chúng ta đang cố gắng đưa thông tin trung thực đa chiều cho đồng bào tại quê nhà
Theo bài tường thuật trên mạng BBC về Việt Nam vào ngày đầu năm Dương lịch, thì trong thông điệp đầu năm, thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng đã cảnh báo với dân chúng là năm 2009 sẽ là, nguyên văn “một năm nhiều khó khăn và thách thức”. Trong môt đoạn đã được giới thiệu là bài viết mới của ông Dũng, đã có những câu được trích dẫn như sau: “...tình hình kinh tế thế giới và trong nước biến động rất phức tạp, khó lường, thậm chí vận động theo những xu hướng trái chiều”, “... những yếu kém trong cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư tích tụ từ nhiều năm chậm được khắc phục”, “vào quý 1 năm 2008, kinh tế vĩ mô bị đe dọa nghiêm trọng...chúng ta đã nghiêm túc kiểm điểm và quyết định điều chỉnh mục tiêu điều hành kinh tế xã hội” ,
Thật sự mà nói, không cần phải đợi đến cuối năm hay đầu năm người ta mới đọc hay nghe được những lời loay hoay bào chữa cho những yếu kém cố hữu của guồng máy cai trị VN , lúc nào cũng tại với bị. Các lý do đều là nguyên nhân bên ngoài tác động vào, còn bên trong thì là những vấn đề tồn đọng, hay tích tụ từ nhiều năm xa xưa...
Có thật NTD và chế độ VN đã nhận định kinh tế vĩ mô bị đe doạ trầm trọng trong quý 1 năm 2008 như đã nói hay không?
Chúng ta hãy đọc lại NTD trả lời trong cuộc phỏng vấn với tờ Financial Times khi NTD trên đường chuẩn bị đi Ấu châu vào đầu tháng 3 năm 2008, khi được hỏi rằng (mở ngoặc trích) chúng tôi thấy ông rất tự tin vào tình trạng tổng quát của nền kinh tế quốc gia, ngay cả trong lúc kinh tế Hoa kỳ đi xuống. Ông có nghĩ rằng ông có khả năng đạt được cả hai mục đích phát triển ở mức cao (như ông đã nói) và cùng lúc kiểm soát được sự lạm phát hay không? ngưng trích
NTD đã trả lời rằng mở ngoặc“chúng tôi muốn giữ mức phát triển kinh tế từ 8% đến 9% bằng cách gia tăng và phát triển đa dạng thị trường xuất cảng ngoài chuyện khuyến khích đầu tư nội địa” ngưng trích.
Người ta không biết rằng NTD muốn nói cứng trước khi sang Anh để chiêu dụ đầu tư và viện trợ hay chỉ là bản chất quen tuyên truyền của ông. Nhưng ngày nay trong bản gọi là nhận định cuối năm của NTD, thì dân VN đã thấy thêm một thí dụ nữa về bản tính nói dối của ông, tức là vào đầu tháng 3 năm 2008, thời điểm kinh tế Hoa kỳ và toàn cầu đang đi xuống. NTD và nhà nước ăn hại của ông đã không ý thức được tầm ảnh hưởng quan trọng của sự suy thoái kinh tế toàn cầu. NTD vẫn còn dám nói cứng với các phóng viên nhà nghề của tờ Thời báo Tài chánh (Financial Time) có uy tín tại Anh.
Như thế bài nhận định đầu năm của NTD cũng chỉ có hai ý nghĩa. Một là những lời che đậy khả năng dự đoán tình hình kinh tế của nhà nước VN, nói cách khác là Dũng đã không dám tự nhận mình và nội các của ông đã không đủ năng lực lèo lái con tàu VN trong cơn lốc kinh tế toàn cầu - môt điều khá hiển nhiên mà ai cũng thấy. Hai là Dũng nói lấy được. Và sự nói lấy được này có thể thấy trong biện pháp mà Dũng đưa ra để giải quyết khó khăn kinh tế tài chính. NTD nói (mở ngoặc trích)“chính phủ chủ trương phát hành thêm trái phiếu nhằm huy động nhiều hơn các nguồn lực trong dân để tạo thêm vốn cho đầu tư phát triển”! (ngưng trích)
Nhưng đại đa số dân Việt nam kiếm không đủ ăn lấy tiền đâu để mua trái phiếu? NTD cho biết rằng đã khuyến cáo giới thương buôn và dân chúng là cần phải mở rộng thị trường nội địa và tăng cường tiêu dùng hàng nội địa để làm điểm tựa cạnh tranh với doanh nghiêp nước ngoài! Nhưng lại cũng là cách nói lấy có xưa cũ, nghĩa là nói để không làm, vì không làm được. Dân VN đã từng thấy tất cả những gì xuất cảng được thì giới chức đảng và nhà nước đã dành nhau xuất cảng, hàng hóa nội địa không được nâng đỡ, đã bị hàng hóa nhập lậu từ Trung Quốc Thái Lan lấn áp, kể cả các mặt hàng thiết yếu như gạo, phân bón, dược phẩm. Thế thì trong thời buổi kinh tế khó khăn này, liêu thị trường sản xuất nội địa có điều kiện tiếp tục cầm cự sản xuất để đáp ứng nhu cầu của nhà nước VN ? Nhiều phần là không. Cho nên nếu cần thì đè dân móc hầu bao bằng những biện pháp trấn lột là ngón nghề quen thuộc từ hơn nửa thế kỷ nay. Để sửa soạn cho trò này, Dũng không quên nhẹ nhàng đe dọa rằng nhà nước sẽ tiếp tục nắm chặt sự kiểm soát thông tin.
Tóm lại, tuy là năm mới, 2009, chế độ vẫn không thể nào bỏ được những thói tật cố hữu, độc tài và vô tài. Biết thế để chúng ta không nên mong chờ những gì mà các nhà chính trị thời cơ hay VN đang ngầm cổ võ hay tự đánh bóng cho chế độ.
(Đã hiệu đính )
Không phải tự nhiên mà ông Thủ Tướng CSVN tiên đoán rằng năm 2009 sẽ là năm nhiều gay go, khó khăn để rồi ra chỉ thị cho ngành công an là phải cấm ngặt biểu tình, một hiện tượng đã xảy ra trong các năm gần đây do công nhân đình công, dân oan khiếu kiện đòi đất và mới năm nay là giaó dân Công Giaó đòi đất. Tình hình kinh tế suy sụp hơn, tất nhiên các căng thẳng sẽ dễ dàng bùng nổ hơn. |
| TRẦN KHẢI |
Tiểu luận của Đào Hiếu
Viết riêng cho BBC từ TP.HCM
Có vẻ như “Đất nước” và “Nhân dân” là hai phạm trù rất gần gũi, rất thân thiết, có quan hệ máu thịt với nhau, thậm chí không thể tách rời nhau.
Từ hàng ngàn năm rồi, nhiều người đã hiểu như vậy, đã cảm nhận như vậy.
Tôi sẽ không viết được những dòng chữ có vẻ nghịch lý sau đây nếu không sống dưới chế độ “cộng sản”.
Sự kỳ quái của chế độ đó đã đánh thức mọi phản kháng trong tư duy, làm chúng ta vỡ mộng và vỡ luôn những nếp nghĩ khác.
Và một trong những phát hiện bàng hoàng nhất là: Đất nước và Nhân dân là hai thực thể có khả năng trở thành thù địch.
1
Từ thuở bé, con người đã gắn liền với đất nước mình qua lũy tre làng, dòng sông, bến đò, những bờ biển thơ mộng, những núi non hùng vĩ, những danh lam thắng cảnh…tất cả, góp phần tạo ra tâm hồn, tính cách và tình yêu của mỗi người, từ đó hình thành những mối dây ràng buộc, nhờ thế mà khi có ngoại xâm thì cả dân tộc cùng đứng lên, đồng lòng đánh đuổi chúng, giành lại từng tấc đất, từng ngọn rau…
Đó là những điều có thật. Đã từng xảy ra. Những tấm lòng yêu nước, những hy sinh vì tổ quốc, những anh hùng dân tộc… tất cả đều có thật.
Duy chỉ một điều nghịch lý, đó là: trong lịch sử nhân loại CHƯA BAO GIỜ ĐẤT NƯỚC LÀ CỦA NHÂN DÂN.
Ngày xưa, khi vua Vũ diệt được Trụ, dựng nên nhà Chu, thiên hạ ai cũng tôn phù. Chỉ có Bá Di, Thúc Tề chê là bất nghĩa, không thèm ăn thóc nhà Chu, cùng nhau lên núi Thú Dương, hái rau độ nhật.
Sau, có người đến bảo: “Nhà Chu đã trị thiên hạ, thì nơi nào lại chẳng phải của nhà Chu, ăn rau núi này chẳng phải ăn rau nhà Chu ư?”
Hai ông nghe nói, bèn nhịn đói cho đến chết.
Rõ ràng thời ấy người ta quan niệm sông núi, kể cả rau rừng đều “của nhà Chu” nào phải của nhân dân. Ngay cả hạt thóc là do mồ hôi nước mắt của nông dân làm nên mà cũng được gọi là “thóc nhà Chu” thì nhân dân còn lại gì?
Trong bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”, Lý Thường Kiệt cũng xem đất nước Việt Nam là của vua chúa nhà Lý khi ông viết: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” thì thật sự cũng đã “xí phần” cho triều đình hết rồi, còn gì cho đám dân đen nữa?!
Thời phong kiến, đất nước là của nhà vua nên mới có cha truyền con nối, nên trung quân và ái quốc mới gộp làm một.
2
Ngày nay người ta nói nhiều đến dân chủ.
Có vẻ như đất nước không còn là của “nhà Chu” nữa, có vẻ như “Nam quốc sơn hà” không còn của “Nam đế” nữa.
Vậy chắc là của nhân dân rồi!
Thử xem có phải vậy không?
Nếu cái đất nước giàu tài nguyên này, cái quê hương “rừng vàng biển bạc” này là của nhân dân, sao nhân dân nghèo khổ đến vậy?
Sao những chàng trai nông thôn chân lấm tay bùn vẫn ở nhà tranh vách đất?
Sao những cô gái quê phải lên thành phố bán thân?
Sao bác phu xích lô vẫn còng lưng đạp mỗi ngày, sao lớp trẻ con nhà lao động phải nhễ nhại mồ hôi trong các khu chế xuất, các mỏ than, các nhà máy chế biến hải sản, lâm sản, nông sản…chỉ để kiếm chưa đến một trăm đô la mỗi tháng?
Sao nhân dân lao động vẫn phải chui rúc trong những căn nhà tồi tàn chật hẹp?
Nếu rừng là vàng, biển là bạc thì vàng ở đâu, bạc đi đâu, mà mỗi lần làm đường, xây cầu lại phải vay vốn ODA, vay vốn Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ Thế giới… để xảy ra những vụ tham nhũng nhục nhã như PMU18, như vụ cầu Văn Thánh, như vụ PCI Nhật Bản…và hàng ngàn vụ khác?
Nếu đất nước này là của nhân dân thì sao dầu mỏ khai thác nhiều như vậy mà dân không giàu? mà Đảng lại giàu?
Nếu đất nước là của nhân dân sao lại chỉ có một nhúm các tập đoàn tài phiệt phất lên nhờ kinh doanh rừng, biển, đất đai và lúa gạo… trong khi nhân dân thì bị cướp đất, rừng thì bị phá, thóc lúa thì bị thương lái ép giá, đẩy nông dân vào kiếp sống bần cùng?
3
Có quá nhiều bằng chứng để nói rằng trong lịch sử chưa bao giờ đất nước là của nhân dân.
Đất nước chỉ là của nhân dân trong các học thuyết, trong văn thơ, trong âm nhạc.
Đất nước chỉ là của nhân dân trong hoài niệm tuổi thơ, trong tâm tình chôn nhau cắt rún.
Trên thực tế đất nước bao giờ cũng là tài sản riêng của giai cấp cầm quyền.
Ngày xưa thì đất nước là của vua chúa, ngày nay đất nước là của các chính quyền.
Còn nhân dân?
Ngoại trừ số ít giàu có ở các đô thị lớn, đại đa số nhân dân lao động, công nhân, nông dân, công chức, tư chức ăn lương…chỉ có được một căn nhà nhỏ, một mái tranh nghèo, một cái ổ chuột tối tăm trong xóm lao động hay dưới gầm cầu.
Những nhà hàng, những khách sạn sang trọng, những vũ trường xa hoa, những cửa hàng lộng lẫy kia không phải của nhân dân.
Những khu đô thị mới, những resorts, những sân golf, những câu lạc bộ quần vợt, những cuộc thi hoa hậu liên miên kia… không bao giờ là của nhân dân.
Những mỏ bô-xit, mỏ than, mỏ dầu trị giá hàng ngàn tỉ đô la kia, những lâm sản, hải sản vô tận kia…chưa bao giờ là của nhân dân.
Nhân dân chỉ có cái tổ chim bé nhỏ của mình, nhân dân chỉ có vại cà, con mắm, củ khoai, rẫy bắp, chiếc xích lô đạp, chiếc xe máy để chạy xe ôm, để đi làm mỗi ngày.
Nhân dân không biết nghe nhạc giao hưởng, không biết hát Opera, nhân dân chỉ biết rao: “Cháo huyết đây!” Bánh mì nóng giòn đây!” Báo mới đây!” “Mài dao mài kéo đây!”…
Nhân dân không có vé vào xem thi hoa hậu hoàn vũ hay xem trình diễn thời trang, nhân dân chỉ có năm ngàn đồng đủ trả một cuốc xe ra đứng đầu đường Huyền Trân Công Chúa và gọi: “Đi chơi không anh?”.
Nhân dân không có ai bảo vệ, chỉ biết chạy trối chết khi bị công an đem xe tới xúc về đồn để “làm sạch thành phố.”
Trong thời chiến, bao giờ nhân dân cũng bị xem như một thứ “tài nguyên”, một “nguồn cơ bắp dồi dào” sẵng sàng cung cấp cho chiến trường để giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh mang danh nghĩa “giải phóng” “chống ngoại xâm” “thánh chiến” “vệ quốc”…
Tội nghiệp cho hàng trăm thế hệ những người lính đã ngã xuống trong các cuộc “chiến tranh thần thánh” ấy để rồi cuối cùng đất nước lại lọt vào tay một nhúm “đồng hương” chuyên nghề vơ vét.
Đất nước đã bị cưỡng đoạt.
Giờ đây, đối với nhân dân Việt Nam, nếu đất nước có còn được chút ý nghĩa, chính là vì nó đang ôm giữ trong lòng nó xương cốt của những người thân đã chết vì một lý tưởng hoang đường và một ước mơ không bao giờ có thật.
4
Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa, rồi Trường Sa.
Vài trăm người biểu tình bị đàn áp, bị bắt, bị đe dọa.
Nhiều người hỏi tôi: “Sao không thấy ông viết về Hoàng Sa, Trường Sa mà chỉ viết về nhân quyền, về dân chủ?”
Chẳng lẽ tôi lại phải trả lời như thế này:
“Vì hai hòn đảo ấy đã lọt vào tay bọn Tàu rồi. Ai đòi lại được? Mà nếu như có đòi được thì cái lãnh thổ giàu tài nguyên ấy cũng đâu phải của nhân dân. Hai hòn đảo ấy cũng sẽ là tài sản của những kẻ cầm quyền và bọn tài phiệt, cũng sẽ bị chúng chia chác nhau mà ăn thôi.”
Về tác giả: Nhà văn Đào Hiếu, sinh năm 1946 ở tỉnh Bình Định, gia nhập Đảng Cộng sản năm 1968. Tham gia phong trào sinh viên miền Nam chống Mỹ, sau năm 1975 ông làm việc tại báo Tuổi Trẻ và NXB Trẻ TP. HCM. Năm 2008, ông công bố trên mạng hồi ký Lạc Đường, gây nhiều tranh luận.