Không ai bị lãng quên, không điều gì bị lãng quên...
Bài hát này đã vang lên biết bao lần ở báo Tuổi Trẻ trong 30 năm qua. Trong một thời gian dài nhiều người đã xem đó như "Tuổi Trẻ hành khúc". Sắp đến ngày thành lập Tuổi Trẻ rồi, post lên cho mọi người nghe và đừng quên nó, các bạn ơi !
Lòng ta hằng mong muốn và ước mơ,
bàn tay son sắt giương cao ngọn cờ.
Để ngàn đời bền vững Tổ quốc ta,
trời cao muôn ngàn năm chói lòa.
Dù sương gió tuyết rơi,
Dù vắng ngôi sao giữa trời.
Hoà trái tim với tiếng ca.
Thúc ta dồn chân lên đường xa.
Còn chân còn nhịp bước còn tiến lên.
Còn đôi mắt sáng chí ta càng bền,
Ngực còn đập theo nhịp sống chung.
Bền gan ta còn đi tới cùng.
Dù sương gió tuyết rơi,
Dù vắng ngôi sao giữa trời.
Hoà trái tim với tiếng ca.
Thúc ta nhịp chân bước đường xa.
Một ca khúc rất ấn tượng về Chủ tịch Hồ Chí Minh cùa Ewan Maccoll.
Ca khúc nổi tiếng này được viết ra trong hòan cảnh thật đặc biệt. Và nó được truyền đi trong cảm xúc của hàng triệu bạn trẻ yêu hòa bình và tự do.
…..Trong đêm biểu diễn khai mạc Đại hội liên hoan quốc tế ca hát phản kháng ,được tổ chức tại La Habana năm 1967, có một bài hát, khi nghe xong hàng vạn khán giả đã đứng dậy vỗ tay như sấm, yêu cầu hát lại. Đó là Bài ca Hồ Chí Minh, do hai nam nữ nghệ sỹ Ewan Maccoll và Peggy Seeger sáng tác và biểu diễn.
Những ai đứng ở hàng đầu đều nom rõ những giọt nước mắt đang lăn chảy trên gò má của nhạc sỹ - chiến sỹ hòa bình người nước Anh, Ewan Maccoll. Đôi lúc giọng hát của ông nghẹn hẳn vì quá xúc động, nhưng cây đàn dân tộc đeo trên ngực ông vẫn vang lên quyện chặt lấy tiếng hát của người vợ, một nữ danh ca Mỹ.
Bài ca chấm dứt, không gian tràn ngập những tiếng hô "Hồ Chí Minh, José Marti, Tổ quốc hay là chết!", hai nghệ sỹ quay hẳn người lại cúi đầu rất lâu chào tấm áp phích làm nền cho sân khấu, trên đó vẽ hình một nữ chiến sỹ giải phóng quân Việt Nam đang cầm súng lao lên phía trước - dưới ghi hàng chữ "Việt Nam, bài học cho thế giới".
Ngay đêm ấy, các nghệ sỹ Việt Nam sang tham dự Đại hội đã tìm gặp hai người bạn quý. Hai nghệ sỹ Anh, Mỹ thân tình dạy cho các bạn Việt Nam học Bài ca Hồ Chí Minh. Và chính Ewan Maccoll, tác giả bài ca, đã kể lại tỉ mỉ hoàn cảnh ra đời bài ca ấy :
....Đêm 7/5/1954, trong một tòa lâu đài cổ phía Nam Thủ đô London, trên các hàng ghế chật ních mấy khoang nhà, người ta thấy có mặt nhiều thủy thủ, binh sỹ, sinh viên và một số Đại biểu Quốc hội Hoàng gia Anh. Họ đều là những hội viên của phong trào đòi tự do cho các thuộc địa của Vương quốc Anh. Sau khi bài Quốc ca trang nghiêm vừa dứt, nhạc sỹ Ewan Maccoll bước lên diễn đàn. Trên khuôn mặt anh rạng rỡ một nụ cười khiêm tốn mà chân thành. Anh nói:
- Thưa các ngài và các bạn, chiều nay đài BBC đã miễn cưỡng và dè dặt đưa tin: Điện Biên Phủ mất rồi! Nhưng đối với chúng ta, ngày Điện Biên Phủ chiến thắng lại là ngày hội lớn của tất cả những người lao động bị áp bức trên toàn thế giới. Thưa các bạn! Tại sao chiến thắng đặc biệt có ý nghĩa này lại xảy ra ở Việt Nam mà không phải ở một mảnh đất thuộc địa nào khác? Gần đây, tôi đã được đọc một cuốn sách quý, gồm nhiều bài viết của một số giáo sư sử học phương Đông và Pháp, Italia... Ca ngợi một nhân vật vĩ đại của thế kỷ XX. Đó là Cụ Hồ Chí Minh, nhà lãnh tụ vừa dẫn dắt nhân dân Việt Nam làm nên chiến thắng kiệt xuất Điện Biên Phủ. Cuốn sách có đoạn viết: "Cụ Hồ Chí Minh không chỉ xót thương nhân dân mình, dân tộc mình, mà ngay khi còn sống lưu lạc nơi đất khách quê người, Cụ đã thấu hiểu mọi nỗi đau khổ của những người nô lệ châu Phi, châu Mỹ...". Thưa các bạn! Vừa gấp cuốn sách lại thì lập tức những cảm hứng nghệ thuật đã tràn ngập tâm hồn tôi, giúp tôi nhanh chóng sáng tác một ca khúc về Cụ Hồ Chí Minh, người đang nhen ngọn lửa giải phóng bùng sáng lên ở Việt Nam và từ đấy sẽ lan nhanh tới mọi lục địa để thiêu cháy mọi áp bức, bất công. Vì bài hát này nhằm nói lên tình cảm của nhân dân Anh dành cho Người, tôi đã chủ tâm sử dụng và phát triển một làn điệu dân ca cổ Saxon, có chứa đựng nhiều yếu tố thiết tha sôi nổi...
Nói đến đây, Ewan Maccoll nâng cây đàn dân tộc lên trước ngực, âm thanh như dẫn dắt người nghe đi vào những điều tâm sự thiêng liêng:
Miền biển Đông, xa tắp nơi chân trời
Người dân ở đó lầm than đói nghèo
Từ đau thương Người đi, khắp năm châu
Lòng tin mặt trời chân lý sáng soi
Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh! ...
Người đã về với rừng núi
Tổ chức nên một đạo quân,
tất cả đều trở thành anh hùng
Thề giải phóng cho nhân dân
Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh! ...
Người đã chỉ huy đánh tan quân ngoại xâm
Lập nước Việt Nam chiến thắng vinh quang
Người là ngôi sao dẫn đường
Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh!
Lòng thành kính toàn dân gọi Cha già
Vì Người đã sống để cho muôn người
Hồ Chí Minh mùa xuân chứa chan muôn niềm tin
Người từ chân lý sinh ra.
Vì thế giới hòa bình, Người hiến dâng đời mình
Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh…
Người nghe hết sức chăm chú lắng nghe từng câu từng chữ của bài ca. Cứ mỗi khi nghệ sỹ hát xong, mọi người lại đồng thanh "Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh!". Thế là phong trào đòi tự do cho các nước thuộc địa của nước Anh đã có thêm một bài hát phù hợp với cương lĩnh chính trị của mình. Bài hát nhanh chóng được lưu truyền khắp nước. Nó còn xuất hiện ở Pháp và trở thành một bản cáo trạng đối với bọn thực dân Pháp đang tàn sát nhân dân Algeria. Giới nghệ sỹ tiến bộ CHLB Đức, Italia, cũng dùng Bài ca Hồ Chí Minh để góp phần lên án âm mưu phục hồi các thế lực phát xít trong nước mình.
Sự khác biệt về ngôn ngữ, về địa lý, về chế độ chính trị không mảy may ngăn nổi đôi cánh vạn dặm của bài ca. Và khi vừa xuất hiện ở Mỹ, Bài ca Hồ Chí Minh lập tức được đội ngũ các nghệ sỹ tiến bộ Mỹ đón nhận như một thứ vũ khí tinh thần hết sức quý báu để tố cáo những hành động xâm lược của Mỹ ở Việt Nam - Lào - Campuchia...
Vào giữa lúc phe hiếu chiến Mỹ cố tình nhắm mắt đẩy cuộc chiến tranh Việt Nam lên những nấc thang tội ác nguy hiểm nhất, Bài ca Hồ Chí Minh càng vang lên qua nhiều thứ tiếng: Tây Ban Nha, Thụy Điển, Đức, Nhật Bản, Pháp... Và khi được mời sang Cuba tham dự Đại hội liên hoan quốc tế ca hát phản kháng, hai vợ chồng nhạc sỹ Ewan Maccoll càng biểu diễn Bài ca Hồ Chí Minh một cách say sưa nồng nhiệt. Chính ở đây, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ không lâu, những chiến sỹ cách mạng Cuba đã hiên ngang cắm ngọn cờ tự do ngay sát cõi bờ nước Mỹ. Và trên mảnh đất này đã từng vang lên lời thề bất hủ "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả dòng máu đỏ của mình!".
Đại hội liên hoan quốc tế ca hát phản kháng kết thúc thắng lợi. Tại sân bay thủ đô Ha Labana, vợ chồng Ewan Maccoll rẽ đám đông chạy như bay tới ôm chầm lấy các bạn nghệ sỹ Việt Nam, chào tạm biệt, trao tặng bản nhạc Bài ca Hồ Chí Minh, ngoài bìa có ghi mấy câu thơ:
Trên đời có những điều không thể thay đổi
Có những con chim không khuất phục bao giờ
Có những tên người sống mãi với thời gian
Hồ Chí Minh.
Võ Dũng tên thật là Phan Chí Dũng (lấy theo họ cha, vì ông Võ Văn Kiệt tên thật là Phan Văn Hòa), sinh 1951 tại Rạch Giá. Năm 1960, khi vừa 9 tuổi, từ Kampuchia, Võ Dũng được tổ chức đưa ra Bắc học tập. Do hoàn cảnh công tác bí mật, nên ba má Dũng và các em vẫn ở lại trong Nam, (đây cũng là một thiệt thòi của Dũng so với bạn bè trong lớp). Khi ra Bắc, Dũng được gửi vào học tại Trường Học sinh miền Nam số 19-21 ở Cầu Rào (Hải Phòng) .
Đến 1963, Bộ Giáo dục có chủ trương cho những học sinh miền Nam có ba mẹ hoặc người thân ở miền Bắc về gia đình, tạo điều kiện cho học sinh được sự chăm sóc của người thân. Do đó, Võ Dũng được cô Bảy Huệ (vợ bác Nguyễn Văn Linh) nhận về nuôi dưỡng. Trong gia đình, Dũng luôn là người anh hết mực thương yêu và biết nhường nhịn các em. Tụi nhỏ hay được nghe anh Dũng kể những chuyện trinh thám đầy bí hiểm và hấp dẫn. Dũng thường vừa kể, vừa hóa thân thành các hiệp sĩ anh hùng, luôn đấu tranh bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa. Việc này đã trở thành một thói quen sinh hoạt của mấy anh em ở nhà cô Bảy Huệ, mỗi khi Dũng từ trường về chơi.
Đến năm lớp 4, Dũng vào học ở trường Nguyễn Trãi, Hà Nội. Tháng 8 năm 1965, Dũng nhập Trường Thiếu sinh quân tại Bắc Thái cùng đợt với các bạn con em của các đồng chí lảnh đạo nhiều cơ quan Trung ương. Võ Dũng cùng học với các bạn khoá 5 từ lớp 6 cho đến lớp 8. Trong những năm tháng ở trường, Dũng tỏ ra rất hiếu động và nghịch ngợm, hay cầm đầu các cuộc chơi thú vị của anh em khóa 5.
Cuối năm 1966, Trung ương cục cử dì Tư – liên lạc viên – về Sài Gòn đón má và hai em Dũng lên chiến khu thăm bác Sáu Dân. Để đảm bảo bí mật, dì Tư đã chọn đi chuyến tầu Thuận Phong dành chở vợ con sĩ quan, binh lính Saigon lên thăm chồng ở đồn Dầu Tiếng. Thời gian này đang diễn ra cuộc càn quét lớn, nên đúng ngày 17 tháng 12 địch có lệnh thiết quân luật, cấm mọi tàu bè chạy trên tuyến đường sông này. Thật không may, ông chủ tàu Thuận Phong lại say rượu, không hay tin này nên vẫn cho tàu chạy. Khi tàu rời Sài Gòn được hơn tiếng đồng hồ thì đoàn trực thăng yểm trợ cho trận càn đã bắn xối xả vào tàu cho đến khi chìm hẳn. Toàn bộ hành khách trên tàu không còn ai sống sót, trong đó có dì Tư, má và hai em của Dũng. Các chú, các bác đã dấu không cho Dũng và em Hiếu Dân biết tin đau thương này. Ba năm sau, anh em Dũng mới hay tin, vì vậy Dũng càng nung nấu quyết tâm trở về Nam chiến đấu. Tháng 3 năm 1968, Dũng lên tầu liên vận rời Quế Lâm về nước và vào học tập tại Trường Quân chính Quân khu Tả ngạn ở Hải Dương.
Cuối năm 1968, Bác Hồ cho đón các cháu học sinh đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ: Hà Nội – Huế - Sài Gòn” về Dinh Chủ tịch chơi. Là con em miền Nam, hai anh em Dũng cũng vinh dự được gặp Bác. Các bạn thiếu nhi phấn khởi quây quần bên Bác. Bác lần lượt chia kẹo cho tất cả. Đến lượt ai Bác cũng đều hỏi thăm xem học tập ra sao, có ngoan ngoãn không.
Khi đến lượt Võ Dũng, Bác hỏi:
- Cháu có ngoan không ?
Dũng khoanh tay lễ phép: “Dạ, cháu còn nghịch, chưa ngoan ạ !”
Bác xoa đầu Dũng:
- Giỏi, cháu thật thà như vậy là tốt, nhưng cháu phải cố gắng lên để bằng các bạn nhé!
Nói rồi , Bác vẫn chia phần kẹo cho Dũng.
Tháng 8 năm 1969, ở Hoà Bình, khi Dũng chia tay để đi “B”, cô Bảy Huệ, cô Tư Duy Liên và em Hiếu Dân cứ lo: không hiểu Dũng sẽ ra sao khi vào Nam, vì hồi đi học Dũng nghịch ngợm quá. Võ Dũng đã hứa với 2 cô và em: “Các cô và em Dân yên tâm đi, con quyết sẽ trả thù cho má và hai em con. Lần này con đi "một - xanh cỏ, hai - đỏ ngực" mà!”.
Dũng nhập đoàn quân “xẻ dọc Trường Sơn” về Nam chiến đấu, trong đoàn còn có anh Long, chị Phương. Sau này, nghe anh Long kể lại, dọc đường hành quân, tuy rất gian lao vất vả, nhưng Dũng rất vui vẻ và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Tới Đặc khu Sài Gòn – Gia Định, Dũng được biên chế vào đơn vị bộ đội thông tin. Do căm thù giặc cộng thêm bản tính hiếu động, không muốn ngồi một chỗ, Dũng một mực xin về đơn vị chiến đấu. Đến tháng 6 năm 1971, Dũng được điều về Mặt trận T3 thuộc Khu 9 và tháng 10 năm đó, Dũng giấu ba và xin bằng được để các chú cho về trung đội 2 trinh sát (thuộc tiểu đoàn 3).
Ngày 21 tháng 4 năm 1972, trong một chuyến trinh sát cùng hai đồng đội, không may cả nhóm đã rơi vào ổ phục kích của địch và Võ Dũng đã hy sinh anh dũng trên kênh Tây Ký, xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Vân, tỉnh Rạch Giá.
Sau giải phóng, tháng 11 năm 1975, Dũng được gia đình và đơn vị cải táng đưa về nghĩa trang An Nhơn Tây, huyện Củ Chi. Thật cảm động, khi lấy thi hài Dũng lên, trong túi quần vẫn còn bịch ni-lông đựng thuốc rê. Nhớ lại những ngày còn học ở trường, Dũng là một trong những số ít “tay nghiện” thuốc lá của lớp chúng tôi.
Nay Dũng đã được đưa về Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố yên nghỉ. Tại một điểm cách cánh trái bức phù điêu lớn ở trung tâm nghĩa trang không xa là nơi yên nghỉ của Dũng cùng bia mộ tượng trưng của má Trần Kim Anh và hai em nhỏ. Các nấm mộ của các liệt sĩ được bố trí chụm lại như những cánh của một bông hoa, mà mỗi bông hoa là đội hình của một tiểu đội trong chiến đấu.
(Anh Thy ghi theo lời kể của Võ Hiếu Dân, em gái liệt sĩ Võ Dũng)
Trích từ blog của anh Vũ Anh: http://vuanhk7.multiply.com/journal/item/413
Có những người-đánh-thức-tiềm-lực không biết mệt mỏi, dám “xé rào cơ chế”, dám “chịu nghe” lời khác, ngược lại công thức phát ngôn chính thống, dám hành động vừa quyết đoán vừa nhân tình… chúng ta mới có được một con đường đổi mới...
Tiềm lực ngủ yên
Thời đó, gia đình tôi ở trong khu tập thể Hội Văn nghệ TP.HCM: …lầu ba, nhà 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa/ tiếng tắc kè nhỏ giọt trong đêm/ tiếng mưa rừng nhỏ giọt trong trí nhớ/ vết đạn trên tường dù trát lại vẫn có màu vôi khác… Nghe tiếng tắc kè kêu trong thành phố, nhìn thấy ánh trăng một đêm cúp điện, lại nhớ về những cánh rừng xưa, những bạn lính cũ.
Lại thương đến nhão lòng những ước mơ đơn sơ, mộc mạc một thời. Về với mẹ. Về với vợ con. Về với thanh bình vườn ruộng. Về để làm cho dân giàu nước mạnh. Sắp về!... Sắp về!... Con tắc kè trên rừng cây “giơ xương trắng lên trời” do chất độc khai quang hồi đó, nó nói thế. Nó nhắc thế. Nó cứ điệp khúc thế. Cái điệp khúc mơ của người lính trận.
Một cựu binh là tôi lại bắt đầu mơ một điệp khúc mơ đơn sơ mộc mạc khác: “Hãy thức dậy, đất đai/ cho áo em tôi không còn vá vai/ cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn…”.
Và bắt đầu một nỗi day dứt khác: “…Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non/ châu báu vô biên dưới thềm lục địa/ rừng đại ngàn bạc vàng là thế/ phù sa muôn đời sữa mẹ/ sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể/ còn mặt đất hôm nay - em nghĩ thế nào?/ lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?...”.
Đó là nỗi day dứt của một thường dân. Kèm theo là nỗi day dứt của một thường dân làm thơ:… Lúc này ta làm thơ cho nhau/ đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt/ ta ca hát quá nhiều về tiềm lực/ tiềm lực còn ngủ yên…
Từng chút, từng chút, ý tứ bài thơ Đánh thức tiềm lực tượng hình dần trong tâm trí tôi, đến đầu năm 1980 mới ngọ nguậy nở thành từng con chữ trên giấy. Những dòng chữ nặng nề và chậm chạp chở lênh đênh tâm sự trầm buồn và chân thật như bọt bèo, như rều rác bập bềnh trôi trên dòng sông tuổi thơ.
Thêm rồi bớt, viết rồi sửa, đến giữa năm 1982 bài thơ dài ra thành vài trăm dòng. Tôi tự thấy nó còn nôm na lắm, ngôn ngữ thơ chưa được. Nhưng cái được ở đây là tâm tình thật của tôi. Thôi, cứ để thế. Tôi dừng bài thơ lại với đoạn kết: Tôi muốn được làm tiếng hát của em/ tiếng trong sáng của nắng và gió/ tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai/ tiếng trần trụi lưỡi cuốc/ lang thang khắp đất nước/ hát bài hát đánh thức tiềm lực!
Bài thơ ngủ yên
Bài thơ đi từ trong lòng ra nên tôi thuộc lòng nó ngay từ lúc vừa viết vừa sửa, cứ lẩm bẩm một mình như lên cơn thần kinh. Thời đó, thơ như thế là “gai góc” quá, thậm chí là “phản động”, không những bị cấm in mà còn bị cấm đọc. Cái thời hễ có ai phát ngôn khác đi so với công thức phát ngôn chính thống thì đều bị qui là “phản động”, bị “kiểm thảo”, bị “kỷ luật”...
Bản thân tôi, năm 1973-1974 ở Hà Nội cũng đã từng khốn đốn, lao đao vì mấy bài thơ “có vấn đề” bị viết bản “tự kiểm” (14 trang giấy khổ lớn, hồi ấy gọi là “giấy năm hào hai”). May thay, cuộc tổng tấn công mùa xuân 1975 bùng nổ, rồi thống nhất đất nước… Sự kiện lịch sử lớn lao xóa phăng đi cuộc sát phạt nhỏ mọn trong làng văn tù túng, lũ chúng tôi bỗng tự nhiên thoát nạn.
Thế mà ngay khi tôi vừa viết xong bài Đánh thức tiềm lực, đột ngột được tin lão thi sĩ Hoàng Cầm bị tống ngục Hỏa Lò chỉ vì tội tự ý phát tán bản chép tay tập thơ Kinh Bắc (+) của chính ông, trong đó có bài Lá diêu bông “ám chỉ chủ nghĩa xã hội là không tưởng”. Tôi không khỏi chột dạ. Tự xem xét lại mình, thơ của tôi rõ ràng là có “rất nhiều vấn đề”. Xin nhớ cho, lúc đó là giữa năm 1982.
Lời nói thật thà có thể bị xử tội. Lời nịnh hót, dối lừa có thể được tuyên dương.Có cái miệng làm chức năng cái bẫy. Sau nụ cười là lởm chởm răng cưa. Có cái môi mỏng ráp hơn lá mía. Hôn má bên này bật máu má bên kia. Có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa. Khái niệm bắn đi không biết lối thu về…Cần lưu ý có lắm nghề lạ lắm. Nghề mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau. Nghề chửi đổng, nghề ngồi lê, nghề vu cáo.Nghề ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồng bào. Có cả nghề siêu nghề gọi là nghề không làm gì cả. Thọc gậy bánh xe cũng một thứ nghề
Viết thế ấy thì in ở đâu và đọc cho ai? Chỉ dám đọc chơi với vài bạn rượu tri kỷ. Được đoạn nào “rỉ tai” đoạn nấy, từng đoạn, từng đoạn rời rạc. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng an ủi tôi: “Cứ đợi đấy, rồi sẽ đến hồi có người nghe và có người in”. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì “triết” hơn: “Sự chân thành tự nó hóa giải bế tắc. Hãy xem lại cái cây mình có thật ngay thẳng không. Cây ngay chẳng sợ chết đứng”. Tôi đã thấy những “cây ngay” mà vẫn bị “chết đứng”, nên lòng cứ thấp thỏm một nỗi lo ngại không xác định, tự nhủ mình phải giữ gìn, chớ hớ hênh mà rước vạ.
Đọc thơ "dù có ra sao cũng đành"...
Khốn nỗi, cũng giống như có ghẻ phải gãi, có thơ không thể không đọc. Không được in thì cứ đọc, mai sau dù có ra sao cũng đành… (một câu hát của Trịnh Công Sơn). Oái oăm thay, lần đầu tiên tôi công bố Đánh thức tiềm lực, đọc liền mạch hoàn chỉnh toàn bài thơ, lại là đọc tặng một người thuộc lớp người “đáng sợ” nhất lúc bấy giờ: ông Sáu Dân, tức Võ Văn Kiệt - ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Thành ủy TP.HCM.
Hồi đó, khoảng đầu thu năm 1982, ông Sáu sắp sửa thôi giữ chức bí thư thành ủy để ra Hà Nội làm phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước. Ông Nguyễn Quang Sáng chợt nảy sáng kiến họp mặt vài anh em bạn ruột (ngay tại căn hộ lụp xụp của ông trong khu tập thể 194B Nam Kỳ Khởi Nghĩa) để mời ông Sáu đến… chơi!
"Quí trọng ông Sáu thì tụi mình mới mời ổng uống ly rượu đế.Trước, để coi ổng có chịu đến chơi không. Sau, để nói thẳng nói thật với ổng chút ít tâm sự của tụi mình về tình hình thế sự”. Ông Sáng xác định “mục đích và ý nghĩa” cuộc gặp như vậy, rồi gọi điện thoại “thử ” xin nói trực tiếp với ông Sáu. Ông Sáu nhận lời ông Sáng.
Cuộc “chơi” hôm đó thật thoải mái và vui vẻ. “Phe văn nghệ” có nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Trần Long Ẩn, nhà thơ Nguyễn Bá (từ Cần Thơ lên) và tôi. “Phe chính trị” có mỗi ông Sáu.
Với nét cười hồn hậu, cởi mở, ông Sáu nói rất ít, không một lời “huấn thị”, chỉ kể một kỷ niệm vui vui hồi chiến tranh, rồi chăm chú lắng nghe chúng tôi hát và “tự do ngôn luận”. Nguyễn Quang Sáng nói chuyện viết và lách, viết đã khó, lách còn khó hơn. Trịnh Công Sơn vừa hát tình ca vừa góp ý với lãnh đạo thành phố về vấn đề… ẩm thực. Trần Long Ẩn trổ tài “ca bài ca cà chớn”, những ca khúc lời nhại hài hước diễu cợt cả thời đại. Còn tôi, không biết nói gì hơn là “xin đọc tặng anh Sáu một bài thơ vừa ráo mực, bài Đánh thức tiềm lực...”.
Bản án nhân tình
Xin chèn ngang một mẩu chuyện cũ… Tôi chỉ mới được gặp ông Sáu có mỗi một lần, khoảng giữa năm 1981, trong buổi tổng kết cuộc sinh hoạt chính trị (do nhà thơ Bảo Định Giang điều hành) chuẩn bị thành lập Hội Nhà văn TP.HCM. Thấy nhiều người đọc thơ tặng ông Sáu, tôi cũng đọc, bài Ông già Hậu Giang ngang tàng (bản in sau đó đổi ra Ông già Nam bộ), và bài Bán vàng - để “báo cáo” với bí thư thành ủy về đời sống thực của số đông thi sĩ lúc bấy giờ. Khúc dạo đầu còn e ngại lắm, nơm nớp lo có người ngăn cản:
“… Tâm hồn ta là một khối vàng ròng/ đành đem bán bớt đi từng mảnh nhỏ/ Ta mơ màng, ta uốn éo, ta lả lơi/ để mặc kệ mái nhà xưa dột nát/ mặc kệ áo quần thằng cu nhếch nhác/ mặc kệ bàn tay mẹ nó xanh xao/ ta rất gần bể rộng với trời cao/ để xa cách những gì thân thuộc nhất”...
Không bị ai chặn lời, tôi mạnh dạn “làm tới”: “...Cái ác biến hình lởn vởn quanh ta/ tai ách đến bất thần không báo trước/ tờ giấy mong manh che chở làm sao được/ một câu thơ chống đỡ mấy mạng người/ Vợ chồng ngủ với nhau đắn đo như vụng trộm/ không cái sợ nào bằng cái sợ sinh con/ hạnh phúc lớn vòng tay ôm không xuể...”.
Vẫn không thấy ai chặn lời. Phòng họp lặng ngắt. Tôi bình tâm kết thúc bài thơ:
Thì bán bớt đi một ít vàng ròng / để sống được qua ngày gian khổ đã/ phải sống được qua cái thời nghiệt ngã/ để khối vàng đây chỉ đổi lấy mây trời!
Sau cuộc họp đó tôi không những không bị “búa” như dự đoán của tôi và của nhiều người khác, mà lạ thay còn được người thư ký của bí thư thành ủy tìm gặp: “Anh Sáu nhắn cậu chép tặng anh ấy bài Bán vàng và bài Ông già Hậu Giang để làm kỷ niệm tình cảm”. Tôi hơi ngại, hỏi lại Nguyễn Quang Sáng: “Liệu có phải ông Sáu cần văn bản chứng cớ để xử lý?...”. Ông Sáng nói: “Chắc không phải. Nếu muốn xử, ổng chỉ cần ra lệnh”. Tôi bèn chép hai bài thơ và không quên ghi cẩn thận dưới tên mỗi bài: Tác giả chép tặng anh Sáu Dân để làm kỷ niệm tình cảm.
Ít lâu sau, tại cuộc gặp gỡ nhân dịp đại hội thành lập các hội nghệ thuật chuyên ngành của thành phố, với tư cách bí thư thành ủy, ông Sáu nói chuyện với đông đảo văn nghệ sĩ. Trong bài nói không dài đó của ông Sáu Dân có một đoạn tôi không bao giờ quên: “Vừa qua, tôi đã nghe và đã đọc bài thơ Bán vàng của nhà thơ Nguyễn Duy. Theo tôi, đó là một bản án nhân tình đối với chế độ của chúng ta. Đau, nhưng là sự thật. Chúng ta cần chân thành nhìn nhận sự thật để cùng nhau vươn lên, vượt qua giai đoạn khó khăn. Muốn vượt lên thì phải có niềm tin. Mà cốt lõi của niềm tin là tin ở con người...”.
Lần đầu tiên tôi trực tiếp nghe một bài huấn thị chính trị như thế, trực tiếp thấy một nhà lãnh đạo chính trị ứng xử như thế. Đó là khoảng giữa năm 1981. Quả là bất ngờ. Tự nhiên tôi xúc động, vì một cái gì đó mà tôi chưa biết gọi nó là cái gì, hình như nó chỉ là cái lẽ nhân tình bình thường mà sao ta ít thấy ở những vị quan lớn. Và, tự nhiên tôi cảm thấy tin ông…
Đánh thức...
Lúc này, với tất cả nỗi niềm “tin ở con người”, tôi lại trang trọng kính tặng ông Sáu một “rừng gai góc” mới. Tôi đứng ngay ngắn, nhìn thẳng ông Sáu mà đọc, thấy ông không cười cười nữa, hơi cúi đầu đăm chiêu với gương mặt bình thản không phơi lộ cảm xúc. Tôi cũng bình tâm làm phận sự của mình:
“…Xưa mẹ ru cho ta ngủ yên lành/ để khôn lớn ta hát bài đánh thức/ có lẽ nào người lớn cứ ru nhau/ ru tiềm lực ngủ vùi trong thớ thịt…/ Tiềm lực còn ngủ yên trong quả tim mắc bệnh đập cầm chừng/ Tiềm lực ngủ yên trong bộ óc mang khối u tự mãn.
Không ngắc ngứ, không ngừng nghỉ, tôi kéo một lèo khoảng 10 phút cho đến hết bài thơ. Thấy ai nấy ngồi lặng. Ông Sáu cũng im lặng chốc lát, mới chậm rãi: “Nặng lắm. Nhưng chịu được”. Hình như ông vừa trải qua một cuộc tra tấn. Rồi ông tiếp: “Nếu kể về cái tiêu cực thì tôi kể cả ngày không hết. Còn nếu kể về cái tích cực thì tôi kể cả tuần cũng không hết. Nhưng vấn đề ở đây không phải là chống tiêu cực hay biểu dương tích cực. Vấn đề ở đây là con người, là văn hóa. Con người có thức dậy thì đất đai mới thức dậy được...”.
Nghe ông Sáu, tôi thở phào nhẹ nhõm, trút bỏ nỗi lo ngại không xác định lâu nay vốn nặng trĩu lòng. Thì ra những câu thơ “khó chịu” thế kia không phải chờ đến mai sau mới có người lắng nghe và chia sẻ. Những người “chịu nghe” và “chịu được” loại thơ “nặng lắm” ấy đã hiện diện quanh tôi ngay từ “thời khó thở” đó.
Tiềm lực thức giấc...
Sau cuộc đọc thơ đó, tôi bèn đem Đánh thức tiềm lực đi đọc và “phát tán” ở nhiều nơi. Có nơi “hoan hô nhiệt liệt”, mời đọc, cho phát hành bài thơ bằng băng ghi âm hoặc bản in rônêô. Lại có nơi cấm đọc, cấm lưu hành cũng bài thơ đó. Nó xuất hiện muộn hơn trên mặt báo và sách. Lần đầu tiên Đánh thức tiềm lực được in là trên tờ Văn Nghệ Đồng Nai do nhà thơ Xuân Sách làm tổng biên tập, số tháng 12-1984. Nhưng tờ báo văn tỉnh lẻ này chỉ ra mỗi tháng một kỳ, mỗi kỳ mấy trăm bản, loanh quanh trong “xóm” Đồng Nai, ít ai biết đến.
Mãi cuối năm 1986, sau nghị quyết “Đổi mới” của Đại hội VI Đảng Cộng sản VN – được coi là đại hội “mở cửa” và “cởi trói” - bài Đánh thức tiềm lực mới được đăng nguyên văn trên báo TT, được phát hành khắp trong nước và ngoài nước. Năm 1987, Đánh thức tiềm lực có mặt đàng hoàng trong tập thơ Mẹ và em cùng với bài viết “Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy” của Nguyễn Quang Sáng (Nhà xuất bản Thanh Hóa).
Và từ đó nó đã được chọn vào nhiều tuyển tập. Có một dòng đề từ ngay dưới tên bài thơ, tôi viết thêm sau cuộc đọc thơ vừa kể, để ghi nhớ một kỷ niệm sâu sắc thời kỳ trước đổi mới: “tiễn đưa anh Sáu Dân đi làm kinh tế”. Chính nhờ có những người-đánh-thức-tiềm-lực không biết mệt mỏi, những người dám “xé rào cơ chế”, dám “chịu nghe” những gì khác đi, thậm chí là ngược lại cái công thức phát ngôn chính thống, dám hành động vừa quyết đoán vừa nhân tình… như ông Sáu Dân, chúng ta mới có được một con đường đổi mới với những ngày “dễ thở hơn” như hôm nay.
Nhà thơ Nguyễn Duy
(Bài đã đăng trên Tuổi Trẻ)
Việc khởi tố, bắt giam hai nhà báo Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến chiều qua đã thực sự gây rúng động làng báo. Hàng lọat blogger nhà báo từ Nam chí Bắc ngay lập tức bày tỏ thái độ của mình. Họ đau buồn và phẫn nộ !
Họ phẫn nộ vì biết rõ đồng nghiệp vừa bị bắt của mình là ai, đã sống và viết như thế nào để bảo vệ cuộc sống tươi đẹp này trước lũ sâu mọt. Không hề cường điệu khi nói rằng đồng nghiệp của chúng tôi – Nguyễn Văn Hải- là một nhà báo tử tế, một nhà báo trẻ đầy chuẩn chất Tuổi Trẻ tại phía Bắc.
Đồng nghiệp đó đang trả giá cho những dòng tin của mình về vụ PMU18 – một vụ án chưa kết thúc và đang có những diễn biến kỳ lạ. Ai ở trong hậu trường vụ án này mới hiểu hết sự kỳ lạ và phức tạp của nó. Ai đó đã đúng khi nói rằng công lý dường như bị nhạo báng qua vụ án này và nhà báo đã trở thành nạn nhân.
Và thật khó hiểu, khi hai nhà báo này bị khởi tố theo điểu 281 bộ luật hình sự :“lởi dụng chức vụ , quyển hạn khi thi hành công vụ”. Và điều 281 này nằm trong mục A chưong XXI về các “tội phạm tham nhũng” (!!?). Thật kỳ lạ !
Còn nhớ, cách đây không lâu, trên tạp chí Nghề báo, trung tướng Nguyễn Việt Thành (Tư Bốn), Phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng, đã đề cập đến việc hàng chục nhà báo viết về vụ PMU18 đuợc mời lên cơ quan an ninh điều tra làm việc. Ông có nói một câu thế này : “Các nhà báo đừng vì sai sót nhỏ mà chùn bước, mà giảm ý chí chiến đấu chống tham nhũng. Tôi hiểu là Đảng, nhà nước và nhân dân rất tin tưởng các bạn !”.
Kính thưa đồng chí Tư Bốn, chiều qua nhiều nhà báo đã tự hỏi mình về sự chùn bước và ý chí chiến đấu chống tham nhũng ấy, khi những đồng nghiệp tử tế và trong sáng của họ được xe cảnh sát đưa vào trại giam.
Bùi Thanh
(Ảnh trên: nhà báo Nguyễn Văn Hải trong chuyến cứu trợ đồng bào miền núi phía Bắc trong đợt rét vừa qua)