Yêu tự do, căm thù sự bất công, ghét sự giả dối, ham đá bóng, thích du lịch,và thích một số thứ khác nữa.
Trước hết tôi xin khẳng định là tôi hoàn toàn nhất trí với chủ trương phát triển công nghiệp khai khoáng bauxite và chế tạo nhôm kim loại. Tuy nhiên đọc báo cáo của chính phủ thì tôi thấy chưa tự giải đáp được ba vấn đề mà dư luận nhân dân đang rất quan tâm. Đó là hiệu quả kinh tế, tác động đến môi trường tự nhiên và xã hội và đảm bảo an ninh- quốc phòng.

(Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Minh Thuyết (phải) đang nói chuyện với giáo sư Nguyễn Lân Dũng)
Có thể nói dự án khai thác Bauxite ở Tây Nguyên là một đại dự án liên quan đến rất nhiều vùng và liên quan đến rất nhiều ngành, với số tiền rất là lớn. Theo quyết định 167 của Chính phủ thì dự án này từ đây đến năm 2025 sẽ cần huy động vốn đầu tư là 190 nghìn cho đến 250 nghìn tỉ đồng Việt Nam. Và có hàng loạt cụm mỏ, cụm nhà máy. Riêng Đak nông là có đến 4 nhà máy Alumin đánh số từ 1 cho đến 4, các nhà máy này trải dài ra ở tất cả 4 tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai, Đắc Nông và Bình Phước.
Thêm vào đó thì có rất nhiều công trình phụ trợ. Chúng ta phải xây dựng một đường xe lửa dài vào khoảng 300 km- 270 km, với độ chênh của các điểm là đến 700m, với địa hình hết sức phức tạp, quanh co. Tính ra là phải tiêu tốn 3,1 tỷ đô la Mỹ.
Tôi cũng không biết là cái đường xe lửa như thế thì xe lửa sẽ đi như thế nào. Nếu ô tô còn có thể đi được, còn xe lửa thì không biết đi thế nào. Và nếu được mời đi trên đường xe lửa chênh vênh như thế thì tôi cũng không biết mình có đủ dũng cảm để đi không. Nhưng mà tiền thì rất là tốn. Đồng thời chúng ta phải làm cái cảng ở Hòn Kê Gà hoặc là Hòn Gió.
Thế thì tất cả tiền này tính vào đâu?
Nếu như tiền này mà tính vào sản phẩm Alumin thì giá rất cao, và như thế hoàn toàn không lãi. Còn nếu như không tính vào sản phẩm Alumin mà coi là công trình dân dụng thì có thể nói: vô hình trung chúng ta đã lấy tiền thuế của dân để làm lợi cho doanh nghiệp. Chỗ này chúng tôi cho là phải hết sức là tính toán.
Hiệu quả rất là thấp, giá Alumin chỉ bằng 12% của giá nhôm thành phẩm thôi. Chúng tôi cũng xin lưu ý là Đại hội ( Đảng) X cũng xác định: hạn chế xuất khẩu khoáng sản thô, mà Alumin là khoáng sản thô. Giá Alumin và nhôm đang xuống rất là thấp, các đồng chí cũng biết cả rồi, chúng tôi xin không nói nhiều.
Tại sao chúng ta lại phải đi vay vài đến trăm triệu đô la để làm những cái nhà máy như ở Tân Rai hay Nhân Cơ trong khi mà nền kinh tế của chúng ta đang gặp rất nhiều khó khăn mà lãi thì chưa nhìn thấy đâu?
Ngay đồng chí chủ tịch hội đông quản trị TKV cũng nói là năm mươi ăn, năm mươi thua. Nếu mình bỏ tiền túi mình ra, có bao giờ mình kinh doanh theo cái kiểu :chưa nhìn thấy lãi mà đã kinh doanh không?Cho nên chúng tôi xin đề nghị hết sức cân nhắc chuyện này.
Về môi trường, chúng tôi xin nói vắn tắt bởi vì chỉ còn hơn hai phút.
Thứ nhất là về nước. Trong báo cáo chính phủ cũng nói sẽ xây các hồ chứa nước ở Tây Nguyên, đằng nào nó cũng chảy xuống Đồng Nai rồi chảy ra biển. Xin báo cáo các đồng chí là đồng bằng Nam Bộ đang khát nước. Và ta chúng ta cũng biết tin mới nhất về lượng nước sông Mê Kông đang giảm xuống. Nếu bây giờ trên ấy ( trên Tây Nguyên) xây các hồ, đập như thế thì liệu có ảnh hưởng đến đồng bằng Nam Bộ không?
Vấn đề thứ hai là bùn đỏ. Xin báo các đồng chí: với lượng Alumin chúng ta sản xuất ra thì từ 2015 mỗi năm nó thải ra 10 triệu tấn bùn đỏ, hết đời dự án này sẽ thải ra 1,5 tỉ tấn. Và đấy là những quả bom bùn … những quả bom bùn…treo trên cao- trên đồng bằng Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Chỗ này phải tính.
Vấn đề thứ 3 là hiệu quả đối với kinh tế, đối với xã hội thì chúng tôi xin nói: Trong thời gian qua trong 300 công nhân được đưa đi đào tạo chỉ có 2 người là người của địa phương thôi. Sáng nay tôi rất phấn khởi nghe một đại biểu quốc hội ( ở một) tỉnh Tây Nguyên nói là dự án sẽ nộp 500 tỉ vào cho địa phương và 1000 công nhân sẽ được đi đào tạo. Chúng tôi xin đề nghị Quốc hội ghi nhận lại tất cả những con số đó, vài năm nữa chúng ta kiểm tra lại xem các con số đó có đúng hay không.
Về an ninh quốc phòng. Chúng tôi xin nói như thế này: Rất may là có điều chỉnh kịp thời của Bộ chính trị, cho nên sự việc nó hơi khác. Nếu đọc lại quyết định 167 thì chúng tôi thấy là chúng ta chưa lường trước được tình hình. Trong quyết định 167 cho phép đầu tư vốn nước ngoài đến 100%. Chỗ này chúng tôi cho rằng chính phủ có phần chủ quan.
Bây giờ xử lý như thế nào? Tôi xin đề nghị phải coi đây là công trình quan trọng quốc gia. Bởi vì nó tiêu một số tiền… cả cái cụm ấy nó tiêu một số tiền gấp 10 lần tiêu chí tiền cho một công trình quan trọng quốc gia.
Chúng tôi đề nghị phải đưa vào công trình quan trọng quốc gia, Quốc hội thẩm tra và cuối năm nay chúng ta sẽ xem xét quyết định.
Nếu chúng ta không tính cả cụm dự án mà làm như Khí điện trạm Cà Mau, cứ tách từng dự án ra để nói rằng nó chưa đến số tiền quốc hội yêu cầu đưa vào công trình trọng điểm quốc gia, chúng tôi cho như thế là lách luật.
Bình luận của Hanoian:
Rất tiếc số lượng đại biểu có trình độ, có tâm huyết và công tâm như ông Lê Minh Thuyết không nhiều, thậm chí có thể nói chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đa phần đại biểu quốc hội vẫn là quan chức chính phủ, hoặc thiếu trình độ, vào quốc hội cho đủ cơ cấu mà thôi. Nếu dự án này có được đưa ra quốc hội thì cũng thông qua cái rụp thôi. Khi nào Việt Nam thực sự tam quyền phân lập, bầu cử thực sự dân chủ thì mới hy vọng có một quốc hội do dân và vì dân

Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ (đứng giữa hàng đầu) và thuỷ thủ tàu HQ-505, đoàn tàu đã chứng kiến vụ thảm sát Trường Sa 3/1988, hình chụp tháng 5/1988 - Ảnh của Nguyễn Viết Thái
Nghị định mới thay thế Nghị định 88/2003/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức hoạt động và quản lý hội đang được Bộ Nội vụ lấy ý kiến để trình Chính phủ ban hành. Pháp Luật TP.HCM trò chuyện với TS Hoàng Ngọc Giao về vấn đề này.
| Nhà nước cần tập trung làm tốt hơn những việc lớn như dầu khí, điện, đường..., còn những lĩnh vực khác sẽ do các tổ chức xã hội đảm nhận.Ảnh: HTD |
Xã hội dân sự mạnh thì nhà nước mạnh
* Thưa ông, việc lập hội là quyền hiến định rất rõ ràng. QH khóa I cũng đã ban hành luật (20-5-1957, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh ban hành Luật Quy định quyền lập hội với 12 điều). Tại sao sau hơn 20 năm đổi mới, chúng ta vẫn cứ loay hoay với dự định về một đạo luật về hội?
Cuộc đổi mới với sự ra đời của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là sự trỗi dậy của khu vực tư nhân làm xã hội biến đổi sâu sắc với nhiều thực thể xã hội mới ra đời. Dự định làm một đạo luật mới về hội đã được đặt ra từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước nhưng đến nay Quốc hội vẫn chưa thông qua được. Theo quan điểm của tôi thì trước hết nó nằm ở quyết tâm chính trị và nhận thức về vai trò của xã hội dân sự.
Đáng tiếc là không phải ai cũng nhận thức được rằng sự phát triển của xã hội dân sự rất tốt, nó bổ sung cho những việc, những khu vực mà nhà nước không làm được. Ví dụ từ kinh tế, thời bao cấp nhà nước làm hết, cho đến từng cái tăm cũng phân phối. Nhưng khi kinh tế thị trường mở ra thì những việc nhỏ, những nhu cầu hàng hóa như vậy, cá thể kinh doanh người ta làm tốt hơn nhà nước rất nhiều, để nhà nước tập trung làm tốt hơn những việc lớn như dầu khí, điện, đường... Trong xã hội cũng vậy, nhiều lĩnh vực nhà nước không bao hết được, nhất là các dịch vụ công, vậy thì nên chia sẻ với các tổ chức xã hội.
* Phải chăng có sự lo lắng rằng các tổ chức xã hội lớn lên, mạnh lên thì nhà nước nhỏ đi, yếu đi?
- Theo tôi, cách tiếp cận đó không đi vào bản chất của vấn đề. Trong một xã hội phát triển thì nhà nước và xã hội dân sự phải là hai thiết chế đồng hành, bổ sung và kiềm chế lẫn nhau. Xã hội dân sự còn có chức năng phản biện chính sách, giám sát công việc của nhà nước giúp nó minh bạch và hiệu quả. Đồng thời nó tác động vào khu vực tư nhân, làm cho khu vực này phát triển hài hòa trên cơ sở định ra các quy chuẩn, chuẩn mực nghề nghiệp, đạo đức. Sự tương tác hài hòa giữa ba trụ cột: nhà nước - xã hội dân sự - khu vực tư nhân sẽ giúp xã hội phát triển bền vững.
Nhìn vào các nước phát triển như Tây Âu, ta thấy xã hội dân sự phát triển rất mạnh, nhà nước cũng dựa vào đó để thực hiện chính sách của mình và nhà nước cũng vẫn rất mạnh. Doanh nghiệp ở đó cũng phải vận hành trên cơ sở quy chuẩn, đạo đức chung của xã hội, họ không thể chỉ vì đồng tiền mà bỏ qua điều đó.
Dự thảo mới khá cởi mở
* Dự thảo nghị định mới nhất đem lại tín hiệu nào đáng mừng hơn so với Nghị định 2003, thưa ông?
- Dự thảo đã phản ánh được một số nhu cầu mới của giai đoạn tiếp theo của quá trình mở cửa. Ví dụ như quy định các bộ, ngành phải ban hành cơ chế chuyển giao dần những việc không thuộc chức năng quản lý nhà nước, đặc biệt là các dịch vụ công cho các tổ chức xã hội. Nghị định đã trao cho các hội quyền tư vấn, nghiên cứu, giám định, phản biện. Thứ hai là quyền cấp các chứng chỉ dịch vụ công. Chẳng hạn như việc kiểm định ôtô, xe máy chẳng hạn thì cần gì cơ quan nhà nước làm.
TS Hoàng Ngọc Giao, giảng viên khoa Luật Trường đại học Quốc gia Hà Nội, học giả Fulbright, Trường Luật ĐHTH Boston (Hoa Kỳ). Ông Giao cũng đồng thời là chủ tịch Hội đồng tư vấn khoa học và chính sách Viện Nghiên cứu chính sách, pháp luật và phát triển, Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.
Điểm đáng hoan nghênh nữa là dự thảo trao quyền cho UBND huyện trong việc giải quyết đề nghị thành lập hội, sát nhập, giải thể, chia tách cho các hội hoạt động trong phạm vi xã.
| Nhà nước làm ra pháp luật, đặt ra những điều cấm, quy định điều kiện để lập hội, khi đó người ta đi đăng ký với nhà nước, nếu đủ điều kiện thì nhà nước công nhận, không đủ điều kiện thì thôi, chứ đâu phải chuyện xin hay cho. |
Nhưng đừng buộc xin-cho
* Nhưng dự thảo nghị định có nhiều nội dung chưa nhận được sự đồng tình, chẳng hạn như trao cho bộ trưởng Bộ Nội vụ quyền quy định cụ thể điều kiện trở thành hội; Điều 7 quy định hồ sơ thành lập hội phải có đơn xin phép..., ông thấy thế nào?
- Nghị định 88 từng trao quyền lập quy này cho Bộ Nội vụ, sau đó bộ này ra thông tư quy định rất khắt khe, thiếu thực tế, ví dụ như phải có đủ bao nhiêu hội viên thì mới lập được hội. Ở một địa phương họ phản ánh rằng chỉ có 19 người mù và không thể tìm đâu thêm một người nữa để có thể lập hội. Hoặc ở một tỉnh có 10 ông chuyên gia khảo cổ rất giỏi nhưng họ cũng không lập được hội vì thiếu người... Quốc hội ta cũng đang cố gắng hạn chế tối đa quy định ủy quyền lập quy trong luật. Tôi cho rằng nghị định có thể quy định rõ điều kiện để lập hội chứ không cần phải ủy quyền cho ông bộ trưởng làm việc này.
| Có hiệp hội, chuẩn mực nghề nghiệp và hàng hóa sẽ tốt hơn. Ảnh minh họa: HTD |
Cần nhận thức: Đây là quyền hiến định
Bất cập của dự thảo còn nằm ở quy định ban vận động thành lập hội phải do bộ, ngành quản lý công nhận. Tại sao thế? Tôi đang đi vận động thì công nhận làm gì? Hơn nữa, nếu quy định phải có quyết định công nhận của bộ, ngành thuộc lĩnh vực đó thì những hội hoạt động đa lĩnh vực thì sao? Chẳng hạn hội chăm sóc sức khỏe những người bị HIV thì xin Bộ Y tế hay Bộ LĐ-TB&XH; hoặc là hội bảo vệ động vật hoang dã thì xin Bộ NN&PTNT hay Bộ Tài nguyên và Môi trường?
Một điều nữa là nhận thức, nó chỉ liên quan đến hai từ thôi: “Xin phép”! Doanh nghiệp thì chỉ cần đăng ký, nếu đủ điều kiện thì nhà nước công nhận, cấp giấy phép cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thì tại sao tổ chức xã hội muốn hoạt động lại phải đi xin phép? Hiến pháp ghi đây là một quyền rồi, mà đã là quyền hiến định thì nó là quyền tự nhiên chứ! Nhà nước làm ra pháp luật, đặt ra những điều cấm, quy định điều kiện để lập hội, khi đó người ta đi đăng ký với nhà nước, nếu đủ điều kiện thì nhà nước công nhận, không đủ điều kiện thì thôi, chứ đâu phải chuyện xin hay cho.
* Xin cảm ơn ông.
| Tư tưởng Hồ Chí Minh về lập hội có từ thực tiễn “Là một người nghiên cứu rất kỹ tổ chức xã hội ở những nước phát triển, nhất là ở châu Âu, Hồ Chí Minh nhìn thấy rõ trong cấu trúc xã hội không thể thiếu được các tổ chức xã hội, cái mà chúng ta gọi là xã hội dân sự. Tư tưởng đó đã thể hiện rõ ở Hiến pháp 1946 và Sắc luật 1957. Chúng ta thấy rằng sau khi thành lập Đảng, nhất là từ khi trở về nước, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề này, vì vậy Người đã cho vận động thành lập ngay Việt Nam độc lập đồng minh hội (sau này là Mặt trận Việt Minh). Cùng thời điểm đó, ở các thành thị cũng ra đời rất nhiều tổ chức, phường hội hoạt động hợp pháp mà thực chất là những phường, hội yêu nước. Đó là những lực lượng chủ đạo làm nên sự thành công của Cách mạng Tháng Tám. Không có những Hội Cứu tế đỏ, Phong trào bình dân học vụ thì cũng không thể nhanh chóng giải quyết được “giặc đói” và “giặc dốt” sau cách mạng... Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ thực tiễn cách mạng và nguyên lý về sự phát triển của xã hội dân chủ, pháp quyền chứ không chỉ thuần túy về mặt pháp luật.” |