Trường Sa.

- Hải Quốc Đồ Chí của Ngụy Nguyên năm 1842 đã vẽ sơ đồ nước Việt Nam bao gồm hai nhóm quần đảo thuộc vị trí Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay.

- Tất cả các bản đồ cổ của Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ trước năm 1909 đều ghi nhận đảo Hải Nam là cực nam của đất nước Trung Quốc, không có bản đồ nào thể hiện hai quần đảo mà chính quyền của các bạn hiện nay gọi là Tây Sa, Nam Sa.

- Tháng 11 năm 1943, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ, Anh, Trung (Tổng thống Roosevelt, Thủ tướng Churchill, Tổng thống Tưởng Giới Thạch) họp tại Cairo có bàn về các lãnh thổ mà Nhật chiếm của Trung Quốc có ra Tuyên bố, trong đó có đoạn viết: “Các vùng lãnh thổ mà Nhật chiếm của Trung Quốc phải trả lại cho Trung Quốc gồm Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ”. Như vậy Tổng thống Trung Hoa Tưởng Giới Thạch cũng thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải là lãnh thổ của Trung Quốc.

- Hội nghị Postdam vào tháng 08 năm 1945 với sự tham gia của 04 nước Mỹ, Anh, Trung, Liên Xô có ra Tuyên ngôn, trong đó đã khẳng định:“ Các điều khoản của bản Tuyên bố Cairo sẽ được thi hành”. Như thế cả 04 cường quốc trong đó có Trung Quốc đều thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải là lãnh thổ của Trung Quốc.

Vậy chúng tôi cho rằng:

- Tình hữu nghị giữa hai dân tộc Trung Quốc và Việt Nam chúng ta cần phải được nhân dân hai nước nỗ lực bảo vệ và tôn tạo, bất chấp những hành vi thiếu thiện chí, xúc phạm, gây hấn của nhà cầm quyền.

- Một chính quyền hiếu chiến hay có tư tưởng bá quyền không chỉ đe dọa đến hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới, mà còn là tai họa tiềm ẩn cho dân chúng trong nước.

- Sự phát triển của nhiều quốc gia trong khu vực chúng ta đang sống đã cho thấy thịnh vượng của quốc gia và hạnh phúc của nhân dân không phụ thuộc vào tầm mức rộng lớn của lãnh địa hay lãnh hải, không phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên.

- Một chính quyền bất tín với các quốc gia láng giềng cũng sẽ không thể là một chính quyền trung thực với dân chúng trong nước.

Chúng tôi kịch liệt phản đối:

- Mọi hành vi xâm lấn lãnh thổ, xúc phạm danh dự, thân thể người dân Việt Nam trên biển Đông quanh phạm vi hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

- Mọi tuyên bố xâm phạm hay đe dọa chủ quyền vùng lãnh hải, lãnh địa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

- Mọi hành vi sử dụng hay đe dọa sử dụng bạo lực đối với mọi vấn đề mâu thuẫn.

Chúng tôi đề nghị:

- Nhân dân Trung Quốc kêu gọi chính quyền Trung Quốc thực hiện nghiêm túc Hiệp ước thân thiện và hợp tác với ASEAN (TAC) và Qui tắc ứng xử biển Đông (DOC) và mọi cam kết hữu nghị với Việt Nam.

- Nhân dân Trung Quốc kêu gọi chính quyền Trung Quốc giữ nguyên hiện trạng đối với các tranh chấp lãnh thổ hiện nay với Việt Nam và nhanh chóng đưa vấn đề ra các tổ chức phân xử quốc tế để giải quyết.

Xin cảm ơn sự quan tâm, hợp tác của các bạn.

Trân trọng gửi tới các bạn lời chào Thân ái, Đoàn kết.

Kính chúc các bạn Thịnh vượng, Tự do.

Open letter to the people of China

Vietnam, July 30th 2008

Subject : the territorial sovereignty of Vietnam

Dear friends,

Our two nations have had close ties of neighborhood and culture for thousands of years. At times, each nation might have varying degrees of success but we are always close to each other. We have usually suffered the same pains and supported each other. Your country is an immense country with a long and lasting culture. We, Vietnamese, are proud to have such a giant neighbor. We always keep in mind that friendship and mutual respect are a precious legacy for the future of our two countries. Nevertheless, from 1949 until today, our country has been invaded many times by the armed forces of your Government, and presently parts of our land, our sea and our islands are been occupied ( for example, the entire archipelago of Paracel and many islands and reefs in the Spratley archipelago, and other parts of our territory). Furthermore, the Government of People's Republic of China has forged disinformation causing misunderstandings about our territory.

Particularly, on December 2nd 2007, the Government of People's Republic of China has decided to create the Sansha county-level town, including the Paracel and Spratley Islands which are integrated parts of Vietnam. On July 22nd 2008, taking the opportunity that our country is developing a plan to cooperate with an American company to explore gas and oil in the vicinity of Paracel Islands, Mr Liu Jianchao, spokesperson for the Chinese Ministry of Foreign Affairs declared : “The position of China on the South Sea is very clear and definite. We have expressed our view concerning this issue”; “China protests against any activity that violates the sovereignty and the integrity of China on the South Sea”. The South Sea that Mr Liu Jianchao spoke of is our very territorial sea surrounding the Paracel and Spratley Islands.

Reliable international historical data and those of our country has proved clearly that the Paracel and Spratley Islands (your government now names them Xisha and Nansha Islands) belong to Vietnam. Even the present government of Vietnam has several times strongly claimed its sovereignty over these islands. And your own historical data before 1949 recognized the sovereignty over Vietnam over the Islands of Paracel and Spratley. For example :

- The Foreign Report (Hải Ngoại Ký Sự) by Thich Dai San in 1696 acknowledged that the Lord Nguyen of Vietnam reigned over the archipelago of Truong Sa (Spratley Islands)

- The Map of Territorial Sea (Hải Quốc Đồ Chí) by Nguy Nguyen in 1842 has drawn the map of Vietnam including the two archipelagos now identified as Hoang Sa (Paracel Islands) and Truong Sa (Spratley Islands).

- Every ancient map drawn by Chinese historian before 1909 recognized the Hainan Island as the Extreme South of China; there was not a single Chinese map showing the two archipelagos that your present government called Xisha and Nansha.

- On November 1943, the Summit Meeting of the United States, the United Kingdom and China (President Roosevelt, Prime Minister Churchill and President Tchang Kaï Sheik) during the Cairo Conference, has discussed on territories that Japan seized from China and written down the Cairo Declaration in which there was the quoted line : “ All the territories that Japan has taken from the Chinese, comprising of Manchuria (Man Chau), Formosa (Dai Loan), and the Pescadores (Quan Dao Banh Ho), shall be restored to the Republic of China”. This means the President of China Tchang Kaï Sheik implicitly recognized that the two archipelagos Hoang Sa and Truong Sa were not parts of China.

- The Postdam Conference on August 1945 with the participation of four powers, the United States, the United Kingdom, China and the Soviet Union has issued a statement which declared : “The terms of the Cairo Declaration shall be carried out ». Therefore, the four great countries, including China, have recognized the two archipelagos’ Hoang and Truong Sa as not parts of the Chinese territory.

We solemnly declare that :

- The friendship between the two nations of China and Vietnam must be strongly build and secured by the two peoples themselves regardless of malevolent deeds, provoking or hostile actions by governments.

- A belligerent or hegemonic government not only menaces the peace and the stability of the region and the world but also constitutes a potential danger for its own people.

- The development of many countries in the region we are living in has demonstrated that the prosperity of a country and the happiness of its people do neither depend on the immensity of its land or its territory sea, nor on its natural resources.

- A country’s government disloyal with its neighbors could not be honest to its own people.

We strongly condemn :

- Any action aiming at the annexing part of the territory of Vietnam, offensing and endangering Vietnamese nationals on archipelagos Hoang Sa and Truong Sa and their surrounding waters.

- Any declaration violating or threatening the sovereignty of Vietnam on its land and on its sea.

- Any use or threat of use of violence as a mean to settle controversial issues.

We therefore propose :

- The people of China to call on the Chinese government to implement seriously and strictly the Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia (TAC), the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea (DOC) and all friendship agreements with Vietnam.

- The people of China to call on the Chinese government to impose a moratorium on the dispute over the territorial issue with Vietnam and promptly submit the case to competent international authorities to arbitrate.

We appreciate your attention and your cooperation.

With a friendly greeting,

We wish you Prosperity and Liberty.

Mọi chấp thuận ký tên đồng ủng hộ "Thư ngỏ gửi nhân dân Trung Quốc" xin vui lòng gửi về hộp thư: thungoguindtq@gmail.com . Xin trân trọng cảm ơn.

Monday August 11, 2008 - 08:36pm (ICT) Permanent Link | 17 Comments
給中國人民的公開信

給中國人民的公開信

越南,20080730

關於越南領土主權的問題.

親愛的中國朋友們

我們兩個民族比鄰相交, 從千年來在文化上也有許多共同點. 雖強弱時有不同, 而我們兩個民族總是互相幫助, 並且已經忍受類似的痛苦. 你們國家是一個廣闊的天地, 有悠久的文化傳統. 我們越南人也以有一個偉大的鄰國而感到自豪. 關於兩國人民友誼上我們總是有意識, 知已知彼, 互相尊重是我們兩國未來的珍貴財產. 然而, 1949年到現在, 你們政府已多次侵犯我們越南主權, 且當今有許多領地領海被你們政府竊據 (具體是全部黃沙群島還有好幾個小島再長沙群島與邊界上,陸上,海上.) 此外你們現在的政府對我們越南的領土有許多不正當報告及誤解. 特別最近20071202中華人民共和國國務院簽定成立隸屬海南省的行政城市三沙直接管理東海上的三個群島, 其中包括我們越南的長沙和黃沙兩個群島. 最近20080722, 正值我們越南與美國在長沙群島合作開發石油資源, 你們外交部發言人劉建超宣佈中國已就埃克森美孚公司與越南的一項勘探協議表明立場, 中國反對任何侵犯中國在南海主權劉建超提到這個南海就是我們黃砂長沙的領海.

按照一些可信的國際歷史資料與我們國家歷史已證明黃沙和長沙兩群島(你們政府叫西沙南沙) 是屬於我們越南所有. 目前越南政府已多次宣稱確定這問題. 連你們的1949年前的史料也確定黃沙和長沙兩群島是越南的, 例如 :

- 釋大汕《海外紀事-1969年》已確定長沙群島屬於越南阮主管理的區域