Yahoo! 360° News | Beta Feedback
Start your own Yahoo! 360° page

THIỀN PHONG

Top Page  |  Blog  |  Friends

Add

THIỀN PHONG is not connected to you in Yahoo! 360°.

Last updated Wed Dec 17, 2008 Member since May 2006

con đường dài và rất dài luôn có em bên cạnh.... hị hị....--> Click here Reply

1 - 5 of 112 First | < Prev | Next > | Last

Thiền Phong Full Post View | List View

Tự tòng nhất kiến đào hoa hậu! Trực chí như kim cánh bất nghi.

tời..... tới....tơi.............
tời..... tới....tơi............. magnify
TỰ ĐỘ CHO MÌNH CÒN KHÓ HUỐNG LÀ MUỐN ĐỘ CHO NGƯỜI


Image Hosted by ImageShack.us
tượng đá thời Lê chủa Bảo Khám

Bài này chưa thấy ở đâu có.... há há.............

Tổ thứ 2 Trúc Lâm là Pháp Loa Phổ Tuệ Đại sư hiểu rõ bài kệ rằng:

Tâm và pháp giống không hoa

Phật và ta như điện chớp

Mở dậy khắp mười phương

Diệt hết cái không thể được

Image Hosted by ImageShack.us
cái này gọi là từ người sáng tác đến người Giám Tuyển.... há há...


Thiền Phong dệch!

Friday July 3, 2009 - 02:21pm (PDT) Permanent Link
NHÀ THƯ PHÁP TRỊNH TUẤN: VÔ HỌC HAY LÀ XUYÊN TẠC?
NHÀ THƯ PHÁP TRỊNH TUẤN:
VÔ HỌC HAY LÀ XUYÊN TẠC?


Báo Thể thao văn hóa ngày 29/06/2009 có đăng tải bài viết “gây sốc” của tác giả Huy Thông (phỏng vấn Trịnh Tuấn- nhà thư pháp quốc ngữ) mang tên “PGS Phan Văn Các “chép y nguyên” thư pháp của Mã Ngọc Tiên?” Với giới thư pháp cổ điển, thì có lẽ không ai coi đó là chuyện gì to tát lắm, nếu không muốn nói đó là chuyện “bếp núc” bình thường. Nhưng, qua “khẩu khí chợ búa kiểu blog” của Trịnh Tuấn, thì vấn đề đã trở thành chuyện động trời: “ĐẠO THƯ PHÁP”. Vì vậy, bài này viết ra mong bạn đọc khỏi hoang mang.
1. Về mỹ học của thư pháp cổ điển: thư pháp cổ điển là loại hình nghệ thuật cổ kính hướng đến cái đẹp xưa cũ. Vì vậy, trong khi luyện tập thư pháp, bất kỳ ai cũng phải tập viết thông qua các thư thiếp (sách chữ mẫu) của một trường phái nào đó. Quá trình luyện tập ấy, giới thư gia gọi chung là LÂM MÔ. MÔ 摹nghĩa là đặt giấy viết lên trên thư thiếp và tiến hành “căn ke” tập theo chữ mẫu (theo ngôn ngữ Nôm na…của Trịnh Tuấn là “đè lên để tô”). LÂM 臨nghĩa là đặt thư thiếp ở bên cạnh làm mẫu rồi nhìn đó mà viết theo (theo Trịnh Tuấn gọi là “nhìn để chép”). Lâm mô có ba cấp độ: lâm mô nét chữ, lâm mô chương pháp (tức bố cục), và lâm mô tinh thần. Mặt khác, lâm mô không phải thuần túy là góc độ kỹ thuật (kỹ pháp) mà còn là công cụ để luyện khí, tu đức, dưỡng thần, tồn tâm, định tính…
Vì thế, cái đẹp của thư pháp truyền thống là cái đẹp của sự sao phỏng, càng giống cổ nhân, càng giống pháp thiếp thì càng đẹp; càng phỏng đúng tinh thần của người trước thì càng hay. Cho nên, đối với giới thư pháp cổ điển thì lâm mô là việc trước nhất của sự học. Ngày nay, thư pháp cổ điển vẫn còn nguyên giá trị mỹ học của nó ở các nước còn dùng chữ Hán; ở Việt Nam, những thư pháp gia lâm mô đạt đến độ cổ điển phải kể đến Ái Châu Lê Quốc Việt, Xuân Như Nguyễn Thanh Tùng, Tiểu Hạng Nguyễn Trung Hoàng Long, Nam Long Nguyễn Quang Duy hay Bái Mai Tử Nguyễn Hữu Sử…(xem www.thuhoavietnam.com)
Có thể nói, việc coi tác phẩm của PGS Phan Văn Các là chuyện “ăn cắp” hay “đạo thư pháp” là chuyện hoàn toàn bịa đặt, sai lầm. Cứ theo cách suy luận của Trịnh Tuấn, thì những câu thơ phỏng cổ (theo mỹ học cổ điển) của Hồ Chủ Tịch trong “Nhật ký trong tù” cũng trở thành chuyện “đạo văn” mất!
2. Tại sao Trịnh Tuấn xuyên tạc về PGS Phan Văn Các?
Trước tiên chúng ta đặt ra câu hỏi: liệu nhà thư pháp quốc ngữ Trịnh Tuấn có biết đến những điều vừa nêu về mỹ học của thư pháp chữ Hán (thư pháp cổ điển) hay không?
Có hai khả năng xảy ra:
1. Nhà báo Trịnh Tuấn vốn chỉ có chuyên môn sâu trong lĩnh vực thư pháp chữ quốc ngữ, nên việc phê phán PGS Phan “đạo thư pháp của Tàu” là do thiếu hiểu biết, là do anh không được trang bị kiến thức cơ bản về thư pháp chữ Hán.
2. Trịnh Tuấn có biết đến những điều trên, nhưng vì một lý do nào đó đã cố tình bóp méo, xuyên tạc, hòng “hạ bệ” một Phó Giáo sư - nguyên là Viện Trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Viện nghiên cứu duy nhất về cổ học tại Việt Nam) trong lĩnh vực thư pháp, khổ nỗi thư pháp vốn chỉ là một thú chơi nhàn nhã lúc tuổi già của ông.
Về khả năng thứ nhất, phải nói, Trịnh Tuấn là một người ham học hỏi trong lĩnh vực thư pháp chữ Hán. Điều này trái ngược hẳn với tinh thần của các thư gia theo phái cổ điển, họ chẳng bao giờ có ý định hành động ngược lại, tức học tập và nghiên cứu thư pháp chữ quốc ngữ. Hơn nữa, thư pháp quốc ngữ còn bị họ coi như là thứ “ngoại đạo” ,“dị đoan” cần phải bài trừ (xin xem diễn đàn ttvnol và một số bài báo gần đây như bài của GS.TS Trần Trí Dõi). Việc không được chấp nhận của cộng đồng chuyên môn, khiến một số người viết thư pháp quốc ngữ lùi về phía sau, chỉ riêng Trịnh Tuấn lao đi học tiếng Trung và nhẩy sang thử nghiệm viết thư pháp tiền vệ. Nhiều người đã thầm phục Tuấn ở cái tính cương quyết và bạo liệt đó.
Tuấn có đọc lý thuyết và thực hành về thư pháp cổ điển chữ Hán, gần đây là học kỹ thuật của thư pháp Tiền vệ, với hy vọng xác định khả năng của mình ở cả ba mảng của thư pháp Việt Nam. Cho nên, khả năng Trịnh Tuấn không biết đến khái niệm LÂM MÔ là không thể xảy ra. Bằng chứng là qua bài viết trên trang web www.trinhtuan.com , Trịnh Tuấn có dùng đến khái niệm này. Nhưng đến khi đưa lên báo chí lên công luận, thì Huy Thông (mà chúng tôi ngờ cũng chính là Trịnh Tuấn) đã CỐ Ý cắt đi hai chữ LÂM MÔ để hạ bệ một “cây đa cây đề” của giới Hán học và tung hỏa mù cho bạn đọc.
Hành động “gây hấn” của Trịnh Tuấn là hành động xuyên tạc sự thực và xúc phạm danh dự đối với người già cả. Dù là với động cơ nào đi chăng nữa thì đó là điều không đáng có, và đáng bị lên án! Ấy thế mà, sau khi chứng minh “hùng hồn” bằng “nghiệp vụ” của một thư pháp gia, Trịnh Tuấn còn “giả giọng” kêu: “Tôi không tin một vị PGS đức cao trọng vọng như nguyên Viện trưởng Viện Hán Nôm - Phan Văn Các, lại đi “đạo” thư pháp.” Thêm nữa, bài báo còn “đưa chuyện” PGS Phan Văn Các bị đính tên làm tác giả của Kim Bình Mai (mà ông vốn là nạn nhân của việc in sách lậu) sẽ khiến cho nhiều bạn đọc bị đánh lừa, và lầm coi đó như là một “tiền lệ” của việc ăn cắp. Cách giật sapo đầy tính “tiểu xảo kiểu báo chí” của Huy Thông là sự suy thoái về mặt đạo đức nghề nghiệp, đạo đức nhà báo.

Trần Trọng Dương
Tuesday June 30, 2009 - 05:26am (PDT) Permanent Link | 12 Comments
Đừng nhìn Rồng như “chim chuột”.
Đừng nhìn Rồng như “chim chuột

Thiền Phong

Sau bài viết của chúng tôi trên Tiền Phong cuối tuần số 17, đến số 19 Trang Thanh Hiền đã có bài trao đổi “Không chỉ tay phụ nữ, mà còn có chim chuột”. Vậy thực chất của vấn đề “ẩn ngữ để nói về một bà Vương hậu” mà Trang Thanh Hiền đã đề cập qua hai bài viết từ “tay phụ nữ” đến “chim chuột” như thế nào? Những vấn đề khác liên quan đến một số bài của Trần Hậu Yên Thế về Mỹ thuật Hoa Lư mà Trang Thanh Hiền đã viện dẫn ra sao? Dưới đây chúng tôi xin đưa thêm một số ý kiến, hi vọng các vấn đề đang tranh luận sẽ ngày một sáng tỏ hơn.

1. Tay hay Chân rồng – những nhận định chủ quan.

Trang Thanh Hiền nhận định đồ án rồng là “những chiếc vòng được tạo ra ở cổ tay để khẳng định đó là những đôi tay phụ nữ”? Trước hết, nếu dựa vào ngấn vạch ngăn mà Trang Thanh Hiền cho là vòng mà “khẳng định” là đôi tay thì con rồng này thành bốn tay vì cái chân với vuốt không mềm mại cũng có ngấn vạch. Vậy con rồng này 4 tay? Với lập luận như vậy cho thấy nhận định của Trang Thanh Hiền là tiền hậu bất nhất, là không chính xác.

Đồ án chân rồng có ngấn vạch tách biệt phần bàn chân và khuỷu chân chúng ta gặp nhiều trong các điêu khắc cổ Việt Nam trên các đò án gỗ, hoặc đá…. như trán bia chùa Bút Tháp (dựng năm 1647 thời Lê), trán bia chùa Bạch Hào – Thanh Hà – Hải Dương (thời Lê)…. Như thế, với cách “giải mã” và “tầm đón đợi” về Mỹ thuật cổ Việt thì hình tượng con rồng bình thường như bao con rồng khác thành một con rồng dị dạng, nữ tính, bất thường với 3 tay đeo vòng và 1 chân cũng đeo vòng là khó tránh khỏi. Không dừng lại ở đó, Trang Thanh Hiền cho rằng rồng ở đình làng với móng vuốt cũng là hình ảnh tay rồng. Ta thấy, trong các đồ án rồng trên điêu khắc người Việt phần nhiều là chân rồng với 3 – 4 móng vuốt, như thế Trang Thanh Hiền muốn hoá chân rồng 3- 4 móng vuốt thành tay người trong tương quan so sánh để nhằm làm sáng tỏ hình ảnh chân rồng trên sập đền vua Đinh chăng?

Về hệ thống rồng Trung Hoa có nhiều kiểu thức thể hiện như: giao long, ứng long, sắt long, cù long, li long, thanh long, hoả long, hắc long, thương long, …. thể hiện đủ muôn hình vạn trạng. Về tôn giáo, truyền thuyết cổ đại Trung Hoa nói về rồng như: Chuyên Húc cưỡi rồng đến 4 biển, Chúc Dung cưỡi 2 rồng, Hoàng đế cưỡi rồng bay lên trời; đối với Phật giáo, hình ảnh rồng du nhập khá sớm như hình cửu long phún thuỷ, bồ tát chư thiên cưỡi rồng…vv..v.v.. Cho nên, Trang Thanh Hiền nhận định về hình ảnh rồng Trung Hoa rằng: “kể cả về ý nghĩa, rồng Trung Hoa chỉ tượng trưng cho vương quyền và chịu những quy cách ngặt nghèo, nên không thể mang những ý nghĩa về Thiên nhiên hay xuất hiện trong kiến trúc Phật giáo thời Lý Trần như rồng của Việt Nam” là một nhận định chủ quan mà người đọc bình thường cũng thấy nó sai một cách hiển nhiên.

2. Đồ án vẽ sai, dẫn đến nhận định thành “chim chuột”.

Trang Thanh Hiền trong bài viết trả lời chúng tôi đã đưa hình tượng con chuột (do Trần Hậu Yên Thế nghiên cứu), cho là một minh chứng để làm rõ “ẩn ý” của con rồng “ba tay và một chân” và con rồng kì dị này là kiểu ảnh xạ “chim chuột” trên điêu khắc ở đền vua Đinh. Đồ án trong điêu khắc cổ có hai loại hình là Đồ án Biểu tượng như Long li quy phượng và Đồ án Trang trí với các hình ảnh chim, cá, tôm, cua… Chúng tôi cho rằng hình ảnh “Chuột”, nếu có, thì thuộc vào Trang trí chứ không phải là Biểu tượng. Trong bài viết: “Con chuột trên bia đá đền Vua Đinh”, Trần Hậu Yên Thế đã mô tả trên tấm bia Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế công đức tằng tu điện miếu bia ký với hình ảnh: Không phải là lưỡng chuột chầu cua mà lộ rõ dáng vẻ rình rập của hai con chuột đồng béo núc đang chuẩn bị lao vào xơi tái chú cua”. Quả là cách nhìn nhận rất hồn nhiên, ngộ nghĩnh của Trần Hậu Yên Thế về hình ảnh con chuột có “vị trí trang trọng nhất” mang “đậm đà bản sắc dân tộc”!? Thực ra, có phải là con chuột không, trước tiên chúng tôi trở lại với hình ảnh đồ án trên sập mà Trần Hậu Yên Thế cũng như Trang Thanh Hiền lấy làm dẫn chứng. Đồ án đã vẽ lại hình con rồng cuộn dựa trên ảnh thác bản của sập rồng. Thực tế thác bản vốn đã không lấy được nguyên bản hình ảnh của các đường nét với tính trung thực cao nhất dẫn đến các ngón vuốt thô tháp, các góc và kẽ chân của vuốt rồng đã không được rập cho tường tận và đồ hoạ vẽ lại đã cắt nét cho phẳng, nhẵn nhụi như tay người. Tính không trung thực trong bản vẽ đồ án còn hiện rõ ràng hơn trong hình ảnh con sư tử. Về hình ảnh này, chúng ta gặp nhiều trong văn khắc thời Lê, nó vừa tựa như con Lân, vẽ đơn giản lại như con hươu mà chúng tôi tạm gọi là Linh vật. Chuột tai nhọn và nhỏ, mắt nhỏ, đuôi nhọn, trong khi con Linh vật xuất hiện trên đồ án điêu khắc Việt Nam với thân cổ dài, tai to, chân vươn ra, đuôi dài với nhiều kiểu như chẻ ra nhiều sợi xoắn lại, hoặc như chổi bông, hoặc như quạt…. (Nếu có dịp chúng tôi sẽ đề cập trong bài viết khác). Vả lại, con vật này xuất hiện trên chạm khắc ở đền vua Đinh đuôi dài bồng ra như có lông cũng như 2 con Linh vật trong đồ án hai bên con cua không phải là con chuột và vì thế càng không nên phát huy nghĩa lí thêm thành chim chuột như Trang Thanh Hiền nghiên cứu. Kiểu ngộ nhận này chúng ta cũng găp trong “Con chuột trên bia đá đền vua Đinh” của Trần Hậu Yên Thế viết: “chiếc bia đá niên hiệu Chính Hoà thứ 21 (1700) có khắc hình một cô gái khỏa thân đứng dưới cành hoa” ở ngã ba Thiên Tôn mà thực chất là những con khỉ trong điêu khắc cổ mà chúng ta gặp rất nhiều như bia đền Lê Đại hành dựng năm 1608, hoặc các bức chạm ở hành lang đá chùa Bút Tháp năm 1647….

3. Nhận định sai lịch sử xây dựng đền vua Đinh.

Trang Thanh Hiền đã viết sai lịch sử dựng đền vua Đinh rằng: “Theo những điều ghi nhận trên các bia còn được lưu giữ ở đền vua Đinh thì năm Hoằng Định 9 (1608), Bình An vương Trịnh Tùng cho trùng tu lại đền vua Lê, sau đó năm Hoằng Định thứ 12 (1611), sửa lại tượng và rước Hoàng Hậu và Lê Hoàn về đền vua Lê cùng với Lê Ngoạ triều”, để cho rằng có việc thờ bà Hoàng hậu ở đền vua Đinh thì mới có chuyện 3 cái chân kia biến thành tay cho hợp lý. Đồng thời tiến thêm một bước, Trang Thanh Hiền nhận định về cái ẩn ngữ “dân gian càng gia cố thêm cho những lý giải về hình tượng các đôi tay phụ nữ” và “hai chiếc sập đá chạm rồng nay đã có ở đền Đinh ngày nay trước khi tượng Dương Vân Nga và Lê Hoàn được tách về đền vua Lê” nhằm chỉ Dương hậu với vua Lê mang hàm ý chim chuột và minh xác cho việc hình ảnh bà Dương hậu ở đền vua Đinh. Thực tế có như tất cả câu chuyện về đôi tay phụ nữ như các bài báo của Trần Hậu Yên Thế và Trang Thanh Hiền đã viết không? Mấu chốt chính là nhà nghiên cứu mỹ thuật đã hư cấu hoàn toàn việc bia đền vua Đinh ghi chép về việc thờ bà Hoàng hậu ở đền vua Đinh và chuyển thờ bà từ đền vua Đinh sang đền vua Lê. Xét tư liệu thực địa, đền vua Đinh hiện còn 3 tấm bia. Tấm bia thứ nhất là Tiền triều đinh tiên hoàng đế miếu công đức bi kí dựng vào năm Hoằng Định thứ 9 (1608); bia thứ 2 dựng năm Chính Hoà 17 (1696); bia thứ 3 dựng năm Thiệu trị 3 (1843), đều không hề ghi chép về việc trùng tu năm 1611 cũng như di dời Hoàng hậu từ đền vua Đinh sang vua Lê. Hệ thống văn bia đền vua Lê cùng giai đoạn cho biết vua Lê chúa Trịnh cho làm Thánh tượng Lê Hoàn, Hoàng thái hậu và Lê Ngoạ Triều không hề ghi chép di dời tượng thờ, cũng như triều đình không hề miệt thị bà Hoàng thái hậu mà còn ca ngợi có Đức độ như thơ Quan Thư, Phúc ở thơ Cù Mộc trong Kinh Thi. Một vị Hoàng hậu mà cái đức được đem so với đức của bà Hậu phi trong thơ Quan thư, phúc trong thơ Cù Mộc thì làm gì có chuyện chim chuột như nhận định của nhà nghiên cứu Trang Thanh Hiền.

Thứ nữa Trang Thanh Hiền cho rằng hình ảnh còn rồng ở đền vua Đinh còn “ảnh hưởng từ văn hoá Chăm”. Điều này vốn Trần Hậu Yên Thế trong bài viết “Từ con rồng có đôi tay… vũ nữ” ngày 3 tháng 4 năm 2009 trên Thể thao văn hoá đã cho rằng “Dấu ấn Chăm Pa ở Hoa Lư đậm nét tới mức người thợ đá khắc hình rồng trên chiếc sập đá trước Nghi Môn ngoại đền vua Đinh đã dám thay những móng vuốt chim ưng sắc nhọt theo kiểu thức Trung Hoa trong Mỹ thuật đời Lê bằng những cánh tay thon mềm uyển chuyển như thường thấy trong các điệu múa các vũ nữ Chăm Pa” và nhận định ảnh hưởng văn hoá Chàm để nền Mỹ thuật Hoa Lư? Về vấn đề Chăm Pa, đến cuối thế kỉ XVI thì chúa Nguyễn đã di dân vào Trung bộ nhiều lần và phát triển đất nước về phương nam và phân định dần thế Đàng trong đối kháng Đàng ngoài. Như thế, ảnh hưởng Mỹ thuật Chăm đến thế kỉ XVII từ Thanh Hoá trở ra Bắc đã tuyệt diệt, hoặc chăng còn rơi rớt. Vả lại, kiểu thức rồng vuốt râu là đề tài phổ biến trong đồ án rồng thời Lê cũng như chân rồng dần dần vuốt không sắc nhọn là sự chuyển biến theo thời gian từ thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Cho nên ý kiến của Trang Thanh Hiền và Trần Hậu Yên Thế là không xác đáng và trái với sự phát triển của hình ảnh rồng trong lịch sử phát triển Mỹ thuật Việt Nam.

Về xây dựng đền vua Đinh cũng như vua Lê được sự chỉ đạo của vua Lê chúa Trịnh, chứng cứ còn rõ trên bia năm 1608 ở đền vua Đinh với nội dung cho biết: “Từ vũ tu tập, Lễ bộ đảm đương - tu tập từ vũ, Lễ bộ đảm đương”. Ngoài ra, đền vua Lê được trùng tu lần đầu tiên trong giai đoạn này theo tấm bia sớm nhất ở đền vua Lê là vào năm 1608 và sau đó tạc tượng Lê Hoàn, Lê Ngoạ triều cùng Bảo Quang hoàng thái hậu. Như vậy, đầu thế kỉ XVII, việc xây dựng và ổn định thờ tự bà Dương hậu đã ở bên đền vua Lê chứ không hề liên quan đến đền vua Đinh. Việc xây dựng đền vua Đinh, vua Lê được sự giám sát chặt chẽ của quan lại đầu triều là bộ Lễ, bộ Công với chuẩn tắc viết chữ của Ngọc thạch cục, của Thạch tượng cũng như tạc khắc đá ở Thạch Thành…. của triều đình nhà Lê mang tầm quốc gia đại sự chứ không phải mang tính dân gian muốn làm gì theo ý thích, hoặc chủ quan trong nhận định mà làm của thợ địa phương qua cách nhìn nhận của Trang Thanh Hiền. Cũng như kiểu thức kiến trúc, hoa văn, thợ khắc phần nhiều đều thuộc đất Thanh Hoá bởi giai đoạn Lê triều Hoa Lư vẫn thuộc Thanh Hoá mà đến năm 1831 mới thành lập nên tỉnh Ninh Bình.

Kết luận:

Từ vấn đề xây dựng, thờ tự, và đồ hoạ vẽ lại của đồ án rồng ở đền vua Đinh chúng tôi thấy kết luận sau: Trang Thanh Hiền đã hư cấu nội dung tấm bia đền vua Đinh dựng năm 1608 về việc chuyển dời Dương hậu từ đền vua Đinh sang đền vua Lê nhằm mục đích hợp thức hoá có hình ảnh bà hậu này ở đền vua Đinh để nói được cái ý chủ quan về con rồng “3 tay và 1 chân” mà tay “đeo vòng” rất dị dạng làm nên ẩn ngữ “chim chuột” trong điêu khắc đồ án sập rồng. Từ không có việc thờ tự Dương hậu ở đền vua Đinh cũng như phân tích qua 2 bài viết của chúng tôi có thể khẳng định không hề có con rồng lạc loài 3 tay 1 chân mà lại ẩn ý về một bà Hoàng hậu như trong bài viết của Trang Thanh Hiền. Cũng như vấn đề “chuột” trong Mỹ thuật cổ đã được Trần Hậu Yên Thế phát kiến mang một cách nhìn chủ quan rồi “tiếp biến” xây dựng nên hình ảnh “chim chuột” trong bài viết của Trang Thanh Hiền là hoàn toàn không đúng với sự thật Mỹ thuật cổ ở đền vua Đinh vua Lê. Nghiên cứu Mỹ thuật nói riêng, nghiên cứu văn hoá nói chung cần có cái nhìn hướng về cái đúng, tốt đẹp chứ không phải làm lu mờ và rối mù lịch sử. Trong xã hội hiện nay nghiên cứu văn hoá cổ đã có trường phái “chày cối”(thể hiện ở nhìn nhiều thứ thành Lin ga, kể cả chùa Một Cột), không lẽ nay lại có thêm trường phái “chim chuột”?. Do đó, chúng tôi mong rằng qua bài viết vấn đề đặt ra sẽ thêm sáng tỏ hơn, ngõ hầu mỗi người dân Việt Nam về tham quan đền vua Đinh sẽ nhìn rồng thành Rồng mà không chỉ trỏ vào chân rồng mà bảo: “Đây là tay bà Dương Vân Nga” trong hình ảnh con rồng dị dạng với ba tay đeo vòng và một chân đeo vòng như trong nhận định về bàn tay mềm mại, phụ nữ của các nhà nghiên cứu Mỹ thuật Trang Thanh Hiền và Trần Hậu Yên Thế.

Tham khảo và chú thích.

1. Nguyễn Danh Phiệt, Nhà đinh dẹp loạn và dựng nước, nxb Khoa học Xã hội, HN. 1990.

2. Xem thêm Mỹ thuật của người Việt, nxb Mỹ thuật – 1989, Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng đã dùng tên gọi hươu để gọi con vật kiểu hình dáng này, và chú thích đồ hình tại trang 102.

4. “Con chuột trên bia đá đền vua Đinh” của Trần Hậu Yên Thế trên: http://www.vietnamfineart.com.vn/printContent.aspx?ID=1495

3. Đồ hoạ trên Văn khắc Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Friday June 26, 2009 - 12:26am (PDT) Permanent Link
Huế tình yêu của tôi....
Vỹ Dạ đẹp lắm


Image Hosted by ImageShack.us
nhìn người đàn ông này, biết ngay anh ta đã có vợ...


Ai cũng bẩu thế, thực chăng! thực, tôi từng yêu, từng chiêm nghiệm và mỗi năm trở lại tôi lại thấy đáng yêu hơn, dễ thương và gần gũi hơn....
Ặc Ặc..... một tình yêu như thơ như mộng và hồn nhiên...
có những tình yêu hồn nhiên hơn nữa. Năm 2009, lần đến Huế thứ 2 trong việc tham gia các chương trình nghệ nghệ....
Mỗi năm mỗi khác, vào Huế lần này đẹp hơn, lạ lùng hơn...
Chuyến xe chúng tôi vào cùng đoàn ca trù của công ty Vẻ đẹp Việt, tuy nhiên thực chất trong đó nhiều anh em văn nghệ nhà báo, nhà giáo nhà đài hơn là các thiếu nữ đi để múa cũng như có nhiều thiếu nữ không phải đi để múa mà đi để ngắm cảnh và chụp ảnh (khụ khụ..... )...
Con bò đâm vào xe vào một buổi sáng tinh mơ khi em Ngọc ngồi bên tôi ngắm nhìn bình minh trong thanh và lãng mãn của đoạn đường gần biển nơi đất Quảng Bình Quảng Trị..... Nơi mà dự án nghệ thuật được một số anh em đang hình thành tập trung trong tương lai.... Con bò không phải đâm vào tôi mà vào đôi chân trần nõn nà của em.... để rồi câu chuyện thực chất đưa đến ánh mắt đa tình vít vào cô em của em đang học Báu chấy. Rất hay và dài dài..... câu chuyện còn dài hơn trên đất Hà Nội, bởi tinh yêu là vô hạn và cuộc đời thì có hạn....
Huế!
tôi ấn tượng nhất là sáng thứ 2, ngồi bên quán cà fee chiều đường Phùng Hừng nhìn hoàng thành hoang đổ, người ta đang dựng lại những quá khứ vàng son giờ chỉ còn là những đống đổ nát. Mỗi năm trùng tu xây sửa để rồi hư hoại cũng nhanh hơn. Hoàng t hành giờ đẹp hơn bởi nó đổ nát.... Quán chiều khác một chút so với 6 năm trước, khi chúng tôi lần đầu vào Huế ăn dầm ở dề nơi đây.... vẫn đây lõi cũ vào trường Kinh tế, mà giờ chúng tôi vào trang trại của Hải pằng huynh. Trại gọn nhẹ và cũng đẹp (tuy không bằng trại chúng tôi) và trại này cũng thiên nhiên lắm...theo kiểu tự do......
Ấn tượng nhất với tôi là Mệ, tôi cũng như mấy anh em buổi trưa hôm đó, không hiểu chuyện gì, hoặc là tại tôi biết chút tý tẹo về Phật giáo, hoặc tôi thân thiện, dễ chịu.... Mệ đón tôi như đón đứa con xa về nhà, cháu Mệ hôm nay cũng từ Sài gòn về. Nhà rộn ràng niềm vui. Ở Huế, con cháu đều gọi bà, mẹ là Mệ không như ngoài bắc, bà là bà, mẹ là mẹ. Ở Huế, tiếng Mệ thật ấm cúng, thân thiện và trân trọng. Đáng quý và đáng yêu. Rất Huế!
Mệ kể tôi nghe mẹ tụng kinh, tấm lòng mẹ quy y đạo Phật, Mệ kể cho tôi con mệ, cháu mệ cũng vậy, rồi ngày mệ đưa tên các con lên chùa Thiên Mụ, được thụ giới Ưu bà di bởi Hoà Thượng thượng Trừng hạ Quán Thích Đôn Hậu. Đến nay cũng gần 30 chục năm. Tôi gặp lại tờ điệp, quyển điệp của chư tăng Huế làm năm nào, cổ xưa và rất đẹp, một bên chữ Hán, một bên chữ Việt, dấu đóng đỏ tờ, trang trọng và linh thiêng (tôi sẽ post ảnh và chú thích sau).
Mệ tụng kinh tôi nghe, lời tụng kinh khác biệt. Tôi chưa bao giờ nghe tụng kinh như thế, Mệ tuổi 80 nhưng lời ấm nồng, giọng tụng thực chất là hát. Tôi cho đây là hát kinh, lời nghe vang vọng sâu thẳm, đi vào lòng người, xuyên không gian và thời gian dương gian và âm u tịch, để cầu dương vượng mà âm siêu. Mệ kể tôi nghe công đức của tụng kinh, Mệ kể tôi nghe Phật Thích Ca, Phật Di đà..... âm lời khiến lòng tôi nhẹ nhõm. Con trai Mệ bảo, những đêm dài mệ tụng kinh, anh ngủ ngon hơn, lời Mệ hát kinh như lời ru ngọt ngào vỗ về tâm hồn người mà bản thân tôi ngồi ngay cạnh cũng không biết mình đang thực hay mơ...
Lời hát kinh..... các sư thường tụng kinh, còn đây Mệ Hát, như như lời hát ca Huế, nhưng pha vào là tiếng chuông và mõ, tạo nên bản nhạc du dương đặc biệt. ... lời hát tôi nghe như vang vọng trên giòng sông Hương, như vang vọng con thuyền độc mộc, người lái đò sảng khái hát lên lời ca du thuyền, một một tiếng hò ấm cũng lan toả trên sống nước và vang vọng vào bên bờ.... dập dìu trên ngọn sóng Hương Giang.... ....
cảm ơn anh Lãng Xuân...
cảm ơn anh Hải Pằng...
em
lại một tình yêu ở Huế
Ặc Ặc à! anh vẫn thế và em vẫn thế, thời gian vẫn thês, con người có những súc cảm riêng biệt và lạ lùng. Tuổi trẻ và tình yêu lộng lẫy trong những giấc mơ mà ta không muốn kết....
Duyệt thị đường trong buổi diễn thuyết của cô Thuỵ Loan và vi deo cũng như sắp đặt thị giác của Lê Quý Anh Hào và Như Huy tạo nên một nhân duyên cho tôi gặp em... ánh mắt em, làn môi em, lạ lùng hơn bao giờ, không phải người Việt. Em là người Việt. em bảo với tôi khi hai đứa đi dạo trên bờ Hương Giang đêm kết hội fesstival làng nghề, em bảo ai cũng bảo em người Ấn độ vì mắt em, tóc em và khuôn mặt em. Em bảo em không xinh sao tôi khen em xinh. Em bảo mắt em có gì lạ đâu sao tôi bảo mắt em ám ảnh lạ lùng khiến tôi nhớ nhung..... em cógì lạ đâu.
học lớp 12 khi 18 tuổi, em khiến tôi ngỡ ngàng khi thơm nhẹ lên má em giữa cầu Tràng tiên lỗng lẫy và thay đổi màu sắc..... ngọt ngào như tôi chưa một lần được yêu.......

Image Hosted by ImageShack.us
ngâm kíu thế này mới.... đỉnh

A Nan bảo, em giống người Ấn độ, em cao và đẹp. Nhiều người muốn em làm mẫu áo dài. Sao em từ chối? nhiều người muốn nói lời iu em! sao em từ chối...
tôi say em rồi, khi con đường về Huế như dễ dàng hơn và rộng thênh thang....
Hiền Nga.......................
Con chim nhỏ..... ngọt ngào mà mê say...............................
ôi tình yêu.... tình yêu bao la.....
PHONG

Monday June 15, 2009 - 06:29pm (PDT) Permanent Link | 8 Comments
Thành phố nghiêng qua dòng sông
Thành phố nghiêng qua dòng sông magnify
em buông ........................................mái chèo...
trời xiêu xiêu.... gió trôi hút chiều trên qua dòng sông anh....
Thành phố nghiêng qua dòng sông
Tôi thấy tình yêu tôi tắt thở
nhịp đập trong trái tim tôi
tình yêu trong trái tim tôi và nhịp sống của chính tôi chảy ra, tan ra, hoang ra, hoà vào tùng lỗ chân lông đang nở to ra hơn bình thường.....
em có sự hồn nhiên lớn nhất mà tôi vô tình nhận ra hiển hiện từ thinh không của ca kịch, của ngôn ngữ ,vũ đạo... của ngàn xưa vọng về....
đuôi mắt em vô tình cứa vào trái tim tôi, cứa nhẹ nhẹ thôi em nhé! khi tim tôi vương vấn hình ảnh em, đôi mắt em, đôi môi và nụ cười bí hiểm như đang chứa chất cả thế giới tiềm tàng của điệu du dương trên dòng Hương giang...
em vô tình cướp đi một sinh mệnh trong tôi.... một sinh mệnh làm chủ...
Đường cong của vòng eo, khiến bàn tay vô tình trở về thực tại...
sông Hương vẫn lấp lánh sao, những ngôi sao đơn lẻ, những ngôi sao dang di chuyển, vận quay và vận quay đến vô cùng....
tín hiệu tình là chìa khoá tôi ngẫu nhiên nhận được như một nhân duyên bất định....
thế giới đa tình của em vương vấn trên thân tôi.....
nóng....... ành....à ...nóng......
......................................rốn em là điểm đen của thế giới......
hoà ca...........
Đò....ơi....đò........


Friday June 12, 2009 - 05:19pm (PDT) Permanent Link | 5 Comments

Add Thiền Phong to your personalized My Yahoo! page:

Add to My Yahoo!RSS About My Yahoo! & RSS
1 - 5 of 112 First | < Prev | Next > | Last

HIGHLIGHTED POSTS